Các phẩm chất lãnh đạo Cơ Đốc, như được chỉ ra trong 1 Ti-mô-thê 3:1-15 và Tít 1:5-9, phải là cốt lõi để tiếp cận vai trò lãnh đạo.
10 đặc điểm của phẩm chất lãnh đạo Cơ Đốc
1. Nhận ra giá trị nơi những người khác
Những lãnh đạo giỏi xem vai trò của họ phần lớn là phát triển những lãnh đạo khác. Các phẩm chất lãnh đạo Cơ Đốc và sự phát triển của chúng diễn ra trong một tổ chức khi những lãnh đạo giỏi bắt đầu chia sẻ kinh nghiệm của họ, cả tốt lẫn xấu, với những người khác.
2. Chia sẻ thông tin với những người trong tổ chức
Một số lãnh đạo có xu hướng giữ lại thông tin vì thông tin là sức mạnh, nhưng một lãnh đạo giỏi biết rằng đội ngũ càng có nhiều thông tin thì đội ngũ càng tốt hơn, điều này mang lại lợi ích trực tiếp cho người lãnh đạo.
3. Có tính cách vượt trội
Không có người nào hoàn hảo, nhưng để một người lãnh đạo được coi là tốt, họ phải có một tính cách không thể bàn cãi trong tổ chức. Lãnh đạo luôn bị chỉ trích từ một ai đó, vì vậy một lãnh đạo có thể không khiến tất cả mọi người tin tưởng vào mình, nhưng những người hiểu người lãnh đạo đó nhất nên tin tưởng vào tính cách của người lãnh đạo.
Chung thủy với vợ mình: Trọng tâm không phải là người lãnh đạo đó đã kết hôn hay còn độc thân mà là mối quan hệ của họ với người khác giới có không chỗ trách được hay không. Lãnh đạo Cơ đốc đòi hỏi tiêu chuẩn cao. Không một Cơ đốc nhân nào muốn bước vào vị trí lãnh đạo được dung túng thái độ theo thế gian chứ không phải theo Kinh thánh trong khía cạnh tình dục và các mối quan hệ tình dục.
4. Sử dụng tầm ảnh hưởng của mình vì lợi ích của người khác
Những lãnh đạo giỏi quan tâm đến việc tạo ra khác biệt tích cực trong cuộc sống của mọi người cũng như tạo ra tỉ suất lợi nhuận lành mạnh. Điều này không có nghĩa là bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập không quan trọng. Trên thực tế, chúng rất quan trọng đối với sự thành công của một tổ chức (kể cả các tổ chức phi lợi nhuận), nhưng một lãnh đạo giỏi không tách biệt mong muốn giúp đỡ người khác khỏi mong muốn thành công về mặt tài chính. Các lãnh đạo giỏi tìm cách tận dụng sức khỏe tài chính để củng cố phúc lợi của những người khác.
5. Khéo léo và có năng lực
Những lãnh đạo giỏi có thể đáng tin vì họ chuyên nghiệp và chịu đi tới cùng. Bạn không đặt câu hỏi liệu một lãnh đạo giỏi có thể hoàn thành nhiệm vụ hay không. Nếu không biết cách làm một việc gì đó thì họ sẽ tìm người biết, nhưng họ sẽ đảm bảo rằng công việc được hoàn thành theo cách tốt nhất có thể.
6. Không sợ người khác thành công (cả khi người khác thành công hơn họ)
Các lãnh đạo giỏi nhận ra rằng một số người theo mình sẽ tăng trưởng vượt quá khả năng phát triển của mình. Tuy nhiên, các lãnh đạo giỏi không bị đe dọa bởi thành công của những người khác. Họ sẵn sàng ăn mừng khi những người xung quanh mình thành công.
7. Phục vụ người khác mà không mong đợi bất cứ sự đền đáp nào
Các phẩm chất lãnh đạo Cơ Đốc có cả một tấm lòng phục vụ. Họ thực sự yêu thương, coi trọng mọi người và muốn giúp đỡ những người khác vì lợi ích của người được giúp đỡ, không nhất thiết là vì lợi ích cá nhân.
8. Tiếp tục học hỏi
Các lãnh đạo giỏi luôn học hỏi và áp dụng những điều mình học được vào việc cải thiện tổ chức. Có thể thông qua việc đọc sách, dự các hội nghị, học tập trên mạng hoặc qua các lãnh đạo khác, nhưng cũng qua những người cần báo cáo với mình.
Có khả năng dạy dỗ: Có mối liên hệ chặt chẽ giữa việc dạy dỗ và lãnh đạo (1 Ti-mô-thê 5:17 và 1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:12, trong đó việc dạy dỗ áp dụng với cá nhân và sửa trị cá nhân được đưa vào việc ‘khuyên bảo’). Các lãnh đạo Cơ Đốc phải đầu tư thời gian và năng lượng vào việc học để họ có thể dạy dỗ; học tập là hoạt động của tấm lòng cũng như của lý tr.
9. Luôn dễ gần, dễ tiếp cận và chịu trách nhiệm khai trình với những người khác
Những lãnh đạo giỏi không cô lập mình khỏi mọi người dù họ có bao nhiêu trách nhiệm hay quyền lực. Những lãnh đạo giỏi sẵn sàng tìm kiếm ý kiến đóng góp của những người khác về cuộc sống nghề nghiệp và cá nhân của mình.
Không chỗ trách được: Một người có đời sống mẫu mực thu hút mọi người đến với Chúa Giê-su. Đó chính là kiểu người được hội thánh thời đầu lựa chọn (Công vụ 6:3); những người được tiếng tốt cho nên họ cũng đáng tin cậy.
Có chừng mực: Đây không phải là vấn đề tiết độ hay ít nuông chiều bản thân mà là vấn đề có quan điểm rõ ràng. Đi trong Ánh sáng của Đức Chúa Trời thay vì bóng tối của con người mang lại một góc nhìn hoàn toàn khác về những vấn đề mà thế giới coi là tối quan trọng chẳng hạn; người lãnh đạo Cơ Đốc cần được dẫn dắt và chịu ảnh hưởng bởi những điều mà Đức Chúa Trời ưu tiên hàng đầu.
10. Có tầm nhìn xa: suy nghĩ cho tổ chức vượt trên hiện tại
Các lãnh đạo giỏi luôn suy nghĩ vượt trên hiện tại. “Tiếp theo là gì đây?” là một câu hỏi thường gặp của các lãnh đạo giỏi, biết rằng một người phải liên tục khuyến khích thay đổi, sự tăng trưởng và tư duy chiến lược để tổ chức duy trì được sự lành mạnh.
Bạn ngưỡng mộ nhất những phẩm chất lãnh đạo Cơ Đốc nào?
– Tác giả bài viết, Ron Edmondson là một mục sư và lãnh đạo hội thánh sốt sắng với việc mở mang hội thánh, phát triển các hội thánh đã có; đồng thời hỗ trợ các mục sư và những người phục vụ suy nghĩ thấu đáo về sự lãnh đạo, chiến lược và đời sống. Ron có hơn 20 năm kinh nghiệm trong chức vụ.
– Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc –
*Quan điểm của bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của
Nếu bạn khảo sát các cặp vợ chồng về mục tiêu quản lý tiền bạc của họ thì hầu hết các câu trả lời sẽ tập trung vào một dạng thành công nào đó về mặt tài chính. Hầu hết mọi người đều phấn đấu để tích lũy nhà đẹp hơn, xe sang hơn, nhiều đồ chơi hơn và tài khoản hưu trí lớn hơn. Nhưng khi nói đến giấc mơ thịnh vượng và an ninh về tài chính, chúng ta nên hỏi, “Đó là ước mơ của ai?” Đó có thể là ước mơ Mỹ — nhưng đó có phải là ước mơ của Chúa Giê-su phục sinh không? Và bởi lẽ điều gì tôn vinh Ngài cũng ích lợi cho chúng ta, liệu suy cho cùng, đó có phải là ước mơ vì lợi ích tốt nhất của gia đình chúng ta không?
Quá trình khám phá ý muốn phản văn hóa của Đức Chúa Trời về tiền bạc và của cải có thể vừa kích thích vừa giải phóng. Đối với Nanci, người vợ quá cố của tôi, và bản thân tôi tôi, sự tăng trưởng của chúng tôi trong việc quản lý tài chính song song với sự tăng trưởng về mặt thuộc linh. Thực ra là điều này đã thúc đẩy điều kia. Chúng tôi đã học biết đức tin, ân điển, sự cam kết, lòng rộng rãi và sự chu cấp của Chúa. Chúng tôi đã có những cuộc thảo luận đầy thách thức về việc dâng hiến/ban cho, cuối cùng chúng đã củng cố cuộc hôn nhân của chúng tôi và gắn kết chúng tôi quanh mục tiêu chung là đầu tư vào cõi đời đời.
Dùng từ makarios, có nghĩa là “làm cho hạnh phúc”, Chúa Giê-su đã nói, “Ban cho hạnh phúc hơn nhận lãnh” (Công vụ 20:35 Bản Good News). Nanci và tôi thấy rằng hạnh phúc, chứ không phải bổn phận, thấm nhuần thần học tôn vinh Chúa về tiền bạc. Khi các môn đồ thấm nhuần ân điển và hướng đến vương quốc dùng tiền bạc và tài sản của Đức Chúa Trời, chúng ta đang thực hiện điều răn lớn thứ nhất và thứ hai. Chúng ta tích trữ của cải trên trời và “nắm chắc sự sống thật” (1 Ti-mô-thê 6:19).
Các nguyên tắc sau đây có thể giúp bạn và người bạn đời phát triển lối sống quản lý tốt để mang lại ích lợi, từ nay cho đến đời đời.
1. Nhận ra những mối nguy của cuộc sống lấy của cải làm trung tâm.
Tuy tiền bạc vốn không có gì sai trái nhưng có điều gì đó vô cùng sai trái với việc hết lòng cho tiền bạc. “Những ai ham giàu có thì rơi vào sự cám dỗ, mắc vào cạm bẫy. . . . Vì lòng tham tiền bạc là cội rễ của mọi điều ác” (1 Ti-mô-thê 6:9–10).
Hiểu được những mối nguycủa chủ nghĩa vật chất có thể giải phóng chúng ta để kinh nghiệm niềm vui của sự quản trị lấy Chúa làm trung tâm. Chúa Giê-su nói về “sự quyến rũ của giàu sang” (Mác 4:19). Trước giả Thi thiên cảnh báo, “Nếu của cải thêm nhiều, chớ chú tâm vào đó.” (Thi thiên 62:10). Không ai có thể nói rằng mình đã được miễn nhiễm để không bị vật chất làm cho biến chất.
Vật chất đều có khối lượng, khối lượng sinh ra lực hấp dẫn và lực hấp dẫn giữ chúng ta trong quỹ đạo quanh những thứ chúng ta tích lũy được. Một người bạn kể với tôi rằng khi anh ấy và vợ mới cưới nhau, họ dành thời gian đi dạo, chơi trò chơi và đọc sách cùng nhau. Họ rất thỏa lòng. Sau đó, khi thu nhập của họ tăng lên, họ thấy mình bị mắc kẹt trong đám thứ tự ưu tiên đã thay đổi. Dần dần, tiền bạc và của cải được ưu tiên hơn Chúa, hội thánh và thì giờ ý nghĩa bên nhau.
Các nghiên cứu và bằng chứng giai thoại đã chỉ ra mối liên hệ giữa việc tăng thu nhập và không chung thủy trong hôn nhân. Tất nhiên, vấn đề không phải là thu nhập mà là lối sống mà nó bảo lãnh. Một Cơ Đốc nhân có thể kiếm được hàng chục tỉ đồng, ban cho cách rộng rãi, sống khiêm tốn và tránh được nhiều cám dỗ đồi bại. Quan trọng không phải là chúng ta kiếm được bao nhiêu, mà là chúng ta giữ lại bao nhiêu.
Làm sao để nhận ra là chúng ta đang rơi vào cái bẫy của chủ nghĩa duy vật? “Vì của cải các con ở đâu, thì lòng các con cũng ở đó.” (Ma-thi-ơ 6:21). Chúa Giê-su đang nói: “Hãy cho Ta xem sao kê ngân hàng, sao kê thẻ tín dụng và biên lai của các con, Ta sẽ chỉ cho các con biết lòng các con ở đâu”. Những gì chúng ta làm với tiền bạc của mình là một tuyên bố không thể chối cãi về các giá trị của chúng ta.
Đức Chúa Trời tuyên bố: “Mọi vật ở dưới trời đều thuộc về Ta.” (Gióp 41:11). Quyền sở hữu mọi thứ của Đức Chúa Trời nền tảng cho thần học Kinh thánh về tiền bạc và là thuốc giải cho chủ nghĩa duy vật. Nhận thức sâu sắc về thực tế rằng những gì chúng ta có là của Chúa chứ không phải của chúng ta, những người quản trị tiền bạc trung tín thường xuyên tham khảo ý kiến của Ngài để thực hiện các ưu tiên đầu tư theo Kinh thánh của Ngài.
2. Đặt việc dâng hiến/ban cho rộng rãi lên hàng đầu.
Tôi khuyến khích bạn cam kết dâng hiến thường xuyên cho hội thánh địa phương của bạn và hơn thế nữa, cho các hoạt động truyền giáo và các mục vụ khác. Bắt đầu bằng cách đặt ra một số tiền dâng— tôi khuyên không nên ít hơn 10 phần trăm — và tuân thủ theo số tiền đó để bạn tôn vinh Chúa bằng những hoa lợi đầu mùa của mình (Châm ngôn 3:9). Nếu bạn muốn Đức Chúa Trời ban phước cho tài chính của gia đình bạn thì đừng tự đặt mình vào sự rủa sả của thói bất tuân.
Như sấm theo sau tia chớp, sự ban cho theo sau ân điển (2 Cô-rinh-tô 8:1–2). Nếu ân điển của Chúa chạm đến bạn, bạn không thể không ban cho một cách rộng rãi! Sau đó, khi Chúa trao cho bạn nhiều hơn, hãy nhắc nhở bản thân lý do tại sao: “để làm mọi việc từ thiện” (2 Cô-rinh-tô 9:11). (Trái ngược với phúc âm sức khỏe và sự giàu có, Đức Chúa Trời ban phước cho chúng ta không phải để nâng cao mức sống của chúng ta, mà là để nâng cao mức dâng hiến/ban cho của chúng ta.)
Nếu bạn chưa có thói quen dâng hiến/ban cho thì việc bắt đầu có thể là một thách thức. Tuy nhiên, tôi hỏi mọi người: “Nếu bị cắt giảm 10 phần trăm lương thì bạn có chết không?” Tất nhiên là không! Đức Chúa Trời đủ vĩ đại để chăm sóc bạn nếu bạn bước ra trong đức tin và trả lại cho Ngài những gì thuộc về Ngài ngay từ ban đầu.
Còn nếu bạn và người bạn đời không cùng quan điểm về việc dâng hiến/ban cho thì sao? Qua nhiều năm, tôi đã học được rằng đôi khi Nanci vợ tôi không cảm động với mong muốn dâng hiến của tôi. Nhưng khi tôi học cách rộng lượng hơn với cô ấy (và các con gái chúng tôi), Nanci không còn cảm thấy việc dâng hiến vì cớ vương quốc là cạnh tranh với nhu cầu của gia đình chúng tôi nữa. Qua nhiều cuộc trò chuyện, cô ấy đã học được cách tìm thấy niềm vui ngày càng tăng khi dâng hiến/ban cho, và tôi đã học được cách tìm thấy niềm vui ngày càng tăng khi cùng nhau tăng trưởng và lãnh đạo — mà không thúc ép hay lôi kéo. Chúng tôi đã nắm tay nhau, dù đôi khi có người đi trước một bước. (Theo thời gian, người đi trước ngày càng nhiều hơn chính là cô ấy.)
Tất nhiên, Đức Chúa Trời muốn chúng ta làm nhiều điều tốt với tiền bạc mà không liên quan đến việc dâng hiến/ban cho. Ví dụ, chúng ta phải cung cấp cho các nhu cầu vật chất cơ bản của gia đình mình (1 Ti-mô-thê 5:8). Nhưng những điều tốt đẹp này chỉ là khởi đầu. Số tiền mà Chúa giao phó cho chúng ta là vốn đầu tư đời đời. Mỗi ngày là một cơ hội để mua thêm cổ phần trong vương quốc của Ngài!
3. Lập ngân sách để bạn có thể chi tiêu và tiết kiệm một cách khôn ngoan.
Vì hậu quả lâu dài sẽ rất nghiêm trọng khi một cặp vợ chồng bất đồng quan điểm về tiền bạc nên tôi không thể nào nhấn mạnh đủ tầm quan trọng của việc trao đổi về các vấn đề tài chính. Hãy bắt đầu bằng cách ghi chép cẩn thận các khoản chi tiêu để bạn có thể tìm ra tiền của mình hiện đang đi đâu. Sau đó, xác định xem nên chi tiêu vào đâu. Đây sẽ là cơ sở cho ngân sách của bạn. (Khi còn là mục sư, tôi đã gặp những gia đình tuân theo ngân sách và vẫn sống tốt với số thu nhập ít ỏi. Tôi đã gặp những người khác kiếm được nhiều hơn thế và thường xuyên gặp khủng hoảng tài chính.)
Đối với một số người, cách lập ngân sách thiết thực nhất là hệ thống phong bì. Khi trả lương, tiền mặt sẽ được chuyển vào các phong bì được chỉ định để dâng hiến, chi cho nhà ở, thực phẩm, xăng, tiện ích, giải trí, quần áo, tiết kiệm, v.v. Nếu không còn gì trong phong bì giải trí vào giữa tháng thì sẽ không xem phim hoặc ăn ngoài nữa. Nếu tiêu quá mức ở một lĩnh vực thì chúng ta phải tiêu ít hơn ở những lĩnh vực khác để bù lại. Hệ thống phong bì có vẻ lỗi thời, nhưng nó dạy chúng ta rằng nguồn lực là có hạn, đây là một bài học vô giá.
Sự cân bằng đúng đắn giữa số tiền chúng ta dâng hiến/ban cho, dùng cho nhu cầu và mong muốn, và tiết kiệm là gì? Tôi tin rằng sự căng thẳng phản ánh trong câu hỏi đó là lành mạnh. Chúng ta có thể cầu nguyện tìm kiếm sự hướng dẫn của Chúa, quyết tâm làm theo sự dẫn dắt của Ngài nhất có thể.
Chúa Giê-su phán với chúng ta: “Nhưng trước hết, hãy tìm kiếm vương quốc Đức Chúa Trời và sự công chính của Ngài, thì Ngài sẽ ban cho các con mọi điều ấy nữa [đồ bạn ăn, thức bạn uống và áo bạn mặc]” (Ma-thi-ơ 6:33). Không giống như những người ngoại “vẫn tìm kiếm” “tất cả những điều nầy” và “lo lắng về ngày mai”, những người tin Chúa có thể tin cậy Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 6:25–34). Nếu tin rằng Chúa có thể tạo dựng chúng ta, cứu chuộc chúng ta và đưa chúng ta vượt qua sự chết để sống đời đời với Ngài thì chúng ta có thể tin vào lời Chúa khi Ngài phán rằng Ngài sẽ chu cấp những nhu cầu vật chất cho chúng ta.
4. Tránh nợ nần, trừ những trường hợp hiếm hoi.
Lựa chọn sống trong cảnh nợ nần (trừ những khoản có thể quản lý được, chẳng hạn như khoản thanh toán thế chấp nằm trong khả năng của bạn) cuối cùng sẽ làm tê liệt linh hồn và hôn nhân. Sống vượt quá thu nhập của bạn luôn là điều không khôn ngoan. Điều đó chắc chắn sẽ gây ra xung đột trong cuộc hôn nhân của bạn.
Tin tưởng có nghĩa là tin rằng Chúa sẽ chăm lo cho nhu cầu của chúng ta. Tuy nhiên, khi chúng ta mắc nợ, chúng ta thường làm như vậy để có được những thứ chúng ta muốn, chứ không phải những thứ chúng ta cần. Vì vậy, Kinh thánh cảnh báo chúng ta về nợ nần.
Phần đầu của Rô-ma 13:8 có chép: “Đừng mắc nợ ai điều gì.” Điều này có vẻ như cấm nợ nần. Tuy nhiên, không phải tất cả các khoản nợ đều giống nhau. Tôi cảm thông với những người ở trong hoàn cảnh mà sau khi cầu nguyện và đánh giá, nợ nần dường như là giải pháp duy nhất. Trong những trường hợp như vậy, không gì khôn ngoan hơn là dâng hiến cho Chúa trước tiên, cắt giảm chi tiêu và trả nợ một cách có hệ thống và tích cực nhất có thể.
Một số người coi thế chấp là một ngoại lệ để tránh nợ nần, và có thể đưa ra lý do để vay tiền mua một ngôi nhà có giá cả hợp lý thay vì thuê nhà. Thật không may, nhiều người khao khát sở hữu nhà lại mua một ngôi nhà nằm ngoài ngân sách của họ. Một cặp đôi mà tôi biết đã vay một khoản thế chấp lớn phụ thuộc vào thu nhập của cả hai người. Khi người vợ mang thai, họ nhận ra rằng để giữ được ngôi nhà, họ sẽ phải phạm đến niềm tin của mình là không gửi con ở nhà trẻ để bà mẹ đi làm.
Còn thẻ tín dụng thì sao? Một số người sử dụng chúng vì tiện lợi, họ trả hết số tiền nợ trong mỗi sao kê để tránh lãi suất. Nanci và tôi đã làm như vậy. Cách tiếp cận này có những ưu điểm, nhưng cũng có những nhược điểm. Chính sự tiện lợi khi có thẻ tín dụng thường lại là một trở ngại — và tạo nên cám dỗ. Sau đây là một số chỉ dẫn khôn ngoan:
Không bao giờ dùng thẻ tín dụng cho bất kỳ mục đích nào ngoại trừ các giao dịch mua đã được lập ngân sách.
Tháng nào trả hết thẻ tín dụng tháng đó.
Nếu tháng đầu tiên có hóa đơn thẻ tín dụng mà bạn không thể thanh toán hết, hãy hủy thẻ, thanh toán hết và không nhận thêm thẻ nào nữa.
5. Tận hưởng cuộc sống để tôn vinh Chúa.
Là những người tin Chúa trong một nền văn hóa vật chất, chúng ta nên theo đuổi lối sống khai phóng tiền bạc để thúc đẩy Tin lành tấn tới. Tuy nhiên, câu trả lời không phải là chủ nghĩa khổ hạnh, tin rằng tiền bạc và của cải vốn dĩ là xấu xa. Đức Chúa Trời của chúng ta là Đấng ban cho cách rộng rãi (Rô-ma 8:32). Ngài ban cho chúng ta những thú vui và sự thoải mái mà Ngài muốn chúng ta tận hưởng: “Vậy, anh em hoặc ăn, hoặc uống, hoặc làm bất cứ việc gì, hãy làm tất cả vì vinh quang của Đức Chúa Trời” (1 Cô-rinh-tô 10:31).
Trong nhiều năm, Nanci và tôi đã chi một khoản tiền hợp lý cho những kỳ nghỉ giúp chúng tôi tươi mới lại. Ngay cả khi các con gái chúng tôi còn nhỏ, chúng tôi vẫn có một buổi tối hẹn hò, tin rằng một trong những điều tốt nhất chúng tôi có thể làm cho con cái mình là duy trì một cuộc hôn nhân bền chặt. (Hãy ưu tiên hẹn hò với người bạn đời của bạn. Hãy ghi điều đó vào lịch trình và ngân sách của bạn!)
Kinh thánh nói rằng chúng ta không nên đặt hy vọng vào những thứ vật chất mà đặt “nơi Đức Chúa Trời, là Đấng mỗi ngày ban mọi vật một cách dư dật để chúng ta vui hưởng” (1 Ti-mô-thê 6:17). Điều đó có nghĩa là chúng ta không nên cảm thấy tội lỗi khi tận hưởng sự chu cấp của Ngài! Đức Chúa Trời không mong đợi những người theo Ngài sống như những tù nhân trong ngục, không bao giờ tiệc tùng hay vui hưởng cuộc sống. Ngài trao cho chúng ta tiền bạc để chăm sóc cho nhu cầu của chúng ta và nhu cầu của những người khác, nhưng cũng để chúng ta có thể tận hưởng cuộc sống mà Ngài đã ban cho chúng ta.
Cùng nhau đầu tư vào cõi đời đời
Nhiều Cơ Đốc nhân tích trữ của cải của họ trên đất. Cuối cùng, họ quay trở lại cõi đời đời, rời xa của cải của mình. Đấng Christ kêu gọi chúng ta làm ngược lại — tích trữ của cải chúng ta trên trời. Theo cách đó, mỗi ngày đều đưa chúng ta đến gần hơn với Kho báu của mình.
Trong những năm cuối đời, Nanci và tôi đã suy ngẫm về những cách mà, nhờ ân điển của Chúa, chúng tôi đã đầu tư vào cõi đời đời và cùng nhau phục vụ Chúa Giê-su. Những gì đã qua thật ý nghĩa, nhưng những gì chờ đợi chúng tôi ở bên kia sự chết là những gì chúng tôi đã dành cả đời để chuẩn bị.
Không lâu trước khi bà ấy mất, tôi đã nắm tay Nanci, và bà ấy nói, với nụ cười và nước mắt: “Randy, cảm ơn anh vì cuộc đời em.” Tôi cũng khóc mà đáp lại: “Nanci, cảm ơn em vì cuộc đời anh.” Đức Chúa Trời đã sử dụng chúng tôi để tăng trưởng cho nhau về thuộc linh và giúp chúng tôi trở thành những người theo Chúa Giê-su tốt hơn. Chắc chắn là chúng tôi không làm đúng hết mọi thứ, nhưng với sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời, chúng tôi đã tìm cách tích trữ kho báu trên trời lớn hơn nhiều so với trên đất.
Tôi khuyến khích bạn đặt Đấng Christ vào chính giữa hôn nhân và tài chính của bạn. Bạn sẽ không bao giờ hối tiếc. Những phần thưởng đời đời sẽ mãi mãi mang lại niềm vui cho bạn và vinh quang cho Đấng Cứu Rỗi bạn!
Randy Alcorn, tác giả bài viết là tác giả của hơn 60 cuốn sách khác nhau. Ông cũng là nhà sáng lập và giám đốc của Mục vụ Eternal Perspective Ministries.
– Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc –
*Quan điểm của bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của Đội ngũ Ba-rúc
Những chủ đề giảng đầy quyền năng trong bài viết này là các chủ đề đơn giản ra từ những câu Kinh thánh sau:
“Vì vậy, ta nhắc con hãy nhen lại ân tứ của Đức Chúa Trời mà con đã nhận lãnh…(2 Ti-mô-thê 1:6). “Hãy nhắc nhở họ những điều nầy…” (2 Ti-mô-thê 2:14).
Một số bài học phải được lặp đi lặp lại mãi.
“Tôi muốn nhắc lại cho anh em…” là một cụm từ xuất hiện rất nhiều trong các thư tín của Sứ đồ Phao-lô.
Những lẽ thật thuộc linh quan trọng nhất cần được nhấn mạnh nhiều lần nếu người nghe thực sự muốn học được chúng và được ích lợi từ chúng.
7 Chủ Đề Giảng Chạm Đến Tấm Lòng Cần Được Nhắc Đi Nhắc Lại
(Đây không phải là một danh sách đầy đủ. Bạn sẽ nghĩ đến những lẽ thật căn bản khác cần được nhấn mạnh liên tục).
Chủ đề giảng thứ nhất: Chúa Giê-su Christ là Cứu Chúa của thế gian và là Cứu Chúa duy nhất.
Đó cũng là chủ đề của nhiều phần trong Kinh thánh đúng không? Sao chúng ta lại không thể tập trung vào Chúa Giê-su – nhân dạng của Ngài, đời sống và chức vụ của Ngài, những dạy dỗ của Ngài, việc Ngài làm đầu hội thánh, và vị trí của Ngài trong đời sống chúng ta – nếu chúng ta trung thành với Lời Chúa đây?
Hỡi các mục sư, hãy cứ nói với họ tại sao chúng ta lại coi trọng Chúa Giê-su đến vậy– nói đi nói lại; chủ đề này không bao giờ cạn kiệt. Mới tối qua thôi, một người nam tại Bắc Carolina này kể về việc cơ quan lập pháp tiểu bang bỏ phiếu để bổ nhiệm một nhà giảng đạo Báp-tít làm mục sư tuyên úy của họ, sau đó sa thải ông khi ông từ chối đưa “nhân danh Chúa Giê-su” ra khỏi lời cầu nguyện của mình. Và họ gọi sự xuyên tạc này là “để hàm chứa tất cả mọi người”. Hãy tưởng tượng xem. (Lưu ý: Nhiều lời cầu nguyện trong Tân Ước thực ra không dùng cụm “nhân danh Chúa Giê-su” và chúng ta không nên cảm thấy lời cầu nguyện của mình cũng phải luôn như vậy. Tuy nhiên, nếu các anh bảo tôi tôi phải loại Chúa Giê-su ra khỏi lời cầu nguyện của mình thì tôi sẽ rời đi.)
Chúa Giê-su Christ là Chúa, từ nay cho đến đời đời, và ngoài Ngài ra không có Chúa nào khác.
Hãy luôn tập trung vào Chúa Giê-su với dân sự của mình.
Chủ đề giảng thứ hai: Hội thánh là một phần không thể thiếu trong kế hoạch của Chúa, từ nay cho đến đời đời.
Và tất nhiên là chúng ta không chỉ đề cập đến hội chúng địa phương của bạn. Tuy đó là điều quan trọng — điều này sẽ khiến nhiều mục sư thiển cận và đơn độc ngạc nhiên — Vương quốc Đức Chúa Trời không chỉ là hội thánh của bạn.
Khi Chúa Giê-su cứu bạn, Ngài biết điều mà bạn sắp khám phá ra: “Bạn không thể sống đời sống mới này trong sự đơn độc. Bạn cần gia đình của Chúa.” Họ bám vào bạn, bạn bám vào họ. Họ hướng dẫn và nuôi dưỡng bạn; bạn cũng quay lại làm như vậy. Sự cộng sinh này đã là kế hoạch của Đức Chúa Trời từ ban đầu.
“Ta sẽ xây dựng Hội thánh Ta,” Chúa đã phán trong Ma-thi-ơ 16:18. Hội thánh thuộc về Ngài và Ngài xây dựng Hội thánh. Những người theo Đấng Christ đi tuyên bố mình có thể sống tốt hơn cho Đấng Christ mà không cần hội thánh là đang xúc phạm Chúa của mình. Người lãnh đạo hội thánh muốn điều hành hội thánh của Chúa “cho Ngài” là đang nhanh chóng chuốc lấy rắc rối lớn.
Chủ đề giảng thứ ba: Sự cứu rỗi hoàn toàn bởi thập tự giá.
Sự cứu rỗi không phải bởi những việc làm công chính, mà là sự khiêm nhường, ăn năn, đức tin nơi Chúa Giê-su Christ và những gì Ngài đã làm trên đồi Calvary.
Mối đe dọa biến sự cứu rỗi thành vấn đề việc làm sẽ không bao giờ biến mất. Nó bắt nguồn từ cách suy nghĩ của con người, lý luận của con người (và do đó là việc tự cho mình là trung tâm) của họ. Theo hiểu biết của tôi, hầu hết các tôn giáo trên thế giới đều dạy những biến thể của “làm điều này và bạn sẽ được cứu” hoặc “không làm điều này và bạn sẽ được cứu”. Chỉ có một tôn giáo mà tôi biết tuyên bố rằng mọi thứ cần thiết đã được thực hiện và nhiệm vụ của chúng ta là ăn năn và tiếp nhận điều đó (“Ngài”).
Khi mọi người bảo tôi rằng họ tin những việc lành của họ sẽ đưa họ lên Thiên đàng, tôi hỏi, “Vậy thì mục đích của thập tự giá là gì? Nếu tất cả những gì Đức Chúa Trời phải làm là nói với chúng ta ‘Bây giờ tất cả các người hãy sống tốt, nghe chưa?’ thì chắc chắn Ngài đã phải chịu rất nhiều rắc rối vô cớ khi sai Chúa Giê-su đến thế gian này để chết trên thập tự giá vì tội lỗi của chúng ta.” (Họ không có câu trả lời vì họ chưa từng nghĩ đến những điều này. Nếu bạn cần thêm bằng chứng về lòng dạ tội lỗi của con ngườ, thì đó chính là bằng chứng.)
Hãy ca tụng ân điển của Chúa, hỡi người giảng đạo, với dân sự của bạn. Hãy giữ họ ở thập tự giá.
Chủ đề giảng thứ tư: Chúng ta không được cứu bởi những việc lành, nhưng được cứu “để” làm công việc của Đức Chúa Trời (Ê-phê-sô 2:10).
Những việc lành có một vị trí nhất định trong kế hoạch của Chúa dành cho dân sự Ngài. Nhưng chúng là kết quả — bông trái, bằng chứng — của sự cứu rỗi của chúng ta, chứ không phải là phương tiện. Một người muốn trở thành thành viên trong quân đội không làm vậy bằng cách mặc quân phục và chào các sĩ quan. Nhưng một khi chính thức được nhập ngũ, anh ta mặc quân phục, tuân theo mệnh lệnh và chào các sĩ quan.
Chúa muốn thấy những việc lành nào trong đời sống chúng ta? Kinh thánh trả lời câu hỏi đó hết lần này đến lần khác ở những địa chỉ như Mi-chê 6:8, Giê-rê-mi 22:16 và tất nhiên là Ma-thi-ơ 25:35-36. Tôi thích kể câu chuyện của Harold Bales về thời điểm hội thánh ông ở khu phố Charlotte, Bắc Carolina, Hoa Kỳ đưa những người vô gia cư từ công viên bên kia đường vào và cho họ ăn sáng trước buổi lễ thờ phượng buổi sáng. Một người phụ nữ đã ở trong hội thánh đó qua nhiều thế hệ và phẫn nộ vì sự hiện diện của những người không được tắm rửa trong các buổi lễ của họ, đã đến gặp Mục sư Harold vào một ngày Chủ Nhật và nói, “Mục sư ơi, tại sao chúng ta phải có những người như vậy trong hội thánh của mình?” Ông ấy nói, “Bởi vì tôi không muốn thấy bất kỳ ai phải xuống địa ngục.” Bà ấy nói, “Vâng, tôi cũng không muốn họ phải xuống địa ngục.” Ông ấy nói, “Tôi không nói về họ. Tôi đang nói về bà đó.”
Chủ đề giảng thứ năm: Nếu bạn có đức tin thì bạn sẽ cầu nguyện.
Trên thực tế, không có điều gì kể câu chuyện đức tin của bạn bằng đời sống cầu nguyện của bạn. Không có điều gì như thế cả.
Hãy suy nghĩ đến việc bạn đang cầu nguyện với một vị Chúa mà bạn chưa từng thấy và không thể chứng minh. Bạn nói với Ngài những điều mà bạn không muốn nói với bất kỳ ai khác và tin rằng Ngài nghe thấy. Hơn nữa — và đây là điểm then chốt — 90 phần trăm những yêu cầu bạn đưa ra, bạn sẽ không bao giờ biết liệu Ngài có trả lời chúng hay không vì Ngài có thể chọn làm như vậy theo những cách tinh tế hoặc vào thời điểm khác. Nhưng bạn cứ cầu nguyện với Ngài ngày qua ngày, như thể Ngài đang ngồi trên chiếc ghế bên cạnh bạn và mọi thứ bạn làm hôm nay đều phụ thuộc vào sự hiện diện và hướng dẫn của Ngài.
Sự thật là vậy.
Các mục sư giúp dân sự coi trọng sự cầu nguyện bằng cách khuyến khích họ cầu nguyện trong các buổi nhóm, lập phòng cầu nguyện tại hội thánh, và khuyến khích cầu nguyện cho những con người, những nhu cầu, sự kiện và mối quan tâm cụ thể.
Chủ đề giảng thứ sáu: Một hội thánh tồn tại nhờ truyền bá Tin lành và công tác truyền giáo giống như lửa vậy, phải cháy mới có thể tồn tại
Chia sẻ đức tin của chúng ta không phải là một lựa chọn, không chỉ dành cho những người có năng khiếu (tuy phải thừa nhận rằng một số người trôi chảy và hiệu quả hơn những người khác trong việc này), và không được thực hiện một cách rời rạc. “Hãy đi khiến muôn dân trở nên môn đồ Ta” là mạng lệnh của Chúa chúng ta trong Ma-thi-ơ 28:18 và các trang sau.
Một ngày nọ, tôi đứng ở tiền sảnh của một hội thánh thuộc hệ phái khác, đọc áp phích của họ về truyền giáo. (Bạn không cần tôi phải giúp xác định hệ phái khi đọc những dòng sau.) Tấm áp phích có nội dung đại loại như, “Hãy lan truyền sứ điệp. Hãy nói với mọi người về John Wesley.” Tôi nghĩ, “Wesley ư? Nói với người ta về Wesley ư? Đó không phải là truyền bá Tin lành!” Đó là kiểu hướng dẫn nội bộ mà người ta có thể muốn thực hiện với những người đã cải đạo sang Giáo hội Giám lý Liên hiệp. Nhưng đó không phải là cách để tiếp cận những người không đi hội thánh, không cam kết hoặc không quan tâm.
Các hội thánh phải sáng tạo trong việc tìm cách huy động các thành viên của mình rao truyền đức tin, phải tích cực hỗ trợ những người đang làm đúng và làm tốt, và phải cảnh giác với những xao nhãng có thể đẩy công tác truyền bá phúc âm xuống dưới danh sách các ưu tiên trong các mục vụ của hội thánh.
Chủ đề giảng thứ bảy: Kinh thánh là lời được thần cảm của Đức Chúa Trời và là nguồn thức ăn thuộc linh của các tín đồ.
Nếu bạn nghĩ rằng các chương trình khác của hội thánh sẽ đẩy công tác truyền bá Tin lành ra khỏi nghị trình thì hãy biết rằng cuộc sống có cách đẩy Lời Chúa ra khỏi tâm trí của các tín đồ. Quá trình này có vẻ giống nhau đối với mọi người và hoạt động như thế này…
Bạn không đọc Kinh thánh trong vài ngày, và chẳng mấy chốc, bạn thấy mình chống lại sự thôi thúc bên trong muốn đọc lại. Bạn càng khuất phục trước sự lười biếng không muốn cầm Lời Chúa lên và mở nó ra, bạn càng thấy mình nói (hoặc nghĩ, hoặc cả hai): “Tôi đã đọc Kinh thánh. Tôi đã biết Kinh thánh rồi. Trong đó không có gì mới cả. Kinh thánh thật nhàm chán.”
Tất cả những điều đó đều là lời nói dối từ địa ngục. Bạn không biết Kinh thánh. Bạn chưa đọc Kinh thánh. (Có thể bạn đã đọc “trong” đó, nhưng có cả một trời nội dung ở đó mà bạn vẫn chưa khai thác.) Kinh thánh không nhàm chán. Bạn mới là người nhàm chán, chứ không phải Lời Chúa.
Gióp đã nói, “Tôi… luôn giữ kín trong lòng mình lời từ miệng Ngài.” Chúa Giê-su đã nói, “Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, nhưng cũng nhờ mọi lời nói từ miệng Đức Chúa Trời.” Đa-vít đã nói rằng người tin kính “vui thích về Lời của Đức Giê-hô-va và suy ngẫm Lời (luật pháp) ấy ngày và đêm.”
Hãy tiếp tục nói với dân sự, hỡi các mục sư. Hãy tiếp tục rao giảng những hiểu biết sâu sắc và vui thích với những kho tàng trong Kinh thánh, và đến cuối cùng, họ sẽ hiểu. Đây là những chủ đề giảng luận đơn giản nhưng quan trọng.
Nhắc lại là một người thầy vĩ đại. Trên thực tế, nó có thể là người thầy giỏi nhất trên hành tinh này. Tác giả bài viết, Joe McKeever đã là một nhà giảng đạo trong gần 60 năm, là một mục sư trong 42 năm và là một họa sĩ truyện tranh/nhà văn cho các ấn phẩm Cơ Đốc trong suốt cuộc đời trưởng thành của mình.
– Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc
– *Quan điểm của bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của Đội ngũ Ba-rúc
Tôi không phải mục sư, nhưng tôi biết đủ nhiều mục sư để biết rằng họ rất cực nhọc. Họ dành thời gian cho đi tâm vấn, đi nhóm chuẩn bị bài giảng. Rồi đôi khi họ lại nghe thấy những câu nói bông đùa rằng: “Ô thế không phải cả tuần mục sư làm việc có một ngày à?”
Là một người “mong làm trưởng lão” (1 Ti-mô-thê 3:1), trong lòng tôi dành một vị trí đặc biệt cho các mục sư. Cụ thể là tôi biết ơn Chúa vì những người mục sư của mình: Randy, Justin, Paul và Paul. Tôi viết bài này nằm khích lệ bốn người nam này, và trong quá trình ấy, tôi cũng muốn đưa ra một số lời khuyên chung về cách bạn có thể khích lệ các mục sư của mình.
1. Đặt lòng vào những bài giảng của họ.
Tuy giảng luận không phải là toàn bộ công việc nhưng đó thường là điều khiến các mục sư phấn khích nhất. Tôi biết không phải ai cũng vậy, nhưng thông thường là như thế. Cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Dành nhiều thời gian cho việc giảng luận như vậy, lẽ nào họ lại không yêu thích việc ấy sao?
Như vậy, điều tốt nhất bạn có thể làm là gì? Đặt lòng vào những bài giảng của người mục sư. Hãy chú ý. Hãy lắng nghe điều họ nói. Chúng ta thật phước hạnh khi nhận được sự giảng dạy trung tín. Tuần này qua tuần khác, chúng ta biết rằng những người mục sư của mình sẽ giảng một sứ điệp trung tín từ Kinh thánh. Không có nghĩa là bài giảng của họ hoàn hảo, nhưng có nghĩa là họ luôn muốn làm đẹp lòng Chúa trong những bài giảng của mình. Họ rao giảng “Đức Chúa Giê-su Christ, và Đức Chúa Giê-su Christ bị đóng đinh vào thập tự giá” (1 Cô-rinh-tô 2:2) mà không nao núng.
2. Đừng coi thường sự sửa trị của họ.
Tuy chưa từng bị hội thánh của mình kỷ luật nhưng chắc chắn tôi đã bị các mục sư của mình khiển trách – và khiển trách một cách chính đáng. Tại sao? Vì tôi là một tội nhân và đôi khi tôi nói hoặc làm những điều không khôn ngoan. Kết quả là tôi được chỉnh đốn trong tình yêu thương. Cảm giác không được tuyệt cho lắm, và mới đầu không phải lúc nào tôi cũng phản ứng đúng mực. Nhưng điều đó cần cho sự tăng trưởng của tôi, không chỉ trong vai trò một Cơ Đốc nhân mà còn là một người mong được làm chức vụ chăn bầy. Tôi biết ơn Chúa vì mình được các mục sư dạy dỗ, họ sẵn sàng nói điều chuyện khó nói với cả sự khiêm nhường và yêu thương.
3. Hỏi thăm họ – xem cuộc sống của họ thế nào. Mục sư của các bạn là con người.
Họ cũng phạm tội giống bạn. Họ có những tranh chiến, nỗi đau và thiếu sót. Mục sư không phải những siêu Cơ Đốc nhân, nhưng chỉ đơn giản là được Đức Chúa Trời kêu gọi để làm những người chăn chiên dưới quyền của Chúa Giê-su. Do đó chúng ta nên thường xuyên hỏi thăm họ.
Các mục sư không tránh khỏi cám dỗ. Họ vẫn dễ ngã lòng và chán nản. Chúng ta cần các mục sư. Nhưng bạn biết không? Các mục sư cũng cần đến dân sự.
Tôi đã nghe điều này cả triệu lần: những ngày khó nhằn nhất của các mục sư là ngày thứ Hai. Họ đã rao giảng và đôi khi cảm thấy như rác rưởi. Đó là thời điểm hoàn hảo để gọi điện cho họ hoặc gửi cho họ một tin nhắn đơn giản. Hãy tìm những cách sáng tạo để khẳng định bạn coi trọng họ đến thế nào. Đừng làm bất kỳ điều gì trong số này chỉ để xoa dịu hoặc nịnh nọt họ. Mục tiêu là để họ được khích lệ và xây dựng chứ không phải bạn.
Các mục sư của bạn—hy vọng là có đội ngũ mục sư trong hội thánh của bạn!—rất cẩn thận trong việc canh giữ linh hồn bạn, như lời trước giả sách Hê-bơ-rơ (13:17). Đó là một công việc, chắc chắn rồi. Nhưng hơn thế nữa, đó là một sự kêu gọi thiêng liêng. Không phải ai cũng có thể trở thành mục sư. Không phải ai cũng có thể trở thành một người chăn chiên dưới quyền của Chúa Giê-su. Không phải ai cũng có khả năng Chúa ban để rao giảng và dạy dỗ, tâm vấn và chăn chiên, làm gương và lãnh đạo.
Các bạn tôi ơi, nếu bạn đang ở trong một hội thánh lành mạnh—và tôi hy vọng vậy—thì thỉnh thoảng hãy dành thời gian nhắn tin, gọi điện hoặc gặp gỡ người mục sư của bạn. Bạn sẽ không bao giờ thực sự hiểu được lời động viên của mình sẽ có ý nghĩa với họ đến thế nào đâu!
– Tác giả bài viết: Blake Long –
– Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc –
*Quan điểm của bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của Đội ngũ Ba-rúc
Bài Phát Biểu Của Mục Sư Rick Warren Tại Đại Hội Lausanne Lần Thứ Tư
Ảnh: Rick Warren phát biểu trước hàng nghìn đại biểu vào ngày cuối cùng của Đại hội Lausanne lần thứ tư về Truyền giáo Thế giới tại Incheon, Hàn Quốc, vào ngày 28 tháng 9 năm 2024. | The Christian Post/Hudson Tsuei
Giangluankinhthanh.net– Đại hội Lausanne là một phong trào then chốt trong lịch sử truyền giáo toàn cầu, được Billy Graham khởi xướng vào năm 1974 với hội nghị đầu tiên được tổ chức tại Lausanne, Thụy Sĩ. Đại hội này đã quy tụ hơn 2.400 lãnh đạo truyền giáo từ 150 quốc gia, dẫn đến việc thành lập Giao ước Lausanne, xác định trách nhiệm và mục tiêu truyền bá Tin lành và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiếp cận các nhóm người chưa được tiếp cận. Đại hội thứ hai diễn ra tại Manila, Philippines, vào năm 1989, tập trung vào Cửa sổ 10/40, một khu vực có nhiều dân số không được tiếp cận với Tin lành. Đại hội này đã đưa ra Tuyên ngôn Manila, củng cố cam kết truyền giáo toàn cầu trong khi giải quyết các vấn đề công lý xã hội. Đại hội thứ ba được tổ chức tại Cape Town, Nam Phi, vào năm 2010, nơi những người tham gia nhấn mạnh các phương pháp tiếp cận sứ mệnh toàn diện và đưa ra Cam kết Cape Town, một lời kêu gọi hành động hợp tác trong truyền giáo và trách nhiệm xã hội. Gần đây nhất, Đại hội Lausanne lần thứ tư đã diễn ra tại Incheon, Hàn Quốc, vào tháng 9 năm 2024, tập trung vào chủ đề “Hãy để Hội thánh cùng tuyên bố và bộc lộ Đấng Christ”, nhằm mục đích hiệp nhất Cơ Đốc nhân trên toàn cầu để thực hiện công tác truyền giáo trong khi giải quyết những thách thức đương đại trong hội thánh. Mỗi đại hội đều xây dựng dựa trên di sản của đại hội tiền nhiệm, liên tục định hình cách tiếp cận của phong trào truyền giáo đối với các sứ mệnh toàn cầu. Dưới đây là bài chia sẻ của mục sư Rick Warren, người sáng lập Hội thánh Saddleback với hàng chục triệu tín đồ tại 197 quốc gia.
INCHEON, Hàn Quốc — Vào năm thứ 54 ở trong chức vụ, Rick Warren, người sáng lập Hội thánh Saddleback, đã tuyên bố tại Đại hội Lausanne lần thứ tư về Truyền giáo Thế giới rằng ông sẽ dành 10 năm tiếp theo của đời mình để tiếp tục giúp các lãnh đạo hội thánh “hoàn tất cuộc chạy đua” và hoàn thành Đại Mạng Lệnh trong cuộc đời họ.
Sau một cuộc thảo luận nhóm chuyên sâu với các đại biểu tại Lausanne 4 vào đầu tuần trước, trong đó ông trình bày rõ cách để các mục sư và lãnh đạo hội thánh có thể chứng kiến số lượng tín đồ tăng trưởng theo cấp số nhân như Hội thánh ở thế kỷ thứ nhất chỉ bằng cách noi gương Chúa Giê-su, ông đã chia sẻ với hàng nghìn đại biểu 10 bước hành động từ Công vụ các chương 1 và 2 để truyền bá Tin Lành cho những người hư mất vào ngày 28/09.
Warren đã tham dự đại hội Lausanne đầu tiên của mình khi ông 20 tuổi; nay ông nói với những người dưới 40 rằng hãy nhìn vào những người từ 40 tuổi trở lên quanh mình vì họ sẽ cần những người có kinh nghiệm này giúp họ với tư cách là “người thầy, tấm gương, cộng sự và bạn bè” để hoàn thành nhiệm vụ mà Chúa giao phó.
Sau đây là danh sách 10 bước hành động mà Warren đã chia sẻ tại Lausanne 4:
1. Cầu nguyện xin Chúa ban quyền năng
“Đầu tiên, chúng ta phải cầu nguyện xin Chúa ban quyền năng. … Sự cầu nguyện được nhắc đến nhiều lần trong sách Công vụ. Các bạn ơi, khi chúng ta bắt đầu cầu nguyện như người ta đã cầu nguyện trong Công vụ, chúng ta sẽ bắt đầu có được quyền năng như họ đã có trong Công vụ. Có một mối liên hệ trực tiếp giữa sự cầu nguyện và quyền năng. Nhiều lời cầu nguyện, nhiều quyền năng. Ít lời cầu nguyện, ít quyền năng. Không cầu nguyện, không có quyền năng”, Warren cho biết. Ông đã nghỉ hưu tại Hội thánh Saddleback ở California vào năm 2022.
2. Dịch Lời Chúa ra cho mọi người
“Thứ hai, chúng ta phải dịch lời Chúa cho mọi người”, Warren cho biết. Ông chia sẻ rằng mình đã dành cả cuộc đời để hoàn thành Đại Mạng Lệnh và đào tạo những lãnh đạo hội thánh khác hoàn thành tốt sự kêu gọi của họ.
“Lời Chúa rất sống động. Lời Chúa đang biến đổi. Lời Chúa thay đổi đời sống. Nhưng chúng ta phải diễn đạt bằng những từ ngữ mà mọi người đều hiểu. Chúng ta phải dịch Lời Chúa ra cho mọi người. Và thật đáng buồn, vẫn còn hàng nghìn, thậm chí hàng triệu người không có Kinh thánh bằng bản dịch của họ. Đó là một phần trong bước hành động tiếp theo của chúng ta.
“Vào Lễ Ngũ Tuần, Đức Chúa Trời đã cho thấy tầm quan trọng của việc dịch thuật vì Ngài đã thực hiện một phép lạ dịch thuật bằng tiếng lạ. Ngài đảo ngược Sáng thế ký 11 – Tháp Babel vào Lễ Ngũ Tuần. Chúng ta phải dịch lời Chúa ra cho mọi người”, Warren nhắc lại.
3. Trân trọng sự đa dạng của chúng ta
“Thứ ba, chúng ta phải trân trọng sự đa dạng của mình. Không phải dung thứ, không phải chấp nhận, mà phải tự hào về nó. Yêu mến nó, mừng vì có nó.
“Chúng ta cần làm điều này vì thứ nhất, sự đa dạng là ý tưởng của Đức Chúa Trời. Ngài đã tạo ra tất cả chúng ta khác biệt với nhau. Về cơ bản, người không thích sự đa dạng tức là đang nói rằng, ‘Chúa ơi, Ngài đã phạm phải sai lầm. Tại sao Ngài không tạo ra mọi người giống con?’ Đó là sự cường điệu của lòng kiêu ngạo.
“Chúng ta phải vui mừng, tận hưởng và phát triển sự đa dạng của mình vì sự đa dạng trong chức vụ là sức mạnh của Hội thánh, không phải là điểm yếu. Tại sao? Cần có đủ mọi loại hội thánh để tiếp cận được mọi loại người,” ông nhấn mạnh.
“Ngài (Đức Chúa Trời) muốn có sự hiệp nhất. Ngài không muốn sự đồng nhất. Cách duy nhất để chúng ta có được sự hiệp nhất là yêu sự đa dạng.
4. Đào tạo mọi tín đồ rao giảng Tin Mừng
“Thứ tư, chúng ta phải đào tạo mọi tín đồ rao giảng Tin Mừng. Vào Lễ Ngũ Tuần, Phi-e-rơ đã phải trích dẫn tiên tri Giô-ên, để giải thích tại sao phụ nữ lại rao giảng vào Lễ Ngũ Tuần. Và đây là những gì ông nói trong Công vụ 2:14-18, ‘Ta sẽ đổ Thánh Linh Ta trên mọi xác thịt;
Con trai và con gái các ngươi sẽ nói tiên tri [có bản dịch là rao giảng], Thanh niên sẽ thấy khải tượng, Và người già sẽ thấy chiêm bao.’ — tức là liên thế hệ — ‘các đầy tớ trai và gái Ta,’ cả nam lẫn nữ, ‘Ta sẽ đổ Thần Ta và họ sẽ nói tiên tri [có bản dịch là rao giảng].’
Ông tiếp tục, “Vào năm 2003 tại Hội thánh Saddleback, chúng tôi đã phát động một chiến dịch cho mọi thành viên rằng mọi thành viên trong hội thánh chúng tôi sẽ đến cánh đồng truyền giáo và mở một hội thánh. … Chúng tôi đã thực hiện năm điều mà Chúa Giê-su đã làm và chúng tôi gọi là Kế hoạch Bình an: Công bố Tin Mừng, trang bị cho mọi tín đồ và làm vơi bớt nỗi khổ đau — tức sự nghèo đói, bệnh tật, mù chữ — và đấu tranh trong lời cầu nguyện khi chúng tôi chiến đấu trên đầu gối và thành lập các hội thánh.
“Trong hơn bảy năm, tôi đã sai phái 26.869 thành viên của mình đi thành lập một hội thánh ở mọi quốc gia trên thế giới. Chúng tôi là hội thánh duy nhất trong lịch sử Cơ Đốc thành lập một hội thánh tại 197 quốc gia. Điều này được thực hiện bởi những người bình thường.
“Nếu bạn là một mục sư, tôi rất vinh dự được hướng dẫn bạn cách thực hiện. Hội thánh của bạn có thể cử các giáo sĩ đi khắp thế giới. Bạn có thể huy động. Mục tiêu của tôi là giúp bạn biến khán giả thành một đội quân, biến khán giả thành người tham gia, biến người nhận thành người đóng góp và biến các thành viên thành các giáo sĩ và mục sư.
5. Áp dụng Lời Chúa cho chính mình để hoàn thành nhiệm vụ
“Thứ năm, chúng ta phải áp dụng Lời Chúa cho chính mình để hoàn thành nhiệm vụ.”
“Chúng ta sẽ phải thực hành những gì mình rao giảng,” Warren nhấn mạnh. “Chúa Giê-su phán, hãy đi, làm theo như vậy. Gia-cơ nói rằng hãy là người thực hành. Lời Chúa, Đại Mạng Lệnh nói rằng hãy dạy họ làm mọi điều Ta truyền, không phải dạy họ biết vấn đề của Hội thánh ngày nay. Chúng ta biết nhiều hơn những gì mình đang làm, và có một kiểu rao giảng nhất định sẽ giúp người ta trở thành người thực hành Lời Chúa.
Ông nói thêm rằng “chúng ta phải áp dụng lời Chúa cho chính mình.”
“Bạn có muốn tôi lấy một ví dụ về điều này không? Hãy xem sứ điệp của Phi-e-rơ trong Công vụ chương 2. Ông bắt đầu trả lời một câu hỏi của mọi người. Họ hỏi điều này có nghĩa là gì. Và bài giảng của ông kết thúc bằng cách nói cho mọi người biết phải làm gì. Khi mọi người nghe lời của Phi-e-rơ, họ hỏi, ‘Chúng tôi phải làm gì đây?’ Bài giảng của bạn cần như vậy. Bắt đầu bằng “điều này có nghĩa là gì” và kết thúc bằng “từ nay tôi nên làm gì”.
“Trong phần cuối của nhiều sứ điệp, người ta vẫn nói: ‘Điều này có nghĩa là gì?’ Hãy dạy mọi người trở thành người thực hành Lời Chúa, đào tạo mọi người cách trở thành người thực hành.”
6. Làm gương về tình yêu thương cho thế giới
“Thứ sáu, chúng ta phải làm gương về tình yêu thương cho thế giới,” Warren nói. “Tình yêu luôn thu hút. Định nghĩa của tôi về truyền giáo là bạn xây dựng một cây cầu tình yêu giữa tấm lòng bạn và tấm lòng họ, và Chúa Giê-su bước qua. Các hội thánh phát triển thì biết yêu thương, còn các hội thánh yêu thương sẽ phát triển”, ông nói thêm.
“Một hội thánh mà thực sự yêu thương những người hư mất, thì có khoá cửa người ta vẫn chen vào. Nhiều người nói, chúng ta yêu tất cả mọi người mà chúng ta quen biết — nhưng nếu chỉ thế thì chưa phải là một hội thánh yêu thương”.
7. Lại dùng đến các tư thất
“Thứ bảy, chúng ta phải trở lại với việc sử dụng các tư thất,” Warren khuyên, gọi đây là “phong trào tăng trưởng cộng đồng nhanh nhất của [Hội thánh] Cơ Đốc.” Ông cho biết chính hội thánh của ông đã tăng trưởng 50% trong một thập kỷ trước khi có một tòa nhà hội thánh.
“Chúng tôi không có tòa nhà hội thánh. Tôi muốn chứng minh rằng bạn không cần phải có một tòa nhà hội thánh để phát triển một hội thánh, vì vậy Saddleback đã trải qua 13 năm không có tòa nhà. Chúng tôi đã có hơn 10.000 người đến mỗi tuần trước khi chúng tôi xây dựng tòa nhà đầu tiên. Đừng nói với tôi rằng bạn phải có một tòa nhà để phát triển một hội thánh. Sự tăng trưởng nhanh nhất là thông qua các tư gia. Chúng ta [cần] quay lại điều đó.”
8. Sự thờ phượng phải trở thành một chứng nhân đầy vui mừng
“Thứ tám, sự thờ phượng của chúng ta phải trở thành một chứng nhân đầy vui mừng,” ông nói. “Và tất cả những gì tôi sẽ nói về điều này là sự thờ phượng, khi được tổ chức, sẽ thu hút những người vô tín như thể họ thích đến các buổi hòa nhạc vậy.”
9. Chia sẻ mọi thứ
“Thứ chín, chúng ta phải chia sẻ mọi thứ để cùng nhau làm việc,” Warren nói, trích dẫn Công vụ Chương 2:44. “Câu 44 nói rằng tất cả các tín đồ chia sẻ mọi thứ với nhau. Tất cả những điều này đều đang dạy dỗ. … Đây là sự cộng tác thật, để đồng công.”
10. Có những hy sinh nhất định về tài chính
“Thứ mười, chúng ta có những hy sinh nhất định tài chính,” Warren nói với sự tin quyết. “Câu 45 nói rằng họ bán đất đai và những thứ họ sở hữu để ban tiền bạc ra cho những người cần nó.
“Đây là những điều mà mỗi người trong các bạn có thể làm vào ngày mai trên đường về nhà từ Lausanne,” ông nói với các đại biểu nhóm lại trực tiếp vào ngày cuối cùng của hội nghị kéo dài một tuần.
Lausanne 4 đã tập hợp hơn 5.000 Cơ Đốc nhân từ hơn 200 quốc gia đến Hàn Quốc trong một tuần để cộng tác và lập chiến lược cho các sứ mệnh toàn cầu. Lausanne 4 được tổ chức xoay quanh chủ đề “Hãy để Hội thánh cùng nhau tuyên bố và bộc lộ Đấng Christ.” Sự kiện này được hỗ trợ bởi hàng trăm hội thánh Hàn Quốc và hàng ngàn tín đồ Cơ Đốc Hàn Quốc đã đăng ký cầu nguyện hoặc tình nguyện dành thời gian tại Songdo Convensia.
– Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc –
*Quan điểm của bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của Đội ngũ Ba-rúc
Khi đọc thấy trong Kinh thánh rằng các thành viên trong hội thánh phải thuận phục những người lãnh đạo mình (chẳng hạn như Hê-bơ-rơ 13:17), bạn có rùng mình tưởng tượng ra cảnh khúm núm phục tùng cả những yêu cầu không đúng Kinh thánh không? Khi nghe thấy Lu-ca khen ngợi người Bê-rê vì đã xét xem lời Phao-lô giảng có đúng không, bạn có nghĩ điều đó khuyến khích các thành viên trong hội thánh tự định đoạt xem mình cần tôn trọng những phần nào trong sự lãnh đạo mục vụ?
Cả hai phản ứng đó đều sai.
Nhưng Kinh thánh thực sự đòi hỏi chúng ta vừa thuận phục, vừa biết cân nhắc. Hai nguyên tắc đó thật khó để dung hòa, chúng ta không được khước từ thẩm quyền đúng đắn hoặc thoái thác trách nhiệm lắng nghe một cách khôn ngoan. Phải có một cách khác nữa.
Những lời răn bảo cuối trong sách Hê-bơ-rơ kêu gọi các thành viên trong hội thánh thuận phục những người lãnh đạo mình và thực hành sự phân biệt bằng việc không để “các loại giáo huấn khác lạ lôi cuốn mình” (Hê-bơ-rơ 13:9). Chúng ta phải thuận phục một cách có cân nhắc.
Thuận phục chín chắn là gì?
Thuận phục chín chắn là thực hành tôn trọng và vâng theo thẩm quyền đúng đắn trong hội thánh nhưng vẫn bước đi cách khôn ngoan theo Kinh thánh với Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Trời đòi hỏi những người tin Ngài phải phải thuận phục
Trước giả sách Hê-bơ-rơ nói rằng “Hãy vâng lời những người lãnh đạo anh em và thuận phục họ, bởi họ canh giữ linh hồn anh em như người sẽ phải khai trình” (13:17). Chúng ta phải tin cậy họ, lắng nghe họ, và chú ý đến những dạy dỗ theo Kinh thánh của họ. Trong lời hứa nguyện truyền thống dành cho thành viên hội thánh, các thành viên cần hứa “thuận phục sự quản trị của hội thánh” cùng “sự khuyên răn và kỷ luật của hội thánh” trong trường hợp đáng buồn là cá nhân họ sa ngã.
Các lãnh đạo hội thánh là những người coi sóc dưới quyền Đấng Christ (Công vụ 20:28), được Ngài giao nhiệm vụ dùng các chìa khóa của vương quốc để buộc và mở dưới đất như Ngài làm điều đó ở trên trời qua việc giảng Lời Chúa và thực hành kỷ luật hội thánh (Ma-thi-ơ 16:19). Đây là một mạng lệnh đầy thách thức. Những người lãnh đạo của chúng ta là những con người bình thường và còn thiếu sót; họ là những người có cùng địa vị nhưng mang thẩm quyền của Đấng Christ. Nhưng khi yêu mến và thuận phục họ, chúng ta thể hiện rằng mình yêu mến và thuận phục Đức Chúa Trời (xem 1 Giăng 4:20).
Nhưng thuận phục không phải là khúm núm phục tùng.
Đức Chúa Trời đòi hỏi những người tin Ngài phải biết phân biệt
Phong trào Cải chánh bác bỏ quan niệm của Công giáo La Mã về việc tin cậy tuyệt đối, hay tin tưởng mù quáng vào giáo lý của giáo hội. Nhà thần học Cải chánh thế kỷ XVII Francis Turretin lập luận rằng các lãnh đạo Công giáo La Mã cậy Kinh thánh để có thể “dễ dàng… khuất phục dân chúng bằng sự vâng phục mù quáng”. Nhưng Đức Chúa Trời kêu gọi các Cơ Đốc nhân trung tín “tăng trưởng trong ân điển và sự hiểu biết Chúa và Cứu Chúa chúng ta là Đức Chúa Giê-su Christ” (2 Phi-e-rơ 3:18). Điều này đòi hỏi chúng ta không chỉ thừa nhận những gì mà một lãnh đạo hội thánh nói.
Những người Bê-rê “thượng lưu” thể hiện sự phân biệt này: “họ nhiệt thành tiếp nhận đạo, ngày nào cũng nghiên cứu Kinh Thánh để xét xem lời giảng có đúng không” (Công vụ 17:11). Qua việc không để những ý kiến của con người cai trị mình, họ minh họa cho sự kêu gọi của tất cả các tín đồ là dự phần trong sự xức dầu tế lễ của Đấng Christ, đấu tranh “với lương tâm trong sáng chống lại tội lỗi và ma quỷ”, theo lời của một cuốn sách huấn giáo Cải chánh. Người Bê-rê không có cuốn Kinh thánh nào cả; họ không tự mình xét đoán sự dạy dỗ của người sứ đồ. Sở hữu một cuốn Kinh thánh, đọc Kinh thánh và tự mình định đoạt ý nghĩa của Kinh thánh không phải là cách của người Bê-rê. Thay vào đó, chúng ta cần cùng nhau tra xét Kinh thánh, như một “hội thánh, dưới sự lãnh đạo của các mục sư và trưởng lão, sau khi tham khảo ý kiến của cộng đồng Cơ Đốc trong quá khứ và hiện tại.”
Vì thuận phục có cân nhắc là điều rất quan trọng nên bạn phải ở trong một hội thánh tương ứng với những niềm tin theo Kinh thánh của bạn. Và nếu sau đó, bạn thấy những niềm tin cốt lõi của mình không tương ứng với những niềm tin đó của đội ngũ lãnh đạo thì bạn có thể tìm một hội thánh mới mà mình có thể thuận phục với lương tâm trong sáng. Đức Chúa Trời muốn những người tin Ngài ân cần thuận phục những người lãnh đạo mình như những người tự do trong Đấng Christ (1 Phi-e-rơ 2:16).
Tôi có thể thực hành sự thuận phục có cân nhắc bằng cách nào?
Một số kỷ luật Cơ Đốc có thể giúp ích cho chúng ta khi chúng ta cố gắng dung hòa sự căng thẳng giữa thuận phục và tự do Cơ Đốc có cân nhắc.
1. “Nhờ ân điển được vững mạnh” (Hê-bơ-rơ 13:9).
Tất cả chúng ta cần tăng trưởng trong sự dạy dỗ Cơ Đốc đích thực, nếu không chúng ta sẽ bị “cuốn theo luồng gió học thuyết” (Ê-phê-sô 4:14). Nhưng chúng ta nên dùng Kinh thánh, đặc biệt là Lời Chúa được giảng ra, không phải như đạn dược để châm ngòi cho bất đồng mà như một phương tiện ân điển để củng cố đức tin của mình trong Đấng Christ. Thay vì tìm ra những thiếu sót của người giảng đạo (xem Lu-ca 11:54), chúng ta phải lắng nghe như những người đi tìm vàng, hăm hở đãi vàng, suy xét những gì mình nghe được với lòng khoan dung ra từ Đức Thánh Linh.
Việc tăng trưởng trong ân điển trang bị cho chúng ta để “đi với Ngài (Chúa Giê-su) ra bên ngoài trại quân để đồng chịu sỉ nhục với Ngài”, ngay cả trong cam kết thuận phục của mình (Hê-bơ-rơ 13:13). Chúng ta cần cầu nguyện Chúa ban cho ân điển để “thuận phục nhau” “vì kính sợ Đấng Christ” (Ê-phê-sô 5:21) và cho những người lãnh đạo “ăn ở trọn lành trong mọi sự” (Hê-bơ-rơ 13:18).
2. Phân biệt các vấn đề.
Các thành viên trong hội thánh sẽ thấy khó để “a-men” với sự giảng luận và lãnh đạo của những người coi sóc mình, nhưng bằng những cách khác nhau tùy theo vấn đề. Chẳng hạn, với một số vấn đề, bạn không được chấp nhận sự bất đồng. Phao-lô đã đối chất Phi-e-rơ cách chính đáng khi Phi-e-rơ chối bỏ Tin lành (Ga-la-ti 2:11-14). Dự phần trong chức tế lễ của một tín đồ, Cơ Đốc nhân phải bảo vệ lẽ thật trước sai lầm. Nhưng thường thì những thiếu sót trong lãnh đạo không đến nỗi hệ trọng. A-pô-lô chẳng hạn, ông là một nhà giảng đạo có năng lực nhưng không hoàn hảo. Nên “khi Pê-rít-sin và A-qui-la nghe ông giảng, họ đem ông về nhà, giải nghĩa đạo Đức Chúa Trời cho ông kỹ càng hơn” (Công vụ 18:24-28). Những người lãnh đạo tốt sẽ hoan nghênh sự giúp đỡ dạng như vậy.
Một số sự tranh chiến giữa chúng ta với những người lãnh đạo thậm chí còn kém quan trọng hơn nữa. Những khác biệt về tính cách có thể khiến cho quá trình lãnh đạo và thuận phục trở nên phức tạp. Đừng để những vấn đề không thiết yếu phá vỡ sự bình an và để Ma quỷ có cơ hội chen vào đời sống hội thánh.
3. Đặt những câu hỏi.
Những lúc phải vật lộn để đầu phục những sự dạy dỗ của Chúa Giê-su, các môn đồ đã đặt ra những câu hỏi hữu ích (xem Ma-thi-ơ 19:25). Những câu hỏi thành thật có thể làm rõ thêm vấn đề, bằng cách khiến trí óc của người đặt câu hỏi trở nên sắc bén hơn hoặc củng cố sự dạy dỗ của người lãnh đạo.
Tuy vậy, đôi khi khiêm tốn đặt ra những câu hỏi sâu sắc cũng không khiến lương tâm của bạn thỏa mãn. Ngay cả vậy, vẫn có cách để phản đối cho thích hợp. Trong cơ cấu lãnh đạo công bằng có quy trình kháng cáo thích hợp. Các lãnh đạo hội thánh phải sẵn sàng làm rõ hoặc ăn năn về những dạy dỗ của mình – có lẽ là qua tác động của những người lãnh đạo khác mà họ có trách nhiệm giải trình (xem Công vụ 15:1-35). Đặt những câu hỏi quan trọng không phải là bất chấp mà là điều cần thiết để phục tùng cách có cân nhắc.
4. Tin cậy “Đấng Chăn Chiên Lớn” (Hê-bơ-rơ 13:20).
Đức Chúa Trời sẽ “cung ứng cho anh em mọi ơn lành để làm theo ý muốn Ngài, và thực hiện điều đẹp ý Ngài trong chúng ta qua Đức Chúa Giê-su Christ. Nguyện vinh quang quy về Ngài đời đời vô cùng!” (Hê-bơ-rơ 13:21). Bạn có tiếp nhận lời hứa của Chúa Giê-su rằng sự thuận phục có cân nhắc của bạn sẽ đem lại sự “vui vẻ” cho các lãnh đạo hội thánh và “ích lợi” lớn cho bầy chiên (c. 17; so sánh với Phi-líp 2:29)? Bạn có tin rằng một tinh thần thuận phục “dịu dàng, yên lặng”, được Thánh Linh Chúa vận hành từ bên trong “là điều quý giá trước mặt Đức Chúa Trời” không (1 Phi-e-rơ 3:4)?
Chúa Giê-su đang dẫn hội thánh Ngài vào sự khôn ngoan trọn vẹn theo một chương trình hoàn hảo. Chương trình đó bao gồm sự chăn bầy trung tín và sự thuận phục khôn ngoan của bầy chiên Đức Chúa Trời. Bạn phải thuận phục những người lãnh đạo mình trong những vấn đề mà Chúa đã ban cho họ thẩm quyền để quyết định: Họ không thể chỉ định chế độ ăn cho bạn (Mác 7:14-21). Nhưng họ có thể kỷ luật bạn vì tội ngoại tình (c. 21). Nhưng bạn không nên thuận phục một cách thiếu suy nghĩ. Đây là một sự quân bình thật mong manh mà bạn cần giữ vững. Nhưng làm vậy là làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời, nên hãy biết chắc rằng Chúa Giê-su sẽ giúp bạn, đồng thời hành động thuận phục có cân nhắc sẽ khiến bạn ngày càng gần gũi với Ngài hơn.
Tác giả bài viết: William Boekestein là mục sư Hội thánh Immanuel Fellowship tại Kalamazoo, Michigan, Hoa Kỳ và là tác giả của một số cuốn sách, trong đó có Glorifying and Enjoying God: 52 Devotions through the Westminster Shorter Catechism và Finding My Vocation: A Guide for Young People Seeking a Calling.
Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc
Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.
Là một mục sư, bạn có thể cảm thấy những đòi hỏi của chức vụ thật choáng ngợp và không bao giờ ngưng nghỉ.
Nhưng Kinh thánh chứa đầy những chỉ dẫn về việc nghỉ ngơi và thư giãn là điều phù hợp với bạn, dù bạn có bận đến mức nào.
Trên thực tế, việc nghỉ ngơi và thư giãn quan trọng đến mức Chúa ban cho chúng một cái tên đặc biệt: Ngày Sa-bát.
Thậm chí Ngài còn đưa Ngày Sa-bát vào Mười Điều Răn—cùng với “Không được phạm tội tà dâm” và “Không được giết người”. Đức Chúa Trời phán rằng vào ngày thứ bảy của mỗi tuần, bạn nên dành ra một ngày nghỉ.
Ngày Sa-bát quan trọng đến vậy trong cuộc sống của bạn đó—không chỉ đối với hội chúng mà cả với bạn nữa! Chúa Giê-su đã phán trong Mác 2:27, “Ngày sa-bát được tạo nên vì loài người, chứ không phải loài người được tạo nên vì ngày sa-bát”. Nói cách khác, ý định của Đức Chúa Trời là bạn phải dành một ngày nghỉ sau mỗi bảy ngày để nghỉ ngơi, thư giãn, thờ phượng và phục hồi. Ngài đã làm điều này vì lợi ích của chính bạn—để bạn không bị kiệt sức.
Đối với các mục sư, việc nghỉ một ngày Sa-bát có thể là chuyện khó. Chủ Nhật thường là ngày bận rộn nhất của bạn, với việc giảng luận, dạy dỗ và lãnh đạo. Nhưng bạn vẫn cần một ngày nghỉ.
Đây là ý nghĩa của việc có ngày Sa-bát: “Con hãy làm việc trong sáu ngày, nhưng vào ngày thứ bảy con phải nghỉ dù đang là mùa cày cấy hay mùa gặt con cũng phải nghỉ.” (Xuất Ai Cập ký 34:21).
Ngay cả trong những thời gian bận rộn nhất của bạn như Giáng sinh và Phục sinh, Đức Chúa Trời cũng muốn bạn nghỉ ngơi một ngày, giống như những người nông dân vẫn cần một ngày nghỉ trong mùa gặt hái và gieo trồng là những mùa đòi hỏi họ phải dồn nhiều thời gian, công sức.
Bạn phải làm gì vào ngày Sa-bát của mình đây?
Để cơ thể nghỉ ngơi. Đôi khi, điều thuộc linh nhất bạn có thể làm là ngủ trưa. Sức khỏe thể chất của bạn rất cần thiết cho việc duy trì chức vụ lâu dài.
Tập trung lại vào tâm linh. Dành thời gian thờ phượng và suy ngẫm cá nhân.
Nạp lại năng lượng cho cảm xúc. Làm một điều gì đó có thể phục hồi và tiếp thêm năng lượng cho bạn, một sở thích hoặc một môn thể thao chẳng hạn.
Bạn dành ngày nào làm ngày Sa-bát cũng không quan trọng lắm. Quan trọng là bạn phải vâng lời. Bạn có thể chọn bỏ qua lời vợ/chồng hoặc sếp mình nói khi họ khuyên bạn nghỉ ngơi đôi chút. Nhưng Đức Chúa Trời đang ra lệnh cho bạn dành ra một ngày Sa-bát để nghỉ ngơi—và Ngài luôn biết điều gì là tốt nhất cho bạn.
Hãy làm gương cho hội chúng của bạn bằng cách tôn trọng ngày Sa-bát. Khi làm như vậy, bạn không chỉ tuân theo một mệnh lệnh mà còn chứng minh rằng bạn tin tưởng vào sự chu cấp của Đức Chúa Trời cho chức vụ của mình.
Bản quyền 2020-2024 Pastors.com
– Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc –
*Quan điểm của bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc
Người mẹ trẻ một mình chăm con nhỏ, người đầy mồ hôi, nước tè và nước dãi. Cuộc sống dường như chẳng có gì đáng nói và cứ lặp đi lặp lại như vậy. Đống quần áo lù lù trước mắt. Máy rửa bát đầy ặc, miếng tã đầy cần phải thay. Những năm đầu làm cha mẹ cứ như lấy cái muỗng con mà múc hết nước ra khỏi bồn tắm vậy: quá lâu và quá chậm.
Ai chăm sóc bố mẹ già thì mệt mỏi rã rời. Bà đã ăn chưa? Ông đã uống thuốc chưa? Vợ chồng mình có đủ tiền thuê người chăm khi ra viện không? Mình mà nghỉ chăm vài ngày thì ai chăm ông bà? Chẳng có nhiều người hò reo cổ vũ trên con đường gian khổ này. Chúng ta làm điều này vì tình yêu, nhưng thể chất và tinh thần thì kiệt quệ.
Người đàn ông tuổi trung niên làm việc không ngơi nghỉ. Anh không yêu công việc hiện thời, nhưng nó giúp anh trả tiền điện nước và mua đồ ăn. Mỗi năm anh lại đau nhức người rồi đau lưng thêm một chút. Anh làm việc quần quật để chu cấp cho những người mình yêu thương, nhưng lại tự hỏi liệu đây có phải tất cả không. Tại sao cuộc sống lại trở nên vô nghĩa đến vậy?
Cô gái hai mấy tuổi tốt nghiệp với tấm bằng đại học trong tay, nhưng các nhà tuyển dụng không mấy ấn tượng, công việc thì khó nắm bắt, lương lại thấp. Cô chấm công tại một quán cà phê gần nhà, chờ các phòng nhân sự gọi lại. Sau khi tốt nghiệp, cô ấy không ngờ mình sẽ phải pha cà phê sữa yến mạch cả ngày. Tiếp theo là gì đây?
Liệu Đức Chúa Trời có đang hành động giữa những khoảnh khắc tầm thường của cuộc sống không?
Những mùa lặp đi lặp lại, đơn điệu và bất định có thể khiến chúng ta thắc mắc. Đây có phải là điều mình được kêu gọi không? Mình nên làm gì đó khác hay tiếp tục con đường quen thuộc này? Đôi khi, Chúa sử dụng sự bồn chồn để đánh thức chúng ta. Chúng ta nên làm điều gì đó khác đi. Chúa đang thúc đẩy chúng ta và sử dụng sự bất định này này để đưa chúng ta đến nơi chúng ta cần đến. Nhưng trong những trường hợp khác, sự khôn ngoan mách bảo rằng chúng ta nên ở lại và tiếp tục tiến bước. Tuy nhiên, có thể chúng ta vẫn tự hỏi: Liệu Đức Chúa Trời có đang hành động không?
Chúng ta biết câu trả lời đúng là có, nhưng nếu chúng ta không thể nhìn thấy hoặc cảm nhận được sự hiện diện của Chúa thì sao? Chúng ta có thể tìm đâu để thấy sự đảm bảo nào đó rằng Chúa đang hành động giữa những khoảnh khắc tầm thường của đời sống mình?
Kiên nhẫn trong khó nhọc
Đầu tiên, Kinh thánh nhắc nhở chúng ta phải kiên nhẫn trong sự khó nhọc của mình. Chúa Giê-su dạy các môn đồ Ngài rằng đời sống Cơ Đốc giống như nghề nông. Hạt giống Lời Chúa, khi được gieo trên đất tốt, sẽ “nhờ sự nhẫn nhục mà được kết quả” (Lu-ca 8:15). Phải mất nhiều năm để đạt đến độ trưởng thành. Bộ rễ cần thời gian để đâm sâu. Thân cây cần thời gian để dày lên. Cành cây cần thời gian cho đủ khỏe để chịu được sức nặng của trái.
Gần như bất cứ điều gì có giá trị đều cần thời gian. Hàng ngàn biểu hiện của tình yêu và sự chung thủy vun đắp nên một cuộc hôn nhân đẹp đẽ. Nuôi dạy con cái thành những người nam và người nữ kính sợ Chúa đòi hỏi máu, mồ hôi và nước mắt trong nhiều năm. Xây dựng một hội thánh tin kính đòi hỏi nhiều thập kỷ khó nhọc và rao giảng cách trung tín. Biến đổi một cộng đồng, thành phố hoặc quốc gia không phải là công việc diễn ra trong một sớm một chiều. Nhìn chung, Đức Chúa Trời không vội vàng trong công việc thánh hóa của Ngài. Ngài chậm rãi nhưng chắc chắn hành động để chúng ta trở nên giống với hình ảnh của Con Ngài.
Chúa của vùng đất thấp
Hai là các thư tín của sứ đồ Phao-lô cho thấy Đức Chúa Trời đang hành động trong những con người bình thường, làm những công việc tầm thường để hoàn thành mục đích thiêng liêng của Ngài.
Cuối thư Cô-lô-se, Phao-lô đề cập đến Ty-chi-cơ và Ô-nê-sim, có lẽ họ đã chuyển thư đến các thánh đồ tại Cô-lô-se và Ê-phê-sô cũng như cho Phi-lê-môn (Cô-lô-se 4:7–9; Ê-phê-sô 6:21). Họ là những người anh em yêu dấu và những người phục vụ trung thành, những người đưa thư thực hiện chức vụ truyền bá Tin lành. Vì họ đã trung thành thực hiện nhiệm vụ của mình nên những thư tín này vẫn tiếp tục vang vọng cho đến ngày nay.
Đúng là vương quốc của Đấng Christ tiến triển qua công việc của các sứ đồ, nhưng cũng qua các thánh đồ trung tín, bình thường. Một số người được kể ra trong các lá thư của Phao-lô, nhưng hầu hết đều không được nêu tên. Họ là những người vô danh trong lịch sử hội thánh, nhưng công việc của họ sẽ vang vọng đến đời đời. Đấng Christ đang hành động không chỉ ở những đỉnh cao của cuộc sống — khi chúng ta leo lên dãy An-pơ — mà còn ở các thung lũng và đồng bằng. Ngài là Chúa khi chúng ta băng qua những vùng đất thấp và thậm chí khi chúng ta sa vào hố sâu. Ngài đang hành động trong những kẽ nứt của cuộc sống.
Ty-chi-cơ có thể bị cảm lạnh và lấy một cuộn giấy đó ra mà sưởi, nhưng ông không làm vậy. Ông và Ô-nê-sim có thể từ bỏ nhiệm vụ khi có cơ hội béo bở hơn nhưng họ vẫn trung thành thực hiện nhiệm vụ của mình. Đức Chúa Trời hành động qua sự vâng phục nho nhỏ của những người đưa thư và người đồng công xây dựng hội thánh của Ngài.
Không có khoảnh khắc nào tẻ nhạt cả
Ba là mọi giai đoạn, vai trò hoặc thời kỳ của cuộc sống đều là cơ hội để tôn vinh Đức Chúa Trời. Trước đó trong Cô-lô-se, Phao-lô đã nói đến những người vợ, người chồng, người con, người cha, người nô lệ và người chủ (Cô-lô-se 3:18–4:1). Ông không cho rằng những gì chúng ta làm tại gia đình, trong hôn nhân, tại nơi làm việc hoặc ngoài đồng là không quan trọng. Những người làm vợ phải phục tùng chồng mình “như thế mới thích hợp là người ở trong Chúa” (Cô-lô-se 3:18). Con cái phải vâng lời cha mẹ, “vì điều nầy đẹp lòng Chúa” (Cô-lô-se 3:20). Những nô lệ phải vâng phục trong mọi sự, “kính sợ Chúa” (Cô-lô-se 3:22). Sự vâng phục trung thành đó tôn vinh Đức Chúa Trời.
Biểu ngữ của phần này là Cô-lô-se 3:17: “Bất cứ điều gì anh em nói hay làm, hãy thực hiện mọi sự trong danh Chúa là Đức Chúa Giê-su”. Chúng ta có thể tôn vinh Chúa Giê-su từ Thứ Hai đến Thứ Sáu và vào cuối tuần. Chúng ta có thể làm điều đó khi thực hiện các nhiệm vụ tầm thường hoặc đơn điệu. Theo một nghĩa nào đó, không có khoảnh khắc nào là tẻ nhạt cả. Vào bất cứ thời điểm nào và trong mọi nhiệm vụ, chúng ta có thể hành động như thể đang làm cho Đức Chúa Trời! Chúng ta có thể lao động không phải để kiếm tiền, để được người khác tôn trọng và chấp nhận, mà để làm đẹp lòng Chúa.
C.S. Lewis từng viết rằng “không ai chỉ là phàm nhân”. Mọi người đều có một linh hồn bất diệt. Tương tự như vậy, không có khoảnh khắc nào là tầm thường cả. Công việc, thời gian chúng ta dành cho gia đình, kiến thiết nhà cửa và chăm sóc sân vườn không phải là không quan trọng. Chúng ta có thể ăn, uống và làm tất cả vì vinh quang của Đức Chúa Trời (1 Cô-rinh-tô 10:31). Đấng Christ đang hành động trong những điều bình thường.
Đấng Christ trong chốn tầm thường
Chúa luôn hành động — chúng ta có thấy điều đó không? Ngài đang tích cực hành động trong những kẽ hở và sự tầm thường của cuộc sống. Sự đơn điệu không trái nghịch với công khó trung tín vì Tin lành. Thay vào đó, sự trung tín được luyện lọc trong lò lửa của thói quen, nơi chúng ta học được tính kỷ luật, phát triển sự kiên định, vun đắp lòng kiên nhẫn và gạn lọc đôi mắt để nhìn thấy Đấng Christ đang hành động.
Tuy sự kiên trì khó nhọc không được tung hô nhưng công khó của chúng ta trong Đấng Christ sẽ không vô ích. Chúng ta tôn vinh Đấng Christ khi thực hiện hàng triệu khoảnh khắc nho nhỏ trong cuộc sống mình: bế con nhỏ, nấu bữa cơm, lãnh đạo và làm việc để chu cấp cho gia đình.
Vì vậy, nếu cuộc sống có vẻ nhàm chán, ngày tháng có vẻ lê thê, các nhiệm vụ có vẻ tầm thường và sự lao nhọc có vẻ như đã kéo dài đủ lâu thì hãy vững lòng. Đức Chúa Trời đang biến đổi bạn — từng khoảnh khắc, từng ngày, từng năm tháng — để trở nên hình ảnh của Con Ngài. Ngài đang củng cố đức tin của bạn để bạn có thể “vững vàng, chớ rúng động,…làm công việc Chúa cách dư dật luôn, vì biết rằng công khó của anh em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu.” (1 Cô-rinh-tô 15:58).
Tác giả bài viết, Steven Lee là Mục sư về Giảng luận và Khải tượng tại Hội thánh The North Church ở Mounds View, Minnesota, Hoa Kỳ. Ông tốt nghiệp Cao đẳng và Chủng viện Bethlehem.
– Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc –
*Quan điểm của bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của Đội ngũ Ba-rúc
Mọi cặp đôi đã kết hôn đều trao nhau lời thề hứa “cho đến khi cái chết chia lìa chúng ta”, nhưng với quá nhiều cuộc hôn nhân, giấc mơ “mãi mãi” bên nhau của họ bị phá vỡ bởi sự ly hôn. Theo số liệu thống kê của chính phủ Hoa Kỳ từ CDC, trung bình cứ 36 giây lại có một vụ ly hôn ở nước này, tức là khoảng 2.400 vụ ly hôn mỗi ngày, 16.800 vụ ly hôn mỗi tuần và 876.000 vụ ly hôn mỗi năm.
Vậy, làm thế nào để chúng ta ngăn chặn nạn dịch hôn nhân tan vỡ này? Sát sườn hơn nữa, BẠN nên bảo vệ cuộc hôn nhân của MÌNH như thế nào? Tôi tin rằng nếu tránh được mười hai “thói quen xấu” phổ biến sau đây, bạn sẽ có thể chiến thắng số liệu thống kê về ly hôn và tạo ra một cuộc hôn nhân lành mạnh và hạnh phúc, tồn tại qua mọi giai đoạn của cuộc sống. Nếu bạn tin rằng cuộc hôn nhân của mình có thể đang hướng đến ly hôn, xin đừng mất hy vọng!
12 thói quen dẫn đến ly hôn là (không theo thứ tự cụ thể)…
1. Liên tục chỉ trích
Khi bạn thấy đèn cảnh báo trên bảng điều khiển xe tức là cần xử lý điều gì đó không ổn dưới mui xe ngay lập tức. Một trong những “đèn cảnh báo” lớn nhất trong hôn nhân là giọng điệu chỉ trích liên tục. Khi vợ chồng bắt đầu trở thành nhà phê bình lớn nhất của nhau thay vì là người động viên nhiều nhất; và khi họ chỉ tập trung vào những điều tiêu cực thay vì tích cực, một vòng xoáy đi xuống thường dẫn đến ly hôn sẽ xuất hiện.
Số 2 là điều mà nhiều cặp đôi thực hiện ngay sau khi kết hôn, nhưng họ không nhận ra rằng họ chỉ đang chuẩn bị cho việc ly hôn…
2. Chia mọi thứ thành “của tôi” và “của cô” có thể dẫn đến ly hôn.
Khi vợ chồng có tài khoản ngân hàng riêng, sở thích riêng, bạn bè riêng và ước mơ riêng, họ đang có nguy cơ tạo ra cuộc sống hoàn toàn tách biệt. Hôn nhân là sự kết hợp; ly hôn là sự chia rẽ. Các bạn càng chia sẻ nhiều với nhau thì hôn nhân của các bạn sẽ càng bền chặt.
3. “Gác lại” hôn nhân trong khi nuôi con có thể dẫn đến ly hôn.
Tôi đã chứng kiến quá nhiều cuộc hôn nhân tan vỡ vì hai người có ý tốt tập trung quá nhiều vào con cái đến nỗi quên đầu tư tiếp cho hôn nhân. Một số cặp đôi rút gọn mối quan hệ của họ thành quan hệ đối tác cùng nuôi dạy con cái, và cuối cùng, khi những đứa trẻ lớn lên, họ phát hiện ra rằng mình đã tạo ra một cái tổ trống rỗng và một cuộc hôn nhân trống rỗng. Hãy trao cho con bạn món quà là thấy cha mẹ chúng trong một cuộc hôn nhân yêu thương, bền chặt. Hãy làm gương về kiểu hôn nhân sẽ khiến con bạn phấn khích khi được kết hôn vào một ngày nào đó.
4. Cho nhau “những thứ còn thừa lại” có thể dẫn đến ly hôn.
Một số cặp đôi có cái mà tôi gọi là “hôn nhân kiểu công ty truyền hình cáp.” Bạn đã bao giờ để ý thấy các công ty truyền hình cáp có vẻ cung cấp cho bạn những ưu đãi và dịch vụ tốt nhất khi bắt đầu mối quan hệ nhưng sau khi “giai đoạn giới thiệu” kết thúc, họ lại cung cấp cho bạn càng ít càng tốt, miễn là giữ chân được bạn không? Một số cặp đôi đã kết hôn rất giỏi dành cho nhau những điều tốt nhất khi mới bắt đầu mối quan hệ, nhưng theo thời gian, họ bắt đầu cho nhau những thứ còn thừa lại. Hãy cố gắng dành những điều tốt nhất cho nhau. Vun đắp sâu sắc hơn tình yêu, sự tôn trọng và tình bạn của các bạn trong suốt mọi mùa của một cuộc hôn nhân tốt đẹp.
Điều số 5 rất độc hại và khi điều đó xảy ra, cả hai vợ chồng sẽ không có được sự bình yên hay hạnh phúc…
5. Giữ lòng oán giận và “ghi nợ” có thể dẫn đến ly hôn.
Nếu bạn đã kết hôn lâu hơn 15 phút, rất có thể là vợ/chồng bạn đã làm điều gì đó khiến bạn khó chịu và bạn cũng đã làm điều gì đó khiến anh ấy/cô ấy khó chịu. Khi lời nói hoặc hành động của chúng ta gây tổn thương, chúng ta cần nhanh chóng nhận lỗi và tìm kiếm sự tha thứ. Khi vợ/chồng bạn làm sai, bạn cần nhanh chóng tha thứ để lòng tin có thể bắt đầu được xây dựng lại và không có chỗ cho sự cay đắng bén rễ trong trái tim bạn. Đừng dùng những tổn thương trong quá khứ làm vũ khí trong các cuộc tranh luận. Hãy để sự khoan dung cứ thế tuôn chảy trong hôn nhân của bạn. Không cuộc hôn nhân nào có thể tồn tại nếu thiếu điều đó.
Điều thứ 6 hé lộ “vị quân sư” hôn nhân TỆ NHẤT…
6. Tin tưởng vào “cảm xúc” hơn là cam kết có thể là một trong những thói quen dẫn đến ly hôn.
Sẽ có những ngày bạn có thể không “cảm thấy” mình đang ở trong hôn nhân, nhưng cảm xúc thì thất thường và chúng không bao giờ được định để trở thành vị quân sư chính của chúng ta trong các quyết định quan trọng. “Cảm xúc” thường dẫn người ta đến chỗ ngoại tình. Những cặp đôi bền chặt nhất đã khám phá ra rằng tình yêu là một cam kết; không chỉ là một cảm xúc. Cam kết của họ với nhau sẽ bền chặt dù cho họ có cảm thấy thế nào. Sức mạnh của cam kết đó cho phép họ ngày càng mật thiết hơn, liên kết bền chặt hơn và có cuộc hôn nhân hạnh phúc hơn.
Điều thứ 7 xảy ra khi sự kiêu ngạo thế chỗ của tính thận trọng trong mối quan hệ…
7. Ra quyết định mà không tham khảo ý kiến của vợ/chồng có thể dẫn đến ly hôn.
Sự kiêu ngạo hay thuyết phục chúng ta rằng mình không cần phải thưa gửi bất cứ ai và mình nên đưa ra quyết định mà không cần tham khảo ý kiến của bất cứ ai. Sự kiêu ngạo đã là nguyên nhân khiến nhiều cuộc hôn nhân sụp đổ. Những cặp đôi bền chặt nhất đã học được rằng MỌI quyết định mà họ đưa ra với tư cách cá nhân sẽ có một số tác động nhất định đến nhau, vì vậy họ tôn trọng và tham khảo ý kiến của nhau trong mọi quyết định.
Điều thứ 8 khiến CẢ HAI vợ chồng thất vọng mà không giúp ích gì cho cả hai…
8. Cố gắng thay đổi nhau có thể là một trong những thói quen dẫn đến ly hôn.
Khi bạn cố gắng “thay đổi” vợ/chồng mình, CẢ HAI bạn sẽ đều thất vọng. Có thể bạn đã biết rằng các bạn không thể thay đổi nhau mà chỉ có thể yêu thương nhau. Người duy nhất của cuộc hôn nhân mà bạn có khả năng thay đổi là người bạn nhìn thấy khi soi gương. Hãy sẵn sàng thay đổi phản ứng của bạn đối với hành vi của vợ/chồng mình. Hãy tìm cách yêu thương và phục vụ lẫn nhau ngay cả khi các bạn có sự khác biệt về quan điểm hoặc sở thích. Cả hai bạn có thể sẽ “thay đổi” theo hướng tốt hơn trong quá trình này.
Điều thứ 9 là bước đơn lẻ lớn nhất dẫn đến ly hôn…
9. Lên chiến lược thoát hiểm.
Những cặp đôi khỏe mạnh nhất đã loại bỏ từ “ly hôn” ra khỏi vốn từ của họ. Khi chúng ta dọa ly hôn hoặc khi chúng ta âm thầm tưởng tượng về cuộc sống với một ai đó khác, chúng ta đang xé nát nền tảng của cuộc hôn nhân. Những cặp đôi có hôn nhân hiệu quả không phải là những người không bao giờ có lý do để ly hôn; họ chỉ đơn giản là những người luôn coi cam kết với nhau quan trọng hơn những khác biệt và thiếu sót của mình.
Điều thứ 10 không hẳn liên quan đến tình dục, nhưng nó vẫn là một hành vi ngoại tình…
10. Che giấu sự thật rằng bạn đã kết hôn có thể dẫn đến ly hôn.
Nếu bạn cố tình che giấu tình trạng đã kết hôn hoặc đang thể hiện rằng mình “có thể tiếp cận” qua việc tán tỉnh, tháo nhẫn cưới, tỏ ra độc thân trước mặt những người bạn độc thân hoặc ở quán bar, v.v., thì bạn đã đi quá giới hạn RẤT XA. Bản thân những hành vi lừa dối tinh vi đó là các hình thức ngoại tình ngay cả khi chúng không bao giờ dẫn đến quan hệ tình dục.
Điều thứ 11 xuất hiện NHAN NHẢN, và nó đang tác động khủng khiếp đến các cuộc hôn nhân.
11. Xem phim và tranh ảnh khiêu dâm hoặc tiểu thuyết lãng mạn đồ họa như hình thức “giải trí vô hại” có thể dẫn đến ly hôn.
Khi bạn hành động theo tưởng tượng tình dục ngoài vợ/chồng mình, đó là hành vi ngoại tình trong tâm trí. Mọi sự thân mật thực thụ và mọi sự ngoại tình đều bắt đầu từ tâm trí; không phải trong phòng ngủ. Nếu con mắt và suy nghĩ của bạn rời xa vợ/chồng mình thì tấm lòng bạn sẽ đi theo. Hai nghìn năm trước, Chúa Giê-su đã dạy rằng ” nhìn phụ nữ mà ham muốn thì trong lòng đã phạm tội tà dâm với người ấy rồi”. Đừng chỉ chung thủy về mặt thể xác. Hãy cố gắng chung thủy về mặt tinh thần.
Tôi tin rằng điều thứ 12 là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến ly hôn…
12. Sự ích kỷ có thể dẫn đến ly hôn.
Về bản chất thì TẤT CẢ chúng ta đều ích kỷ, nhưng hôn nhân chỉ có thể thành công khi chúng ta gạt sự ích kỷ sang một bên và đặt nhu cầu của vợ/chồng lên trên nhu cầu của bản thân. Khi CẢ HAI vợ chồng đều sẵn lòng yêu thương và phục vụ nhau cách vô tư như vậy, hôn nhân sẽ nảy nở. Phần khó là BẠN phải sẵn sàng đi trước và vị tha ngay cả trong những lúc anh ấy/cô ấy không đáp lại. Hành động của bạn có thể thay đổi cục diện. Hãy chọn làm thiết bị điều nhiệt chứ đừng làm nhiệt kế. Nhiệt kế luôn điều chỉnh theo khí hậu trong phòng, nhưng thiết bị điều nhiệt THAY ĐỔI khí hậu trong phòng. Chính bạn hãy là sự thay đổi. Bạn có thể có nhiều ảnh hưởng hơn bạn nghĩ!
Tác giả bài viết, Dave Willis là tác giả của những cuốn sách bán chạy, người làm podcast và là một trong những blogger về mối quan hệ được đọc nhiều nhất trên internet. Ông và vợ mình, Ashley, cùng nhau tạo ra các nguồn tài nguyên về hôn nhân và gia đình như một phần của mục vụ MarriageToday.
– Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc –
*Quan điểm của bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của Đội ngũ Ba-rúc
Mọi người thường hỏi tôi rằng các hội thánh và các cá nhân Cơ Đốc có thể làm gì để chăm sóc và an ủi những người đang phải trải qua quãng thời gian đau buồn. Đây là một câu hỏi mà tôi luôn vui vẻ đón nhận và luôn vui vẻ khi cố gắng trả lời. Và có rất nhiều điều mà các cá nhân và cộng đồng có thể làm để mang đến sự an ủi—họ có thể cầu nguyện, họ có thể đến thăm, họ có thể mang đồ ăn đến và giúp đỡ những điều khác, họ có thể nhớ những ngày quan trọng và tiếp tục bày tỏ sự quan tâm trong nhiều tháng hoặc thậm chí nhiều năm sau đó. Bằng những cách này và rất nhiều cách khác, họ có thể góp phần mang lấy gánh nặng của những người mà mình yêu thương.
Tuy nhiên, tôi cũng cảm thấy cần phải nói một lời với những người đang phải chịu đựng thời gian thử thách và đó là một lời xuất phát từ thực tiễn. Trong vài năm qua, rất nhiều người đau buồn đã tìm đến tôi để bộc lộ cảm giác cô đơn sâu sắc. Đôi khi họ tự hỏi liệu bạn bè của mình có làm mình thất vọng hay liệu hội thánh của mình có quên làm tròn bổn phận với mình hay không. Và đối với những người đang phải chịu đựng thử thách của nỗi đau buồn cộng thêm thử thách của nỗi cô đơn, tôi xin nói thế này: trong nỗi đau buồn có sự cô đơn. Khi đau buồn, bạn vẫn cô đơn ngay cả khi ở trong cộng đồng, cô đơn ngay cả khi được những người yêu thương và giúp đỡ mình vây quanh. Trong nỗi đau buồn có sự cô đơn khi bạn là người duy nhất đau buồn và cô đơn trong lúc khóc than với những người khác. Thật đáng tiếc, nhưng không thể tránh khỏi, chỉ đơn giản là cô đơn vậy thôi.
Hàng ngàn năm trước, Sa-lô-môn đã viết câu châm ngôn này: “Nỗi cay đắng của tâm hồn chỉ lòng mình biết, Niềm vui trong thâm tâm đâu chia sẻ được với người ngoài.” (Châm ngôn 14:10). Điều ông muốn chúng ta suy ngẫm là không ai khác có thể biết hoặc hiểu hết những gì chúng ta đang phải chịu đựng trong nỗi sầu khổ của mình. Thực ra bản thân chúng ta cũng không thể biết hoặc hiểu hết những gì chúng ta đang phải chịu đựng trong nỗi sầu khổ của mình. Chúng ta đơn giản là không có khả năng dò thấu tận sâu trong lòng mình rồi sau đó bộc lộ những gì chúng ta tìm thấy ở đó. Chúng ta không biết, không hiểu, không diễn đạt được. Và nếu đến chúng ta cũng không thể bày tỏ cho thỏa đáng hoặc thậm chí hiểu được nỗi đau buồn của mình, thì sao người khác có thể đây? Sao họ có thể an ủi chúng ta hoàn toàn? Thực tế hơn, chúng ta sẽ cần chấp nhận và thỏa lòng với sự an ủi đôi phần và không trọn vẹn.
Nhưng vẫn còn hy vọng, vì ngay cả khi những người khác không thể hiểu hết nỗi buồn của chúng ta, thì Đức Chúa Trời chắc chắn có thể. Trên thực tế, Ngài có thể hiểu chúng ta ở mức độ mà ngay cả chúng ta cũng không thể hiểu chính mình. Ngài là thầy tế lễ thượng phẩm có thể cảm thông với mọi sự yếu đuối của chúng ta, là người sẵn lòng gánh mọi gánh nặng của chúng ta vì một lẽ thật đẹp là Ngài quan tâm đến chúng ta (Hê-bơ-rơ 4:15, 1 Phi-e-rơ 5:7). Ngài là Đấng nhìn vào tấm lòng và hiểu chúng ta hơn cả chúng ta hiểu chính mình. Những gì giấu kín với chúng ta được bày lộ cho Ngài và những gì mù mờ với chúng ta lại rõ ràng với Ngài. Sự an ủi của Ngài đến từ sâu thẳm tấm lòng, được truyền đến con người bên trong bởi Đức Thánh Linh ngự trong lòng.
Tuy nhiên, ngay cả như vậy, chúng ta cũng không thể mong rằng mình sẽ tiếp tục được chữa lành hoàn toàn và trọn vẹn, vì đây không phải là thời điểm cũng như nơi chốn cho sự an ủi sau cùng. Chúa có mục đích trong nỗi đau buồn của chúng ta. Ngài muốn chúng ta mang lấy chúng mà không được chữa lành hoàn toàn, mang chúng với sự thuận phục đầy tin cậy, mang chúng đến vạch đích. Ngài định cho những nỗi đau buồn đó đưa con mắt và tấm lòng chúng ta từ đây đến đó, từ hữu hạn đến vĩnh hằng, từ nơi đầy đau buồn này đến nơi đầy vui sướng kia.
Những ai đang trải qua thời gian đau buồn có thể và nên mong mình nhận được sự an ủi từ những người yêu thương và quan tâm đến mình. Tuy nhiên, nó sẽ giống như sự an ủi mà chính họ đã dành cho người khác trong quá khứ—yêu thương, quan tâm và có ý tốt, nhưng tất nhiên là không trọn vẹn. Phải đón nhận sự an ủi như vậy một cách biết ơn nhưng cũng thực tế, vì nỗi đau buồn của chúng ta cuối cùng phải được trao phó cho Đấng nhìn thấy, Đấng biết và hiểu mọi thứ—Đấng đã hứa rằng sớm thôi, khi các kế hoạch và mục đích của Ngài được hoàn tất, Ngài sẽ chỉnh đốn lại mọi điều.
Tác giả: Tim Challies
– Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc –
*Quan điểm của bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của Đội ngũ Ba-rúc
Gần đây có rất nhiều câu chuyện về các mục sư và những lãnh đạo mục vụ khác bị sa ngã hay phạm tội. Đây không phải là một trong những câu chuyện như vậy. Bài viết này nói về những mục sư và người lãnh đạo khiến đội ngũ không tin rằng họ sẽ giữ lời. Họ không phải là người xấu và tôi không nói về những kẻ nói dối trắng trợn. Tôi đang nói về những nhà lãnh đạo hay đổi ý, đưa ra những quyết định hấp tấp hoặc rút lại lời mình nói, làm cho những người bạn thân nhất và nhân viên của họ không còn tin tưởng vào quyết định của họ nữa.
Điều này xảy ra vì một số lý do:
1) Họ có thể là người muốn vừa lòng mọi người và nói những gì người ta muốn nghe—dù họ không có ý định thật sự làm theo những lời mình nói.
2) Họ đưa ra quyết định bốc đồng rồi sau đó nhận ra rằng những gì mình nói không được hay cho lắm.
3) Họ đưa ra quyết định khi chưa nhận được những lời khuyên hữu ích và sau đó phải rút lại lời mình nói.
4) Họ bị cuốn vào cảm xúc nhất thời và đưa ra những quyết định, tuyên bố công khai mà sau này họ phải hối hận.
Chuyên gia tư vấn mục vụ và blogger Tony Morgan cho biết:
Chúng ta cần đảm bảo rằng mình thực hiện lời mình nói. Nếu không thể hoặc không có kế hoạch thực hiện thì chúng ta không nên nói lời đó. Vấn đề là các nhà lãnh đạo hay muốn làm vừa lòng mọi người. Chúng ta sợ nói sự thật nếu sự thật đó có thể khiến ai đó không thích mình. Tuy nhiên, về lâu dài, tôi thà bị người ta không thích còn hơn làm mất lòng tin.
Một trong những chuyên gia lãnh đạo sâu sắc nhất trong hội thánh hiện nay là Tiến sĩ Sam Chand. Ông đã viết một cuốn sách tuyệt vời mang tên “Giải Mã Văn Hóa Của Hội Thánh Bạn” (Cracking Your Church’s Culture Code). Hãy đọc cuốn sách này. Bất cứ lãnh đạo nào cũng có thể tìm thấy một lượng thông tin khổng lồ trong cuốn sách về lòng tin và cách tạo ra một văn hóa tổ chức mạnh mẽ. Sam cho biết:
A. Mọi thứ đều phát triển và sụp đổ dựa trên lòng tin.
B. Lòng tin là “tiền tệ” trong tương tác giữa người với người.
C. Lòng tin được xây dựng hàng ngày giữa mọi người và các tổ chức ở mọi cấp độ.
D. Hành vi yếu kém của nhiều nhà lãnh đạo trong mọi lĩnh vực của cuộc sống đã tạo ra một nền văn hóa ngờ vực chung.
Suy cho cùng thì quyết định của bạn rất quan trọng vì chúng làm nền tảng cho hoạt động của đội ngũ bạn. Nếu lời nói của bạn không đáng tin cậy thì sự hỗn loạn sẽ xảy ra vì đội ngũ của bạn đã mất đi la bàn.
Hãy ngừng đưa ra quyết định dựa trên cảm xúc, sự bốc đồng hoặc bất cứ điều gì khác ngoài những thông tin đúng đắn, suy nghĩ nghiêm túc cùng kinh nghiệm, lời cầu nguyện và lời khuyên. Hãy đưa ra những quyết định đáng tin cậy trong hôm nay, ngày mai và cả tương lai.
Tôi có thể đảm bảo rằng đội ngũ của bạn sẽ cảm ơn bạn và kết quả sẽ thật đáng kinh ngạc.
Phil Cooke, tác giả bài viết là Tiến sĩ, nhà làm phim, cố vấn truyền thông và người sáng lập Cooke Media Group tại Los Angeles và Nashville, Hoa Kỳ
– Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc –
*Quan điểm của bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của Đội ngũ Ba-rúc
Lễ khai mạc Thế vận hội Olympic Paris 2024 đã gây tranh cãi vì một tác phẩm nhại lại bức tranh Bữa Tiệc Ly nổi tiếng của Leonardo da Vinci. Hoàn thành vào những năm 1490, bức bích họa mang tính biểu tượng này, hiện vẫn lưu trên một bức tường rộng 9 mét x 4.5 mét ở Milan, Ý, đã hình thành nên trí tưởng tượng Cơ Đốc về khoảnh khắc quan trọng trong Kinh thánh ấy trong hơn 500 năm.
Cuối tuần vừa rồi, trên mạng xã hội đã nảy ra một cuộc tranh luận về việc các giám đốc nghệ thuật của Lễ khai mạc Paris có định tạo ra một tác phẩm nhại lại Bữa Tiệc Ly hay nhại lại Lễ hội Dionysus trong Thần thoại Hy Lạp hay không. Tuy nhiên, sự pha trộn lẫn lộn hình tượng tôn giáo—đặt các nghệ sĩ giả nữ (và còn hơn thế nữa) vào vị trí của các vị thánh và Chúa Cứu Thế, rồi đặt vị thần tiệc tùng của Hy Lạp vào trung tâm của bữa tiệc—đã gây ra sự náo động.
Một số người thấy bị xúc phạm bởi cảnh tượng đó. Những người khác thấy bị xúc phạm bởi những người thấy bị xúc phạm bởi cảnh tượng đó.
Cơ Đốc nhân (và nhiều người khác) trên khắp thế giới đã có lý khi cảm thấy bị xúc phạm, bởi vì cảnh tượng này, chà, khá là xúc phạm. Nó chế giễu một khoảnh khắc có tính trọng tâm trong lịch sử Cơ Đốc, cũng như một tác phẩm có tính trọng tâm trong nghệ thuật Cơ Đốc đã tồn tại trong trí tưởng tượng của những người theo Chúa Giê-su trong nửa thiên niên kỷ.
Sau đây là một số điểm then chốt để Cơ Đốc nhân suy nghĩ và ứng phó với tình huống này.
1. Cơ Đốc nhân nên sẵn sàng nhận thấy những gì ở trước mắt họ.
Một số người (bao gồm cả Cơ Đốc nhân) đã phủ nhận mọi mối liên hệ nào giữa Lễ khai mạc với Bữa Tiệc Ly. Ví dụ, có người đã bình luận với tôi rằng, “Anh sao vậy? Tôi sẽ không bao giờ liên hệ cái đó với Bữa Tiệc Ly. Tôi đoán là anh chỉ thấy những gì anh muốn thấy thôi.”
Nhưng Thế vận hội Paris đã xác nhận rằng cảnh này thực sự lấy cảm hứng từ bức tranh mang tính biểu tượng của da Vinci, như ESPN, The Guardian và The New York Times đã đưa tin.
Tờ New York Times đưa tin (trước khi có xác nhận trên) rằng “‘Ý tưởng về nhân vật trung tâm với vầng hào quang và một nhóm môn đồ ở hai bên—điều này quá điển hình cho biểu tượng Bữa Tiệc Ly đến nỗi hiểu theo bất kỳ cách nào khác đều có thể là hơi khinh suất,’ Sasha Grishin, một nhà sử học nghệ thuật và giáo sư danh dự tại Đại học Quốc gia Úc cho biết.”
Để làm rõ hơn, cuộc tranh luận dữ dội trên mạng xem màn trình diễn này mô tả điều gì đã được giải quyết. Sau một tuyên bố không rõ ràng từ người nghệ sĩ như tấm bình phong chống lại bất kỳ ai nêu ra mối quan ngại – thậm chí là rất nhẹ, Thế vận hội đã đưa ra một tuyên bố rõ ràng rằng màn trình diễn đó thực sự được lấy từ Bữa Tiệc Ly.
Nhiều người, trong đó có một số Cơ Đốc nhân, thực sự muốn chứng minh rằng Cơ Đốc nhân thật ngu ngốc— ngay cả khi một giáo sư nghệ thuật chuyên môn đã cho rằng “hơi khinh suất” khi nhìn nhận màn trình diễn đó theo bất kỳ cách nào khác. Một số người nhanh chóng phản đối rằng người Tin Lành Hoa Kỳ quá nhạy cảm và có mặc cảm bị bắt bớ. Tuy nhiên, những lời phàn nàn gay gắt nhất đến từ người Công giáo La Mã ở Pháp, các lãnh đạo Cơ Đốc từ Nam toàn cầu và các vận động viên Olympic Cơ Đốc.
Như Sarah-Jane Murray đã chỉ ra: “Những cuộc gọi đầu tiên đến ủy ban Olympic là từ một giám mục người Pháp, thành viên của phái đoàn Tòa thánh đến tham dự thế vận hội, và cả tổng giám mục Malta, một phần là vì những lời phàn nàn từ chính các vận động viên”.
Chúng ta nên sẵn sàng nhìn nhận thực tế bày ra trước mắt mình. Và chúng ta nên tin tưởng những điều tốt nhất về những anh chị em của mình trong Đấng Christ.
2. Thấy bị xúc phạm khác với phẫn nộ.
Tôi đã viết cả một cuốn sách về vấn đề phẫn nộ, “Cơ Đốc Nhân Trong Thời Đại Phẫn Nộ: Làm Sao Để Mang Đến Những Điều Tốt Đẹp Nhất Khi Thế Giới Đang Ở Thời Kỳ Tồi Tệ Nhất.” Trong cuốn sách đó, tôi đã chỉ ra những vấn đề với sự phẫn nộ. Tôi đã giải thích xem Cơ Đốc nhân đã trở nên phẫn nộ trước những điều ngớ ngẩn như thế nào, chẳng hạn như cuộc tranh cãi về “Chiếc cốc đỏ” tại Starbucks.
Vào năm 2015, một Cơ đốc nhân là nhà sáng tạo trên mạng xã hội đã đăng một bài viết chỉ trích Starbucks đã loại bỏ hình ảnh lễ hội khỏi cốc của họ. Anh ta tức giận vì Starbucks ghét Cơ Đốc nhân và Giáng sinh—vì Starbucks đã loại bỏ những bông tuyết, người tuyết và cây cối khỏi những chiếc cốc lễ hội màu đỏ của họ. Chúng ta hoàn toàn có lý khi phản đối sự phẫn nộ ngớ ngẩn như vậy. Tôi không khuyến khích Cơ Đốc nhân phẫn nộ bất chính về Thế vận hội Paris hay bất cứ điều gì khác.
Sự phẫn nộ khác với cảm giác bị xúc phạm một cách chính đáng. Như tôi đã nói trong “Cơ Đốc Nhân Trong Thời Đại Phẫn Nộ,” sự phẫn nộ là không tương xứng, ích kỷ, gây chia rẽ, bản năng, hống hách và không trung thực. Ngược lại, cảm giác bị xúc phạm đi ngược lại với những thói xấu này. Cảm giác bị xúc phạm một cách chính đáng là tương xứng, tập trung vào Đức Chúa Trời và những người lân cận, đoàn kết, phải lẽ và có tính thuộc linh, có tấm lòng phục vụ và trung thực.
Tuy một số Cơ Đốc nhân và những người khác có thể đã sa vào sự phẫn nộ không thánh nhưng tôi tin rằng nhiều người trong chúng ta chỉ đơn giản là cảm thấy bị xúc phạm một cách chính đáng đối với cảnh tượng tại Lễ khai mạc ở Paris.
Cảnh tượng đó không phù hợp. Hơn nữa, đó chỉ là một trong hàng loạt các cảnh xúc phạm trong kỳ lễ khai mạc.
3. Chúng ta cần lên tiếng khi người ta sử dụng các biểu tượng đức tin của mình một cách xúc phạm.
Chúa truyền lệnh cho chúng ta không được yêu thế gian: “Chớ yêu thế gian cùng những gì trong thế gian” (1 Giăng 2:15). Lưu ý rằng câu đó không nói “chớ yêu… những người trong thế gian”. Chúng ta yêu những người trong thế gian—những người lân cận của mình—nhưng chúng ta khước từ tội lỗi dưới mọi hình thức. Chúng ta không để người ta chế giễu thiết kế của Chúa đối với tình dục của con người và chế giễu sự hy sinh của Đấng Christ.
Vì yêu những người lân cận của mình nên chúng ta nói sự thật trong tình yêu thương (Ê-phê-sô 4:15). Vì chúng ta yêu Chúa Giê-su nên chuyện chế giễu sự hiệp thông yêu thương của Ngài với chúng ta phải là điều đáng ghê tởm đối với chúng ta.
Biểu tượng là một phần quan trọng trong cách con người truyền đạt ý nghĩa cho nhau. Một số biểu tượng như biển báo dừng hoặc từ “cây” truyền đạt một loại ý nghĩa rất bề ngoài và chung chung. Những biểu tượng khác, như thập tự giá hoặc vầng hào quang thiên thượng đặt trên đầu một vị thánh trong bức tranh, truyền tải những niềm tin sâu sắc và siêu việt.
Những loại biểu tượng này trở nên thực sự thiêng liêng đối với những ai tìm thấy ý nghĩa trong chúng, vì cớ những gì chúng đại diện—giống như bức ảnh của người thân yêu mà bạn đã không gặp trong nhiều năm vậy. Chế giễu những biểu tượng thiêng liêng này cũng giống như vò nát bức ảnh của người thân yêu của ai đó rồi chế giễu phản ứng của họ.
Ở cấp độ cơ bản của con người, thấy bị xúc phạm khi người ta dùng sai các biểu tượng thiêng liêng là chuyện bình thường.
Cũng ở cấp độ cơ bản của con người, muốn tránh dùng sai các biểu tượng thiêng liêng của người khác là điều tốt. Trên thực tế, điều này là nền tảng cho sự khoan dung trong một xã hội đa nguyên.
Kết luận Mục sư Lutheran Jordan Cooper đã nói trên trang mạng xã hội X, “Có những Cơ Đốc nhân trên trang web này đang trách cứ những Cơ Đốc nhân khác chỉ vì họ thấy bị xúc phạm khi người ta chế giễu Chúa Cứu Thế của mình – đây là một thực tế là hoàn toàn không thể tin được.” Những phản ứng như vậy có thể khó tin hoặc không khó tin, nhưng đừng có chấp nhận những phản ứng như vậy.
Thay vì trách những Cơ Đốc nhân khác, Cơ đốc nhân nên hiệp nhất lại và nói rằng, “Chúng tôi không để các anh chế giễu chúng tôi, ngay cả khi chúng tôi yêu thương những người chế giễu.” Chính Chúa Giê-su đã đuổi những người đổi tiền trong đền thờ, cũng đã cầu nguyện cho những kẻ hành quyết mình, ““Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết mình làm điều gì.” (Lu-ca 23:34).
Chúng ta có thể yêu thương những người lân cận mà không yêu thế gian. Chúng ta có thể khước từ những điều gây xúc phạm và lên tiếng chống lại chúng mà không phản bội sứ mệnh của mình. Chúng ta có thể khước từ sự phẫn nộ trong khi vẫn thấy mình bị xúc phạm một cách chính đáng. Thấy mình bị xúc phạm bởi những điều gây xúc phạm thực ra lại là một điều tốt và đúng đắn cần làm.
– Tác giả bài viết, tiến sĩ Ed Stetzer là giáo sư và trưởng khoa tại Đại học Wheaton, ông cũng là Giám đốc Điều hành của Trung tâm Billy Graham tại Đại học này. Ông đã xây dựng, hồi sinh và chăm sóc các hội thánh; các mục sư được đào tạo và những người mở mang hội thánh trên sáu lục địa; lấy hai bằng thạc sĩ và hai bằng tiến sĩ; đã viết hàng trăm bài báo và hàng chục cuốn sách. Ông là Giám đốc khu vực của Lausanne Bắc Mỹ, Tổng biên tập của Tạp chí Outreach và thường xuyên viết bài cho các hãng tin như USA Today và CNN. Chương trình phát thanh quốc gia của ông, Ed Stetzer Live, phát sóng vào Thứ Bảy trên Đài phát thanh Moody và các chi nhánh. Ông phục vụ tại hội thánh địa phương – Hội thánh Highpoint với tư cách là mục sư giảng dạy. Tiến sĩ Stetzer hiện đang sống ở Anh và giảng dạy tại Đại học Oxford.
– Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc –
*Quan điểm của bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của Đội ngũ Ba-rúc
GiangluanKinhThanh.net – Với bối cảnh toàn cầu hóa và nền âm nhạc thờ phượng bị chi phối bởi những “ông lớn” như hiện nay, việc lựa chọn âm nhạc thờ phượng là điều không hề đơn giản. Làm sao để biết phải đón nhận hoặc từ chối những ảnh hưởng từ bên ngoài mà vẫn giữ được bản sắc dân tộc trong hội thánh là câu hỏi mà mỗi hội thánh Việt Nam cần đặt ra. Bài viết dưới đây trình bày những nỗ lực của một phong trào Cơ Đốc ở một đất nước có tiếng là yêu thích dòng nhạc ngợi khen phương Tây như Philippines —thị trường lớn thứ hai của Hillsong. Một nhóm các hội thánh và người dẫn thờ phượng tại đây đã kết hợp giữa sáng tác nhạc, dịch các bài hát thờ phượng sang tiếng mẹ đẻ và chủ định phát triển kho bài hát cho phù hợp với hội chúng của mình. Nỗ lực này còn được hãng thu âm lớn như Sony Music Philippines để mắt đến và cho ra đời một nhãn hiệu âm nhạc Cơ Đốc riêng.
Ảnh: Ca sỹ Cơ đốc Phillipines Darla Baltazar
Arnel Cadeliña, một mục sư và người dẫn thờ phượng ở Manila, nhớ lại lúc cha mẹ ông gọi điện cho người thân duy nhất “được tái sinh” của họ để nhờ giúp đỡ. Đó là năm 1983, Cadeliña 12 tuổi và gia đình ông tin chắc rằng em gái ông đã bị quỷ ám. Cadeliña nhớ lại: “Anh ấy xuất hiện với hai cây đàn guitar và hai người ca hát. “Rồi anh ấy nói: ‘Đừng bận tâm đến nó, hãy để tâm đến danh trên hết mọi cái danh’ và họ dẫn chúng tôi hát những bài thờ phượng.”
Cadeliña nhớ mình đã hát những khúc ngợi khen đơn giản như “Này Ngày Hôm Nay” và cầu nguyện. Ông nói rằng ông đã chứng kiến hai phép lạ vào ngày hôm đó: Em gái ông được giải cứu và gia đình ông được cải đạo.
“Chúng tôi không biết Kinh thánh, chúng tôi không hiểu Đức Chúa Trời nhưng Ngài đã đến trong quyền năng của âm nhạc, quyền năng của sự thờ phượng nơi chúng tôi”.
Âm nhạc ngợi khen và thờ phượng đương đại từ Hoa Kỳ, Úc và Vương quốc Anh đã là một phần trong hành trình đức tin của Cadeliña kể từ những ngày đầu.
Giống như nhiều Cơ Đốc nhân Tin lành ở Philippines, ông tăng trưởng trong đức tin khi hát các bài hát từ băng cassette của Integrity’s Hosanna Music trong những năm 80 và 90, được truyền bá bởi các giáo sĩ và trong mạng lưới hội thánh quần chúng. (“Này Ngày Hôm Nay,” bài hát mà Cadeliña nhớ lại khi hát, do Integrity quản lý và phân phối.)
Với ảnh hưởng của âm nhạc thờ phượng phương Tây, các nhà lãnh đạo người Philippines như Cadeliña đang cố gắng cân bằng giữa âm nhạc địa phương với những bản hit nổi tiếng đến từ ngành công nghiệp âm nhạc thờ phượng do Mỹ chi phối.
Cadeliña hiện đang lãnh đạo Hội thánh FIJ (Faith in Jesus) City ở Manila cùng với vợ ông, Jessica, người dẫn thờ phượng của hội thánh. Đây là một hội thánh Tin lành độc lập, có khán phòng trông rất giống khán phòng của một hội thánh phi hệ phái ở Mỹ: chủ yếu là màu đen, với sân khấu được chiếu sáng bằng đèn LED thông minh, được trang bị hệ thống âm thanh và các nhạc cụ cao cấp.
Vợ chồng Cadeliña đều là nhạc sĩ, họ viết và thu âm các bài hát nguyên bản cho hội thánh của mình và hướng dẫn các buổi hội thảo đào tạo cho các nhạc công hội thánh trong khu vực. Arnel yêu thích dòng nhạc ngợi khen và thờ phượng của phương Tây đã hình thành nên đức tin của mình, nhưng quyết tâm không để nó chi phối các hoạt động âm nhạc trong hội thánh mình. Đối với mỗi buổi lễ, họ cố gắng lên hai bài hát bằng tiếng Tagalog và hai bài hát bằng tiếng Anh (hai ngôn ngữ chính thức của Philippines).
Ông nói: “Trong nhiều tuần, có một đội đã lên một loạt các bài hát của Hillsong và Planetshakers. Nếu chúng tôi không đưa ra quyết định hát các bài địa phương, chúng tôi sẽ bị choáng ngợp” trước những lựa chọn và tầm ảnh hưởng toàn cầu.
Bởi vì Cơ Đốc giáo đến Philippines qua quá trình thuộc địa hóa nên Hội thánh Philippines luôn chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa phương Tây. Ngày nay, Philippines chỉ đứng sau Mỹ với 17% thị phần khán giả toàn cầu của Hillsong Worship, theo Chartmetric (lượng khán giả ở Mỹ là 28%). Và Philippines là khán giả chính của nhóm Planetshakers của Úc (chiếm 33% lượng người nghe nhóm này).
Ở vùng đô thị Manila, hầu hết các hội thánh Philippines sử dụng âm nhạc đương đại đều hát sự pha trộn giữa tiếng Anh và tiếng Tagalog vào các buổi sáng Chủ nhật. Đôi khi, các hội chúng hát một bài hát bằng cả hai ngôn ngữ (chẳng hạn như các câu bằng tiếng Tagalog và phần điệp khúc bằng tiếng Anh) và nghe giảng bằng thứ tiếng pha trộn giữa hai ngôn ngữ, Taglish.
Những người dẫn thờ phượng hiếm khi có thể tìm thấy bản dịch bài hát thờ phượng chính thức bằng tiếng Tagalog (hoặc bằng bất kỳ ngôn ngữ nào trong số hơn 150 ngôn ngữ bản địa khác tại Philippines), vì vậy một số nhạc sĩ địa phương đang nỗ lực phát triển kho bài hát của riêng họ.
Gloryfall, một nhóm những người dẫn thờ phượng quanh Manila, đã và đang thực hiện dịch các bài hát thờ phượng phổ biến kể từ sau đại dịch Covid-19. Họ đã nhận được sự chấp thuận từ các nghệ sĩ thu âm nguyên bản để sản xuất bản dịch của hơn 30 bài hát nổi tiếng, bao gồm Vua Muôn Vua (“King of Kings”) và Đấng Đã Gọi Con (“Who You Say I Am”) từ Hillsong.
Tay trống Harald Huyssen, một cựu giáo sĩ thiếu nhi và là giảng viên tại Nhạc viện Đại học Santo Tomas tại Manila cho biết: “Chúng tôi đã nhận được rất nhiều phản hồi từ những Cơ Đốc nhân địa phương. Họ nói rằng việc có những bài hát này bằng tiếng Tagalog thực sự có ý nghĩa”.
Chester Elmeda, người chơi keyboard của Gloryfall, cho biết: “Hát đoạn điệp khúc cuối cùng của một bài bằng tiếng Tagalog sẽ tập hợp cả hội chúng”. “Tôi luôn mong chờ phần kết của Vua Muôn Vua, khi mọi người bắt đầu hát bằng ngôn ngữ của tôi. Đó chính là sức mạnh của tiếng mẹ đẻ.”
Gloryfall thu âm nhạc của riêng họ và điều hành một phòng thu cho các nhạc sĩ địa phương khác sử dụng. Nhóm đã thấy người ta ngày càng hào hứng với với âm nhạc quần chúng bằng tiếng Tagalog.
Rye Pecardal, tay bass của nhóm cho biết: “Người Philippines dễ dàng tiếp cận giáo lý và thần học bằng tiếng mẹ đẻ của chúng tôi hơn”.
Sự phát triển của thị trường âm nhạc thờ phượng Philippines đã thu hút sự chú ý của ngành công nghiệp âm nhạc toàn cầu. Năm 2021, Sony Music Philippines ra mắt nhãn hiệu Cơ Đốc mới, Waterwalk Records. Gloryfall là một trong những ban nhạc đầu tiên tham gia.
Huyssen cho biết: “Tôi đánh giá cao việc nền công nghiệp này nhìn thấy giá trị của âm nhạc Cơ Đốc Philippines và một hãng thu âm lớn đang hỗ trợ công việc này”. “Tại sao lại không có nhãn hiệu Cơ Đốc nhỉ? Thật thú vị khi phải mất một thời gian dài đến như vậy. Sony là một doanh nghiệp, họ nhìn thấy giá trị.”
Trên phạm vi toàn cầu, sự trao đổi âm nhạc vẫn còn tương đối phiến diện.
Huyssen cho biết: “Với tình trạng hiện tại của nền công nghiệp này, việc gửi âm nhạc theo cách khác là gần như bất khả thi”. Phần còn lại của thế giới mong muốn đạt được mức sản xuất như Nashville, bất chấp kết quả tốt hay xấu. Đó không phải là một sân chơi bình đẳng”.
Nhiều người dẫn thờ phượng và nhạc công hội thánh người Philippines coi các câu hỏi về nguồn gốc là gây mất tập trung hoặc phản tác dụng, đồng thời cũng thừa nhận rằng để một bộ phận của hội thánh toàn cầu thống trị nền âm nhạc là không đáp ứng được tiêu chí “ở đất cũng như ở trời”.
Elmeda nói: “Chúng ta phải bắt đầu với tư duy vương quốc, trái ngược với tư duy bán cầu. “Những chủ đề hay nhất luôn đến từ Lời Chúa. Không có sự cạnh tranh. ‘Diệu Thay Là Chúa Ta’ đã loại bỏ cái ‘tôi’ ra khỏi đó.”
Khi một bài hát từ Mỹ không đồng điệu thì họ không sử dụng nó. Huyssen cho biết một số bài hát phương Tây nói về những thử thách và tranh chiến không phù hợp với lời bài hát tiếng Anh do một nghệ sĩ nổi tiếng người Mỹ viết.
Huyssen nói: “Sự tranh chiến về vật chất của người Mỹ không thật sự liên quan đến sự tranh chiến về vật chất của người Philippines. Nhưng những bài hát theo chiều dọc hơn, như ‘Diệu Thay Là Chúa Ta’ (How Great Is Our God) hay ‘Ngàn Lời Chúc Tán (10,000 Reasons)’, đều có chủ đề phổ quát. Đức Chúa Trời đang sử dụng những bài hát này một cách mạnh mẽ tại đây.”
Các nhà lãnh đạo Philippines rất quan tâm đến ngành công nghiệp âm nhạc thờ phượng rộng hơn và có rất nhiều sự khác biệt trong cách các nhà lãnh đạo hội thánh lựa chọn để giải quyết các vấn đề về chọn nhạc, tương tự như ở Mỹ.
“Chắc chắn rồi, có những hội thánh ở đây sẽ cấm các bài hát của Bethel hoặc Hillsong. Người ta chú ý đến nó,” Jessica Cadeliña nói. Nhưng tại hội thánh của họ, các quyết định về một bài hát cụ thể được đưa ra dựa trên giá trị của bài hát ấy. “Không phải là về nhóm nhạc, mà là về Chúa Giê-su.”
Arnel Cadeliña nói: “Mỗi hội thánh có một nền văn hóa. Bạn phải điều chỉnh âm nhạc của mình cho phù hợp với hội chúng và các nhạc công của mình. Chúng tôi muốn chơi nhạc của Israel Houghton—anh ấy rất hay. Nhưng nhạc ấy lại khó chơi quá!”
Mục vụ âm nhạc thờ phượng của Cadeliñas đã phát triển kể từ khi họ bắt đầu tổ chức các buổi đào tạo và hội thảo vào năm 2003. Họ được biết đến với cái tên “Malayang Pilipino” (“Người Philippines tự do”). Đó là tên ca khúc chủ đề trong album đầu tiên của họ, được viết vào năm 1998 để kỷ niệm 100 năm ngày Philippines được giải phóng khỏi Tây Ban Nha.
Cái tên cứ thế nảy ra một cách hoàn toàn tình cờ. “Malayang Pilipino” đã tiếp tục gây được tiếng vang khi Cadeliñas, Gloryfall và các nhà lãnh đạo khác điều hướng mục vụ âm nhạc, cân bằng quyền tự do đón nhận hoặc từ chối những ảnh hưởng từ bên ngoài với cam kết tôn vinh bản sắc Philippines trong hội thánh.
Tác giả bài viết: Kelsey Kramer Mcginnis –
Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc –
*Quan điểm của bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của Đội ngũ Ba-rúc
Nhiều hội nghị Cơ đốc đã được tổ chức tại quốc gia Phật giáo này, nhưng đức tin Cơ đốc tại đây vẫn chưa bén rễ. Năm lãnh đạo hội thánh trình bày lý do tại sao.
Ảnh: Lễ báp-têm kỷ lục tại Thái lan diễn ra vào năm 2020, khi 20 mục sư dàn hàng ngang để làm lễ báp-têm nước cho 1435 người mới tin Chúa.
Ở châu Á, Thái Lan là địa điểm lý tưởng cho các hội nghị Cơ Đốc giáo. Nhờ thời tiết nắng ấm, chi phí sinh hoạt thấp, nhiều khách sạn và gần các quốc gia đóng cửa đối với các giáo sĩ, Thái Lan thường là nơi quy tụ các giáo sĩ và tổ chức truyền giáo quốc tế. Tuy người theo Phật giáo Nguyên thủy chiếm khoảng 93% dân số nhưng chính phủ Thái Lan vẫn cởi mở và thân thiện với các nhóm Cơ Đốc giáo, đến mức nước này đã trở thành địa điểm phổ biến cho nhiều trụ sở cơ quan truyền giáo.
Tuy Cơ Đốc nhân được tự do tại Thái Lan nhưng không vì thế mà Cơ Đốc giáo được người Thái bản địa tiếp nhận rộng khắp. Dù công tác truyền giáo Tin lành đã kéo dài gần 200 năm nhưng chỉ có khoảng 1,2% dân số là Cơ Đốc nhân. Câu hỏi tại sao Thái Lan lại là mảnh đất khó cho hạt giống Tin lành phát triển đã khiến các giáo sĩ đau đầu, vì nhiều người đã không thu được kết quả gì sau nhiều năm học tiếng Thái, xây dựng mối quan hệ và cố gắng giới thiệu Tin lành cho người dân địa phương.
Tờ Christianity Today đã hỏi hai giáo sĩ và ba lãnh đạo hội thánh Thái Lan xem theo họ thì tại sao tốc độ tăng trưởng ở Thái Lan lại chậm đến vậy và có thể làm gì để giúp người Thái kết nối tốt hơn với Tin lành. Họ chỉ ra thực tế của cuộc chiến thuộc linh, thách thức trong việc truyền đạt các khái niệm Cơ Đốc cho người Thái, tình trạng thiếu môn đồ và vai trò của Phật giáo trong bản sắc văn hóa của người Thái.
Allan Eubank, người đồng sáng lập Thai Christian Foundation (Tổ chức Cơ Đốc Thái Lan) và là giáo sĩ ở Thái Lan trong hơn 58 năm, Chiang Mai
Ở Thái, người dân nếm trải nhiều tầng thế lực và quyền thống trị. Một trong những lý do khiến Cơ Đốc giáo không phát triển ở Thái Lan là vì nhiều người trong chúng ta không hiểu hết về cuộc vật lộn với các thế lực và quyền thống trị được nêu trong Ê-phê-sô 6:10–20. Khi mới được kêu gọi làm giáo sĩ, tôi không hiểu những thế lực này. Các giáo sư thần học của tôi vào những năm 1950 và 1960, trong thời kỳ đỉnh cao của chủ nghĩa phê bình duy lý đối với Kinh thánh cũng vậy.
Khi bắt đầu chức vụ, tôi gặp khó khăn trong việc tiếp cận mọi người vì tôi nghĩ rằng niềm tin của họ vào các linh ác sẽ mất đi khi được dạy về các linh khác nhau, trong đó có Đức Thánh Linh. Tuy nhiên, sau 10 năm, tôi nhận ra rằng người Thái cần biết nhiều hơn về Đức Chúa Trời là ai, tại sao chúng ta cần Ngài và điều gì sẽ xảy ra khi chúng ta tiếp nhận Chúa Giê-su là Chúa và Cứu Chúa của mình. Bấy giờ chúng tôi viết ra một cuốn sách nhỏ nói về sự cứu rỗi có tên là Itract. Kể từ đó, tôi thấy có nhiều người hưởng ứng Tin lành hơn.
Một lý do khác khiến Cơ Đốc giáo không phát triển nhanh chóng ở Thái Lan là vì Cơ Đốc nhân Thái Lan thường không có vẻ gì khác biệt so với thế gian. Chúng tôi thường đầu hàng cám dỗ về quyền lực, của cải vật chất và tình dục. Chúng tôi thường rất kiêu ngạo, chọn không ăn năn khi làm điều sai trái và chọn không tha thứ cho những người đã làm tổn thương cảm xúc của mình.
Là Cơ Đốc nhân, chúng tôi nỗ lực hết mình để truyền giáo và chia sẻ Tin lành với người khác bất chấp những điểm yếu của mình. Tuy nhiên, cuối cùng, sự cải đạo sẽ xảy ra vào thời điểm của Chúa. Ngài sẽ mang đến mùa gặt.
Manuel Becker, điều phối viên của YWAM Frontier Missions Thái Lan, Phitsanulok
Lý do quan trọng nhất dẫn đến sự kháng cự rõ ràng của người Thái đối với Cơ Đốc giáo là sự đan xen không thể tách rời giữa bản sắc văn hóa và sự gắn kết tôn giáo với Phật giáo. Trở thành người Thái là trở thành Phật tử. Do đó, việc theo đuổi Cơ Đốc giáo—được coi là một tôn giáo phương Tây—đòi hỏi phải đánh mất bản sắc của người Thái, là điều dẫn đến những hậu quả xã hội đáng kể, vì trở thành một Cơ Đốc nhân thường có nghĩa là tránh xa mọi thứ liên quan đến Phật giáo. Trong xã hội Thái Lan, hầu hết các sự kiện quan trọng đều có yếu tố Phật giáo.
Cơ Đốc nhân cần giải phóng Tin lành khỏi Cơ Đốc giáo phương Tây và cho phép người Thái khám phá cách thức theo Chúa Giê-su theo cách của người Thái mà không áp dụng những hình thức phương Tây xa lạ với văn hóa của họ. Điều này sẽ ảnh hưởng đến hình thức nhóm họp của các tín hữu và cách thức công bố sứ điệp Tin lành. Thay vì cố gắng xây dựng các hội thánh siêu lớn, chúng ta nên tập trung vào các hội thánh tư gia nhỏ hơn để nuôi dưỡng bầu không khí gia đình. Cần phải vượt qua quan niệm cho rằng giáo sĩ quan trọng và thánh thiện hơn giáo dân và thúc đẩy chức tế lễ của mọi tín đồ.
Chỉ khi người Thái tìm ra những cách nhập thể để đi theo Chúa Giê-su thì chúng ta mới thấy được bước đột phá lớn hơn của Vương quốc Chúa tại Thái Lan.
Natee Tanchanpong, mục sư trưởng tại Grace City Bangkok và cựu trưởng khoa Học thuật của Chủng viện Kinh thánh Bangkok
Trong những năm qua, Hội thánh Thái Lan thường làm giống thế giới quanh mình khi cần làm khác, và làm khác họ khi cần làm giống. Chẳng hạn, chủ nghĩa vật chất, luân lý và hệ thống giai cấp thường có vẻ giống nhau trong cả xã hội và hội thánh. Đồng thời, hội thánh thường sử dụng những từ ngữ và khái niệm xa lạ với những người xung quanh. Có lẽ người Thái chưa hoàn toàn đón nhận Tin lành vì sứ điệp Tin lành chưa được truyền đạt rõ ràng và các Cơ Đốc nhân trong hội thánh chưa bày tỏ Tin lành của Chúa Giê-su Christ theo những cách mà họ nên làm trong cuộc sống.
D. A. Carson chỉ ra lẽ thật của thuyết tương thích (compatibilism), có nghĩa là Đức Chúa Trời có quyền tối thượng đồng thời con người phải chịu trách nhiệm về hành động của mình. Chúa Giê-su đưa ra lẽ thật kép này khi Ngài nói: “Tất cả những người Cha Ta ban cho Ta đều đến với Ta; ai đến với Ta, Ta sẽ không bỏ ra ngoài đâu.” (Giăng 6:37). Có lẽ đây là cách tốt nhất để giải thích những gì đang xảy ra ở Thái Lan.
Chúa Giê-su tiếp tục nói rằng không ai có thể đến với Ngài trừ khi Chúa Cha kéo họ đến hoặc giúp họ có thể làm vậy (Giăng 6:44, 65). Suy cho cùng thì Đức Chúa Trời là Đấng kéo các cá nhân đến với chính Ngài. Vì vậy, có cảm giác rằng những gì xảy ra ở Thái Lan không nằm trong tầm kiểm soát của con người, cũng như sự phấn hưng thuộc linh toàn thể cuối cùng không phải bởi con người và hành động của họ.
Mali Boon-Itt, lãnh đạo hội thánh và vợ mục sư tại Hội thánh số 4 Suebsampantawong, Bangkok
Cơ Đốc nhân đã không thể truyền đạt qua các thế giới quan khác nhau. Tuy chúng tôi nói tiếng Thái nhưng các Phật tử không hiểu chúng tôi đang nói gì vì Cơ Đốc giáo không giống với thế giới quan của Phật giáo. Vì họ không hiểu Cơ Đốc giáo nên Cơ Đốc giáo không chạm đến trái tim họ.
Một vấn đề khác có thể tác động đến khả năng gây ảnh hưởng của Cơ Đốc nhân ở Thái Lan là có rất nhiều sự tha hóa trong các hội thánh. Có rất nhiều vụ kiện mà trong đó, các Cơ Đốc nhân kiện tụng lẫn nhau. Đây không phải một lời chứng tốt đẹp gì đối với người dân Thái Lan.
Để chia sẻ Tin lành ở Thái Lan một cách hiệu quả, anh không chỉ cần biết rõ tiếng Thái mà còn cần phải biết rất rõ về thần học Cơ Đốc và Phật giáo. Anh cần có khả năng truyền đạt theo cách mà các Phật tử thấy rõ và hiểu được. Để làm được điều đó, anh cần hiểu cách giải thích khái niệm cứu chuộc theo cách mà các Phật tử có thể hiểu được. Đây không chỉ là vấn đề ở Thái Lan mà là một vấn đề xuyên suốt trong giới Phật giáo.
Nurot Panich, mục sư điều hành hội thánh Acts of Christ Church ở Bangkok
Cơ Đốc giáo không phát triển ở Thái vì các hội thánh Thái Lan thường thiếu sự hiệp nhất. Có rất nhiều xung đột trong các hội thánh và rất nhiều vấn đề nảy sinh trong và giữa các tổ chức.
Ngoài ra, các nhà lãnh đạo hội thánh Thái Lan thường hành động giống ông chủ hơn là người quản lý. Văn hóa Thái Lan chấp nhận rộng rãi rằng lãnh đạo cấp dưới không thể bất đồng với lãnh đạo cấp trên. Điều này có nghĩa là những lãnh đạo hội thánh mới nổi phải luôn theo sau các mục sư cấp trên. Đây là một vấn đề vì đôi khi lãnh đạo cấp dưới có ý tưởng hay nhưng vì địa vị nên họ không thể đề xuất được.
Các lãnh đạo hội thánh Thái Lan cũng gặp khó khăn trong việc môn đồ hóa, đặc biệt là cho các tín đồ mới. Các hội thánh Thái Lan có thể truyền giáo tốt nhưng thường không môn đồ hóa được những người mới cải đạo. Chỉ có khoảng 10 phần trăm người mới cải đạo tiếp tục tham gia vào hội thánh. Môn đồ hóa là một quá trình lâu dài đòi hỏi sự cam kết. Vì nhiều lãnh đạo hội thánh không muốn thực hiện cam kết đó nên họ thích truyền giảng tại sự kiện chỉ diễn ra một lần.
Là Cơ Đốc nhân, cách tốt nhất để chia sẻ về Đấng Christ là để đời sống của chúng ta trở thành một lời chứng tốt dù chúng ta ở nhà, ở trường hay ở chợ. Dù đi đâu, chúng ta cũng cần đại diện cho Đấng Christ. Khi mọi người thấy hành động của chúng ta tôn vinh Chúa, họ sẽ được tác động tích cực.
Bài viết do Rebecca Brittingham biên soạn
– Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc –
*Quan điểm của bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của Đội ngũ Ba-rúc
Vị lãnh đạo của một trong những hội thánh phát triển nhanh nhất tại Hoa Kỳ luôn mặc toàn đồ đen như một biểu tượng cho sự chết đi mỗi ngày đối với bản ngã của mình. Trong chuyến thăm London gần đây, ông chia sẻ về sự kêu gọi của mình trong việc đối diện với một Cơ Đốc giáo hâm hẩm, điều mà ông cảnh báo đang khiến con người cảm thấy thoải mái trong tội lỗi.
Có một bầu không khí, cũng như một danh tiếng, luôn đi trước Mục sư Philip Mitchell. Khi xem các bài giảng của ông trên mạng, người ta có thể dễ dàng bắt gặp một phong cách chức vụ thẳng thắn, sắc bén và không hề mềm mỏng. Khi tôi ngồi xuống trò chuyện với vị Mục sư sinh tại Mỹ, sự nghiêm nghị, cứng cỏi ấy hiện diện rõ ràng trong căn phòng. Cuộc trò chuyện của chúng tôi kéo dài khoảng 50 phút, từ lúc tôi chào ông ở thang máy cho đến khi cuộc phỏng vấn kết thúc, và tôi không nhớ mình đã nhìn thấy dù chỉ một nụ cười thoáng qua trên khuôn mặt ông.
Nhưng khi Mitchell giải thích về hoàn cảnh chức vụ của mình, tư thế “không vòng vo” ấy bắt đầu trở nên dễ hiểu. Ông đang chăn dắt một cộng đồng Cơ Đốc tại Mỹ mà theo lời ông đã trở nên “không còn tôn kính Chúa”. Ông nói rằng lòng kính sợ và sự tôn kính Đức Chúa Trời đã bị đánh mất, và ông cảm nhận rằng một phần trong sự kêu gọi của mình là khôi phục điều đó.
Trên mạng, những đoạn video ghi lại cảnh Mục sư Philip thực sự bật khóc, kêu cầu sự phục hưng, cho thấy cả trách nhiệm thiêng liêng mà ông cảm nhận mình đã được giao phó lẫn gánh nặng ông đang mang khi thực hiện trách nhiệm ấy.
Tình yêu và ân điển không vắng bóng trong các sứ điệp của ông, nhưng chúng thường đi cùng – và đôi khi bị lấn át – bởi những lời cảnh báo về cơn thịnh nộ, sự phán xét và lửa địa ngục. Ông đưa ra những lời cảnh báo ấy như một phương thuốc cho điều ông tin là một Hội Thánh tại Mỹ đang quá tràn ngập những lời công bố khiến con người “cảm thấy thoải mái trong tội lỗi, sự thỏa hiệp và tình trạng hâm hẩm”, thay vì thách thức họ bước vào đời sống thánh khiết.
“Tự nhiên tôi là một người rất nhiệt thành,” ông nói với tôi. Có lẽ điều đó là sản phẩm của một cuộc đời được hình thành trong một môi trường đô thị đầy khó khăn. Là một người Mỹ thế hệ đầu tiên, có cha mẹ đến từ Trinidad, Mitchell lớn lên tại Queens, New York. Tuổi thiếu niên của ông bắt đầu vào đầu những năm 1990, thời điểm hip-hop đang trở thành một sức mạnh văn hóa mang tính toàn cầu. Bị cuốn hút bởi những cám dỗ của thế gian – tiền bạc, cần sa, phụ nữ – đến năm 12 tuổi, ông đã bắt đầu bán ma túy. Con đường ấy nhanh chóng leo thang thành hoạt động buôn bán ma túy quy mô lớn hơn và những cuộc đấu súng.
Đến đầu tuổi 20, ông đã có được mọi thứ mà mình từng nghĩ là mình khao khát: “một căn hộ sang trọng, một cô bạn gái xinh đẹp, một chiếc xe hơi xa xỉ”. Nhưng vào tháng 11 năm 2003, Mitchell bị nhấn chìm trong một sự trống rỗng đến mức cuối cùng ông đã tìm cách kết liễu đời mình. Ông nói rằng chính trong giai đoạn ấy, “ân điển của Đức Chúa Trời” đã can thiệp. Trước đó, ông chỉ biết Đức Chúa Trời như một cái tên “trên những trang sách mà cha mẹ tôi đọc”. Sau đêm đó, Mitchell tin chắc rằng Ngài thực sự hiện hữu.
Hai mươi ba năm trôi qua, vị mục sư hiện đang phục vụ tại Atlanta đã trở nên nổi tiếng rộng khắp. Trong ba năm qua, ông đã có hàng triệu người theo dõi trên mạng xã hội, và hội thánh của ông đang phát triển nhanh chóng. Cuối tuần tới, Hội Thánh 2819 sẽ lấp đầy nhà thi đấu Excel ở London trong chiến dịch truyền giảng đầu tiên của họ trong năm 2026.
Tuy nhiên, phía sau sự nổi tiếng ấy là hơn một thập kỷ ông đã trải qua trong “lửa thử luyện” của gian khổ và sự khuất mình. Vị mục sư nói rằng đó là một quá trình tinh luyện cần thiết. Đức Chúa Trời đang phát triển phẩm cách cần có để ông có thể quản trị cách trung tín điều sẽ đến sau đó – một trong những chức vụ phát triển nhanh nhất và được theo dõi rộng rãi nhất trên thế giới.
Mục sư Philip là một người vừa chân thành vừa khắc khổ. Sự khắc khổ thể hiện trong những lời như: “Đối với tôi, giảng đạo là vấn đề sống và chết”, cũng như trong cam kết chỉ mặc đồ đen, như một biểu tượng cho sự chết đi mỗi ngày đối với bản ngã. Sự chân thành thể hiện qua cuộc vật lộn trong lòng mà ông mô tả, khi ông tự hỏi liệu mình có đang quản trị chức vụ đúng theo ý muốn của Đức Chúa Trời hay không, và cả khoảnh khắc không ai yêu cầu ở cuối cuộc phỏng vấn, khi ông cầu nguyện cho tất cả những người sẽ đọc cuộc trò chuyện này.
Ông từng cởi mở chia sẻ về tuổi thơ ở New York – lớn lên trong một gia đình Cơ Đốc nhưng lại bán ma túy khi còn là thiếu niên và rời thành phố vì những rắc rối pháp lý. Ông đã mang theo điều gì từ giai đoạn ấy vào chặng đường tiếp theo của cuộc đời?
Tôi có tất cả những biểu hiện của một người thành công theo tiêu chuẩn thế gian, nhưng bên trong tôi cảm thấy trống rỗng. Hành trình ấy đã đưa tôi đến một điểm cực hạn, nơi tôi bắt đầu tìm kiếm.
Tôi nhớ mình từng muốn tự sát, ngồi trên sàn căn hộ với một khẩu súng săn trên đùi và một chai rượu. Đêm đó, một cô gái trẻ mà tôi quen, là một người theo Chúa Jesus, đến thăm căn hộ của tôi. Cánh cửa nhà tôi không khóa – bởi ân điển của Đức Chúa Trời. Cô ấy ngồi xuống bên cạnh tôi trên sàn và nắm lấy tay tôi, nhưng không nói gì cả. Sự hiện diện của cô ấy đã kéo tôi trở lại khỏi bờ vực.
Nhìn lại chuyện đó, tôi nhận ra rằng Đức Chúa Trời, trong quyền tể trị của Ngài, đã cứu tôi khỏi việc tự bắn vỡ đầu mình.
Vài tháng sau, người vợ hiện tại của tôi gặp tai nạn xe hơi. Cô ấy trở về căn hộ và biết ơn vì mình vẫn sống sót. Cô bật nhạc Phúc Âm lên. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi nghe nhạc Phúc Âm. Cô ấy đi tới đi lui, giơ tay lên, thờ phượng Đức Chúa Trời và cảm tạ Ngài.
Tôi tự nhủ: Bất kể điều đó là gì, tôi cần điều đó.
Tôi bò bằng cả tay lẫn đầu gối vào phòng tắm và bắt đầu kêu khóc với Đức Chúa Trời.
Tôi biết Đức Chúa Trời là một cái tên trên những trang sách mà cha mẹ tôi đọc, nhưng tôi không biết Ngài thực sự tồn tại. Đức Chúa Trời đã bày tỏ chính Ngài cho tôi trong phòng tắm ấy vào tháng 11 năm 2003.
Mặc dù tôi chưa có nền tảng hay cách thức để hiểu điều đó, tôi biết có điều gì đó đã xảy ra với mình, bởi tối hôm ấy tôi định nằm xuống với bạn gái, nhưng lần đầu tiên trong đời, tôi cảm nhận sự cáo trách về tội lỗi.
Điều gì đã xảy ra từ thời điểm đó cho đến khi ông bước vào chức vụ?
Sáu tháng sau khi tôi được cứu, lần đầu tiên tôi cảm nhận Đức Chúa Trời phán với lòng mình về chức vụ mục sư, việc giảng đạo và công bố Lời Chúa. Nhưng tôi chạy trốn khỏi điều đó. Sau bốn năm chạy trốn, cuối cùng tôi đầu phục sự kêu gọi ấy.
Trong nhiều năm, tôi phục vụ những người lãnh đạo khác trong những chức vụ khác. Tôi làm mọi việc, từ vui lòng lau nhà vệ sinh cho đến tham gia chức vụ thanh thiếu niên. Tôi không tin có cái gọi là thành công chỉ sau một đêm trong Vương quốc Đức Chúa Trời. Tôi nghĩ điều mà một số người nhìn thấy như thành công chỉ sau một đêm thực ra thường là một người đã được tôi luyện trong lửa và sự khuất mình, rồi cuối cùng Đức Chúa Trời đưa người ấy ra ánh sáng. Tôi đã trải qua hơn một thập kỷ trong sự khuất mình ấy.
Bí quyết cốt lõi là Lời Đức Chúa Trời và sự vâng lời.
Tôi biết nỗi đau sâu sắc của việc phá hỏng những mối quan hệ mà tôi ước gì mình vẫn còn có. Tôi biết nỗi đau sâu sắc của việc muốn bỏ cuộc cả nghìn lần – giảng đạo rồi lái xe về nhà với đầy những bất an và nước mắt trong mắt. Tôi biết nỗi đau của sự tranh chiến và thiếu thốn.
Tôi nghĩ Đức Chúa Trời đã dùng những năm tháng ấy để thanh tẩy khỏi lòng tôi những điều rất hư không, và biến đổi tôi thành con người mà tôi cần phải trở thành – để quản trị cách trung tín những gì Ngài đã giao phó cho tôi ngày hôm nay. Vì vậy, những năm tháng ấy không hề lãng phí, nhưng không ai nhìn thấy chúng.
Ông đã thấy Đức Chúa Trời hành động như thế nào qua sự hư không của mình, và điều gì đã thay đổi sau đó?
Vào tháng 12 năm 2018, vợ chồng tôi đến Israel để dành mười ngày kiêng ăn, cầu nguyện và tìm kiếm Đức Chúa Trời tại đó, bởi tôi biết mình cần một sự biến đổi trong lòng.
Vào ngày cuối cùng, vợ chồng tôi đang ở Khu Vườn Mộ. Khi tôi bước ra ngoài, tôi nghe tiếng hát bằng một ngôn ngữ mà tôi không hiểu, nhưng tôi có thể cảm nhận sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
Tôi là một người khá mạnh dạn, nên tôi cùng một người bạn lẻn vào buổi nhóm ấy. Đó là một nhóm tín hữu đến từ Brazil.
Tôi ngồi phía sau, thờ phượng Đức Chúa Trời, và người anh em đang dẫn dắt buổi nhóm ra hiệu bảo tôi lên phía trước. Ông ấy bắt đầu nói với tôi bằng một ngôn ngữ mà tôi không hiểu – nhưng bởi sự quan phòng của Đức Chúa Trời, người đi cùng tôi lại nói được chính ngôn ngữ đó.
Anh ấy dịch sang tiếng Anh, và đây là điều ông ấy nói với tôi:
“Ta đã đến đất nước của ngươi, nước Mỹ, và Ta thấy Hội Thánh đang chết. Đức Chúa Trời phán với ngươi rằng: ‘Hỡi người trẻ tuổi, ngươi có muốn trở về đất nước mình và làm điều gì đó về tình trạng này không? Trở về và châm lửa cho Hội Thánh không?’”
Tôi luôn hỏi: Đức Chúa Trời ơi, Ngài có vui lòng với cách con đang lãnh đạo không?
Gần như Đức Chúa Trời đang giao phó một sứ mạng cho tôi ngay trong khoảnh khắc ấy. Tôi có thể nghe Ngài phán với lòng mình rằng hãy trở về Mỹ, hãy cất tiếng kêu lớn, đừng ngừng lại, hãy châm lửa cho nàng dâu của Ngài. Tôi quỳ sấp xuống bằng cả tay và đầu gối, và nhóm tín hữu Brazil ấy đặt tay trên tôi và cầu nguyện cho tôi.
Tôi cảm thấy rằng ngay khoảnh khắc ấy, người mục sư mà tôi từng là đã chết. Sự hư không trong lòng tôi đã chết. Gần như tôi đã có một cuộc gặp gỡ với Đức Chúa Trời giống như Ê-sai. Tôi nhìn thấy Đức Chúa Trời trong sự thánh khiết của chính Ngài. Tôi nghe lời từ trời phán rằng: “Ai sẽ đi cho Ta?”
Tôi trở về Hoa Kỳ như một người mang trong mình một sứ mạng. Tôi không còn khao khát bất cứ điều gì mang tính vật chất. Tôi không khao khát một hội thánh lớn, cũng không khao khát một địa vị kinh tế – xã hội nhất định. Tất cả những điều đó đã biến mất. Khát vọng duy nhất của tôi là trung tín với điều Đức Chúa Trời đã phán với tôi tại Israel.
Đó có lẽ là thời điểm mang tính quyết định nhất trong chức vụ của tôi.
Ông chỉ mới thành lập Hội Thánh 2819 vào năm 2023, nhưng hiện đã có 1,48 triệu người đăng ký YouTube và tổ chức các sự kiện quốc tế, trong đó có London. Xin ông kể cho chúng tôi câu chuyện phía sau.
COVID xảy đến, và tôi mất chức vụ đầu tiên của mình, Victory Church. Tôi mất cơ sở mà chúng tôi đang sử dụng; tôi mất toàn bộ tín hữu; tôi mất đội ngũ nhân sự mà chúng tôi có.
Sau COVID, tôi đã dành hai năm giảng cho một chiếc máy quay trong một căn phòng trống. Tôi cảm nhận Đức Chúa Trời bảo chúng tôi phải thay đổi tên chức vụ – và vợ tôi cũng cảm nhận điều tương tự, mặc dù chúng tôi chưa hề nói với nhau về điều đó. Khi đã có sự rõ ràng trong lòng, chúng tôi cầu nguyện suốt hai năm về tên gọi mới sẽ là gì.
Vào tháng 1 năm 2023, vợ chồng tôi “chôn” chức vụ cũ và thành lập 2819 với 183 tín hữu. Tên gọi này xuất phát từ Ma-thi-ơ 28:19 – đi ra và rao truyền Phúc Âm của Chúa Jesus Christ cho cả thế giới. Văn hóa của Hội Thánh được xây dựng dựa trên Công Vụ 2:42-47. Hội Thánh sẽ nghiêm túc với việc công bố Lời Đức Chúa Trời, sự cầu nguyện, môn đồ hóa, cộng đồng, sự rộng rãi và công tác vươn đến cộng đồng.
Chúng tôi chưa bao giờ tưởng tượng rằng chỉ hai năm rưỡi sau, chức vụ này lại có ảnh hưởng mang tính toàn cầu. Hiện tại, tôi và đội ngũ của mình đang cố gắng hết sức để quản trị cách trung tín điều mà chúng tôi tin là một sự phục hưng Đức Chúa Trời đã khởi sinh tại khu vực đông nam Hoa Kỳ và giờ đây đã lan ra toàn thế giới.
Chúng tôi không nhận công trạng nào về điều đó. Đây không phải là sự khéo léo hay sáng kiến của con người. Bí quyết cốt lõi là Lời Đức Chúa Trời và sự vâng lời.
Ông từng nói rằng sự tan vỡ của nước Mỹ là một phần gánh phần mà ông được giao. Ông nhìn thấy điều gì trong Hội Thánh tại Mỹ khiến ông có cảm xúc mạnh mẽ như vậy?
Tại Mỹ, tôi thấy một thế hệ đã chấp nhận một phiên bản Cơ Đốc giáo mang tính phương Tây, tách rời khỏi Cơ Đốc giáo chính thống. Tôi thấy sự trỗi dậy của những tiên tri giả đang dẫn một thế hệ đi sai lạc. Tôi thấy con người tìm kiếm đời sống tâm linh thông qua Thời đại mới và huyền học.
Tôi thấy một phiên bản Cơ Đốc giáo tập trung nhiều hơn vào tiền bạc, chức danh, uy tín và địa vị. Tôi thấy một Cơ Đốc giáo hâm hẩm và đang chết. Tôi thấy một Cơ Đốc giáo không tôn kính Chúa, đã đánh mất lòng kính trọng và sự kính sợ Đức Chúa Trời.
Tôi thấy một sự bão hòa, một sự rao giảng về tình yêu và ân điển, nhưng không đủ sự rao giảng về cơn thịnh nộ, sự phán xét và lửa địa ngục.
Vì vậy, tôi thấy một đức tin đang khiến con người cảm thấy thoải mái trong tội lỗi, sự thỏa hiệp và tình trạng hâm hẩm – thay vì thách thức họ bước ra khỏi đời sống ấy để trở nên điều Đức Chúa Trời đã kêu gọi chúng ta trở thành: một dân thánh và biệt riêng cho Ngài.
Những thách thức và phước hạnh khi có một phạm vi tiếp cận lớn đến như vậy là gì?
Nhiều khi chúng tôi cầm niềm vui trong tay phải và nỗi buồn trong tay trái. Hiện tại rất khó khăn vì tôi có năm người con đang ở tuổi thiếu niên. Các con nhìn thấy những lời chứng về những cuộc đời được biến đổi trên mạng xã hội, nhưng đồng thời cũng nhìn thấy những người ghét cha mình trên mạng xã hội.
Nếu thành thật, còn có một gánh nặng trong tâm hồn tôi: nằm trên giường vào ban đêm, suy nghĩ về mức độ nghiêm trọng của những điều Đức Chúa Trời đã giao phó cho chúng tôi, và biết rằng một ngày nào đó tôi sẽ phải khai trình về tất cả những điều ấy.
Tôi không tin có cái gọi là thành công chỉ sau một đêm trong Vương quốc Đức Chúa Trời.
Tôi luôn hỏi: Lạy Đức Chúa Trời, con có đang quản trị điều này đúng cách không? Ngài có vui lòng với cách con đang lãnh đạo không? Con có tôn cao Ngài trong sự giảng dạy của mình không, và con có chắc rằng mình không làm điều này vì vinh quang của con người không?
Có một nền tảng ảnh hưởng lớn đến như vậy đi kèm với những cuộc chiến thuộc linh, những sự tấn công và trách nhiệm phải liên tục tra xét, loại bỏ khỏi lòng mình những điều không đúng đắn. Tất cả những điều đó thực sự, thực sự khó khăn.
Có lần một phụ nữ đã ngắt lời một buổi nhóm tại hội thánh của ông và cáo buộc rằng hội chúng đang thần tượng hóa ông. Với mức độ nổi tiếng như hiện nay, ông đối diện thế nào với nguy cơ bị người khác thần tượng hóa?
Tôi không muốn ngây thơ đến mức nói rằng những gì cô ấy nói hoàn toàn không có cơ sở. Có thể có những người thần tượng tôi như một người lãnh đạo thuộc linh.
Nhưng tôi đang làm mọi điều có thể để không cho phép người ta tôn tôi lên như một thần tượng, bởi tôi cũng tranh chiến với tội lỗi giống như bất kỳ người nào khác.
Đó là lý do tôi không giảng mỗi Chúa nhật. Tôi dành thời gian bước sang một bên để họ có thể nghe những tiếng nói khác. Tôi không bao giờ cố tạo ra một vẻ ngoài hoàn hảo. Tôi luôn cố thành thật về nhân tính của mình, để mọi người thấy rằng tôi cũng là một con chiên, đang cùng hành trình với anh chị em giống như bất kỳ ai khác.
Ông được biết đến là một người rất nghiêm túc, không vòng vo, nhưng chắc hẳn Philip Mitchell cũng có một khía cạnh nhẹ nhàng hơn. Ông thư giãn và nghỉ ngơi như thế nào?
Một trong những điều tôi ngưỡng mộ ở Chúa Jesus là Ngài vừa là sư tử vừa là chiên con. Chúng ta thấy Ngài đối diện với những người Pha-ri-si, nhưng cũng ôm trẻ em vào lòng; Ngài lật đổ các bàn của những người buôn bán trong đền thờ, nhưng cũng vui dự một đám cưới.
Khi nói đến việc công bố Lời Chúa, tôi sẽ làm điều đó bằng tất cả tấm lòng, bởi tôi biết linh hồn con người đang ở trong thế cân bằng giữa sự sống và sự chết.
Nhưng khi bước xuống khỏi bục giảng, tôi là một người bình thường. Tôi thích dành thời gian với vợ và các con. Tôi thích xem Netflix. Tôi cười. Tôi đi nhà hàng vì tôi là người rất thích ăn uống.
Khi rời khỏi bục giảng, tôi là một con chiên. Khi bước lên bục giảng, tôi sẽ là một con sư tử,bởi hoàn cảnh đòi hỏi điều đó.
Hầu hết những người ngồi trên hàng ghế tín hữu không hề biết Mục sư của họ thực sự cô đơn đến mức nào. Các nghiên cứu về sức khỏe mục vụ liên tục cho thấy sự cô lập là một trong những thách thức lớn nhất mà các Mục sư phải đối diện, thế nhưng nhiều người trong số họ lại cảm thấy mình không thể xây dựng những tình bạn chân thật ngay trong chính Hội thánh mình đang phục vụ. Quá nhiều chuyện trong quá khứ. Quá nhiều động lực quyền lực. Quá nhiều rủi ro.
Đó thực sự là một mất mát, cho cả Mục sư lẫn những người yêu mến ông.
Nhưng vấn đề là thế này: một số tín hữu có vị trí đặc biệt để bắc một nhịp cầu vượt qua khoảng cách ấy. Có thể con bạn cùng độ tuổi với con của mục sư. Có thể bạn chơi cùng một giải thể thao phong trào, hoặc có chung một sở thích chẳng liên quan gì đến Hội thánh. Dù điểm khởi đầu là gì, nếu bạn nhận thấy mình đang hình thành một tình bạn thực sự với Mục sư, thì tình bạn đó đáng được gìn giữ và vun đắp cách đúng đắn.
Làm một người bạn tốt của mục sư không hoàn toàn giống với việc làm một người bạn tốt nói chung. Mối quan hệ này có những cạm bẫy riêng cần lưu ý. Dưới đây là bốn điều quan trọng nhất cần tránh.
1. Đừng Mong Mục Sư Của Bạn Phải Hoàn Hảo
Những người có năng khiếu truyền đạt thường nhận được một sự kính trọng đặc biệt mà những người bình thường không có. Có lẽ mục sư của bạn thực sự có tài năng nào đó—chẳng hạn khả năng khiến Kinh Thánh trở nên sống động, hoặc có một phong thái mục vụ khiến người khác thực sự cảm nhận được sự quan tâm. Vì thế, thật dễ để chúng ta gán cho người ấy một mức độ hoàn hảo thuộc linh mà chính họ chưa bao giờ tự nhận.
Tân Ước quả thực đưa ra một tiêu chuẩn có ý nghĩa về phẩm chất của người làm mục vụ. Những phẩm chất mà Phao-lô nêu trong 1 Ti-mô-thê và Tít mô tả một người đáng để noi theo. Nhưng chính những thư tín ấy cũng được viết cho những cộng đồng thật, nơi con người thật đang đối diện với những thất bại thật. Tiêu chuẩn là cao, nhưng không phải là bất khả thi; và tiêu chuẩn ấy không bao giờ nhằm tạo ra ấn tượng rằng các mục sư tồn tại trên một bình diện đạo đức khác với người bình thường.
Càng dành nhiều thời gian với một người, bạn càng nhìn rõ những điểm mù và những góc cạnh chưa hoàn thiện của họ. Mục sư của bạn cũng không ngoại lệ. Khi điều đó xảy ra, không có nghĩa là mối quan hệ của bạn đã tan vỡ. Điều đó có nghĩa là bạn thực sự đang bắt đầu hiểu một con người.
Một trong những điều ý nghĩa nhất bạn có thể dành cho Mục sư là cho ông ấy cảm nhận được rằng mình được nhìn nhận, được biết đến và vẫn được đón nhận. Đó không phải là một điều nhỏ nhặt. Đối với nhiều mục sư, trải nghiệm ấy rất hiếm hoi.
Điều này có thể được thể hiện trong thực tế như sau:
Hãy rộng lòng khi ông ấy lỡ nói điều gì vụng về trong một cuộc trò chuyện riêng tư.
Đừng kể lại cho người khác những điều chưa hoàn hảo mà ông ấy chia sẻ với bạn trong sự tin cậy.
Hãy để ông ấy được là một con người bình thường mà không biến điều đó thành một vấn đề thuộc linh.
2. Cho Ông Ấy Quyền Được Không Phải Lúc Nào Cũng “Bật Chế Độ Mục Sư”
Chức vụ Mục sư không có nút tắt. Một mục sư có thể được nhận ra ở cửa hàng tạp hóa, phòng tập thể dục hoặc lúc đón con ở trường, rồi ngay lập tức bị cuốn vào một tình huống mục vụ trước khi ông ấy kịp xử lý những điều đang diễn ra trong chính buổi sáng của mình. Điều đó đi kèm với sự kêu gọi. Hầu hết các mục sư đều hiểu và chấp nhận điều ấy.
Nhưng điều đó khiến con người mệt mỏi.
Khi bạn dành thời gian với mục sư với tư cách một người bạn, một trong những điều ít được đánh giá đúng mức nhất mà bạn có thể làm là tạo ra một không gian nhẹ nhàng, không áp lực, nơi mọi chuyện không phải lúc nào cũng quay trở lại với hội thánh. Hỏi ông ấy ngủ có ngon không. Hỏi về con cái ông ấy. Tìm hiểu xem gần đây ông ấy xem gì hoặc đọc gì để giải trí. Hãy để cuộc trò chuyện được tự nhiên.
Nếu có một cơ hội tự nhiên để cầu nguyện, hãy chính bạn chủ động thay vì theo phản xạ nhìn sang ông ấy. Nếu một chủ đề liên quan đến hội thánh xuất hiện và bạn nhận thấy ông ấy muốn chuyển sang chuyện khác, hãy đi theo hướng ông ấy dẫn dắt. Ông ấy có thể là mục sư của bạn trong hàng trăm hoàn cảnh khác. Nhưng trong hoàn cảnh này, ông ấy được phép là bạn của bạn.
Điều này không phải là bảo vệ ông ấy khỏi những trách nhiệm của mình. Mà là trở thành một không gian nơi ông ấy có thể thở ra, thư giãn và được là chính mình.
3. Đừng Dùng Tình Bạn Để Thúc Đẩy Một Mục Đích Riêng
Các Mục sư biết—đôi khi một cách đầy đau đớn—rằng họ có ảnh hưởng. Khi một Mục sư lên tiếng, người ta lắng nghe. Chính ảnh hưởng ấy khiến một số người muốn đến gần mục sư không phải vì tình bạn, mà vì muốn có được sự tiếp cận và ảnh hưởng.
Những người như vậy thường khá dễ nhận ra. Nhưng phiên bản tinh vi hơn của vấn đề này cũng có thể xuất hiện ngay cả trong những tình bạn chân thành.
Nếu bạn thực sự thân thiết với mục sư, đôi khi bạn sẽ bất đồng với những quyết định mà ông ấy hoặc ban trưởng lão đưa ra. Điều đó là bình thường và lành mạnh. Điều trở nên có vấn đề là khi tình bạn biến thành một kênh hậu trường để vận động hành lang. Khi bạn đem những bất bình của mình nói với mục sư trong một bữa tối với hy vọng ông ấy sẽ đứng về phía bạn, hoặc khi bạn mong rằng sự gần gũi trong quan hệ với ông ấy sẽ khiến ý kiến của bạn có thêm trọng lượng trong các quyết định của hội thánh, thì bạn đã biến tình bạn thành một điều khác.
Hãy tin cậy sự lãnh đạo của ông ấy ngay cả khi bạn không hoàn toàn hiểu được. Các mục sư thường nắm giữ những thông tin mà họ không thể công khai chia sẻ. Những quyết định trông có vẻ kỳ lạ từ bên ngoài nhiều khi lại hoàn toàn hợp lý khi đặt trong bối cảnh mà bạn không được biết. Hãy cho rằng ông ấy có ý định tốt cho đến khi bạn thực sự có lý do để nghĩ khác.
Một người bạn tôn trọng vai trò của mục sư mà không tìm cách lợi dụng vai trò ấy thực sự rất hiếm. Hãy trở thành người như vậy.
4. Ủng Hộ Công Khai, Góp Ý Riêng Tư
Những người bạn tốt nói sự thật với nhau. Điều đó không thể thương lượng. Nhưng hoàn cảnh và thời điểm nói ra sự thật ấy cũng rất quan trọng.
Nếu mục sư của bạn đang đưa ra những quyết định mà bạn cho là sai, hoặc đang đi theo một hướng khiến bạn thực sự lo ngại, cuộc trò chuyện đó nên diễn ra riêng giữa hai người, chứ không phải trong một buổi họp toàn thể hội thánh hay một nhóm nhắn tin. Những lời chất vấn công khai từ một người được cho là bạn bè có thể gây tổn hại sâu sắc, cả đối với mối quan hệ lẫn khả năng lãnh đạo của mục sư.
Trước khi nêu mối quan ngại với ông ấy, hãy dành thời gian để giả định rằng động cơ của ông ấy là tốt. Điều này không có nghĩa là bạn ngây thơ. Mà là bạn công bằng. Hầu hết các quyết định mục vụ đều được đưa ra từ một tấm lòng thực sự quan tâm đến hội thánh. Trước hết, hãy dành cho điều đó sự nghi ngờ có lợi.
Khi ông ấy chọn một hướng đi mà bạn thực sự ủng hộ, hãy nói điều đó ra—cả với ông ấy lẫn với người khác. Các mục sư nghe đủ loại lời chỉ trích. Sự khích lệ từ một người cũng sẵn sàng thẳng thắn góp ý khi cần sẽ có sức nặng vô cùng lớn.
Cách diễn đạt đơn giản nhất của nguyên tắc này là: bất đồng trong riêng tư, đứng cùng nhau trước công chúng. Đó là điều một người bạn thật sự làm.
Một lưu ý về những mối quan ngại nghiêm trọng:
Nếu bạn nhận thấy hành vi đã vượt qua ranh giới đến mức có thể khiến một người không còn đủ tư cách phục vụ chức vụ, chẳng hạn như những hành vi thiếu trung thực có tính hệ thống, sai phạm tài chính hoặc lạm dụng, thì đó hoàn toàn là một phạm trù khác. Những mối quan ngại ấy cần được trình lên ban lãnh đạo thích hợp của hội thánh ngay lập tức, chứ không nên được giải quyết đơn thuần như một vấn đề giữa hai người bạn.
Sau Cùng, Hãy Chỉ Là Một Con Người Chân Thật
Điều tốt nhất bạn có thể làm cho mục sư của mình là đối xử với ông ấy như một con người bình thường, người tình cờ cũng là bạn của bạn. Không phải một người nổi tiếng. Không phải một “cây máy bán hàng thuộc linh” mà cứ bấm nút là phải cung cấp lời khuyên hay sự giúp đỡ thuộc linh. Không phải một đồng minh chính trị. Mà là một con người.
Một người có thể yêu thương ông ấy mà không thần tượng hóa ông ấy. Có thể tôn trọng vai trò của ông ấy mà không để vai trò đó chi phối mọi thứ. Có thể có một cuộc trò chuyện khó khăn mà không biến nó thành một cuộc xung đột trong hội thánh.
Nếu bạn có thể trở thành kiểu người bạn như vậy, bạn sẽ trở thành một trong những người có giá trị nhất trong cuộc đời ông ấy. Và xét đến việc chức vụ Mục sư có thể cô đơn đến mức nào, đó hoàn toàn không phải là một điều nhỏ bé.
Có ổn không nếu làm bạn với mục sư của mình?
Có. Tình bạn chân thành giữa mục sư và tín hữu là điều hoàn toàn có thể và lành mạnh khi cả hai bên đều thành thật về những đặc điểm và động lực đặc thù của mối quan hệ này. Những điều chính cần đề phòng là xem tình bạn như một con đường để có ảnh hưởng trong hội thánh, hoặc tạo ra kỳ vọng rằng mục sư lúc nào cũng phải ở trong “chế độ mục vụ” khi hai người dành thời gian riêng với nhau.
Các mục sư thường phải vật lộn với điều gì nhất?
Các nghiên cứu về sức khỏe mục vụ liên tục chỉ ra rằng sự cô đơn, kiệt sức, những kỳ vọng thiếu thực tế từ phía tín hữu và khó khăn trong việc thiết lập ranh giới là những thách thức phổ biến nhất mà các mục sư phải đối diện. Nhiều mục sư cho biết họ cảm thấy mình luôn phải ở trong trạng thái “bật”, trong khi hiếm khi có không gian để đơn giản được là chính mình.
Làm thế nào để tôi hỗ trợ mục sư mà không trở thành một người chỉ biết “vâng dạ”?
Hãy ủng hộ mục sư của bạn trước công chúng, đồng thời đưa những bất đồng chân thành đến với ông ấy một cách riêng tư và trực tiếp. Điều này có nghĩa là ủng hộ những quyết định lãnh đạo của ông ấy trong các bối cảnh tập thể, khích lệ ông ấy bằng lời nói cũng như trước người khác, và dành những góp ý mang tính xây dựng cho các cuộc trò chuyện riêng giữa hai người, nơi mục tiêu là đạt được sự sáng tỏ chứ không phải gây áp lực.
Tôi nên thể hiện sự trân trọng đối với Mục sư như thế nào?
Sự trân trọng cụ thể và mang tính cá nhân thường có ý nghĩa hơn những lời khen chung chung. Hãy nói cho ông ấy biết một bài giảng cụ thể hoặc một khoảnh khắc chăm sóc mục vụ nào đó đã có ý nghĩa với bạn như thế nào. Hãy thực hiện những điều ông ấy đã kêu gọi hội chúng cùng làm. Hãy hiện diện và đồng hành. Hãy rộng rãi dâng hiến cho những công việc và sáng kiến của hội thánh. Và nếu bạn là bạn của ông ấy, hãy để ông ấy có một bữa ăn hoặc một vòng chơi golf mà trong vài giờ ông ấy không cần phải làm Mục sư.
Tại sao nhiều Mục sư vẫn cảm thấy cô đơn dù luôn ở giữa rất nhiều người?
Các mục sư ở trong một vị trí quan hệ đặc thù. Họ thường đồng thời là người có thẩm quyền, người tư vấn và gương mặt đại diện công khai của một cộng đồng. Điều đó khiến họ khó bộc lộ sự tổn thương, chia sẻ những tranh chiến của mình hoặc xin sự giúp đỡ mà không lo người khác hiểu sai. Tình bạn chân thành giữa những người đồng cấp vốn đã khó tìm, lại càng khó có được ngay trong chính hội thánh mà họ đang lãnh đạo.
Tác giả: Dale Chamberlain
Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc
Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.
Phần lớn những lời khuyên về tăng trưởng Hội Thánh đều dựa trên một giả định: một hội chúng càng đông thì càng thành công, và bất cứ điều gì cản trở điều đó đều là vấn đề cần phải khắc phục. Chính giả định này đã âm thầm dẫn đến rất nhiều quyết định sai lầm. Các mục sư sao chép mô hình thành công ở nơi khác, đầu tư rất nhiều tiền vào cơ sở vật chất hoặc các chương trình, nhưng rồi vẫn chứng kiến phòng nhóm chỉ lấp đầy một nửa. Vấn đề hiếm khi nằm ở sự nỗ lực; mà nằm ở những quan niệm sai lầm ẩn sau mọi nỗ lực ấy.
Mười niềm tin dưới đây về sự tăng trưởng Hội Thánh nghe có vẻ rất thuộc linh, thậm chí hiển nhiên đúng. Nhưng nếu xem xét kỹ, phần lớn đều không đứng vững. Một số chỉ đơn giản là không hữu ích. Một vài quan niệm còn nguy hiểm đến mức có thể phá hủy một Hội Thánh khỏe mạnh, trong khi mọi người vẫn khen ngợi người lãnh đạo vì đã “cố gắng hết sức”.
Điều Mà Nhiều Người Hiểu Sai Về Sự Tăng Trưởng Hội Thánh
Sự tăng trưởng là điều có thật và cũng là điều đáng mong đợi. Vấn đề nằm ở lối suy nghĩ đơn giản hóa mọi thứ xung quanh nó. Các con số thường được xem như bằng chứng rõ ràng, vì thế nhiều lãnh đạo coi số người tham dự như bảng tỷ số của một trận đấu, rồi cho rằng Hội Thánh nào đông người hơn thì trung tín hơn.
Nhưng Kinh Thánh không dạy như vậy. Một Hội Thánh có thể phát triển rất nhanh nhưng vẫn hời hợt về mặt thuộc linh. Ngược lại, một Hội Thánh nhỏ vẫn có thể có nền tảng đức tin rất sâu sắc. Trước khi chạy theo những con số lớn hơn, chúng ta cần nhận diện những quan niệm sai lầm khiến nhiều người nghĩ rằng tăng trưởng về số lượng là điều duy nhất quan trọng.
10 Quan Niệm Sai Lầm Về Tăng Trưởng Hội Thánh Cần Từ Bỏ
1. Nếu Hội Thánh Không Tăng Trưởng Thì Chắc Chắn Có Điều Gì Sai?
Nếu việc có đông người luôn là phần thưởng dành cho sự vâng lời Đức Chúa Trời, thì nhiều tiên tri trong Cựu Ước hẳn sẽ rất khó giải thích về chức vụ của mình. Có những thời điểm, chức vụ trung tín lại khiến số người giảm đi thay vì gia tăng.
Việc số người tham dự đứng yên hoặc giảm sút là điều đáng để xem xét. Nhưng đó không tự chứng minh rằng bạn đang thất bại trước mặt Đức Chúa Trời. Đôi khi, sự kêu gọi của Chúa dành cho một người phục vụ giống như tiên tri Giê-rê-mi hơn là ngày Lễ Ngũ Tuần.
Nhân đây cũng nên từ bỏ thói quen coi chương 2 của sách Công vụ Các Sứ đồ như một cẩm nang về tăng trưởng Hội Thánh. Phân đoạn đó mô tả điều Đức Chúa Trời đã làm để khai sinh Hội Thánh Ngài; chứ không phải là mệnh lệnh buộc mọi Hội Thánh phải tăng trưởng năm sau nhanh hơn năm trước. Tân Ước cho thấy có những Hội Thánh với quy mô rất khác nhau, nhưng không hề khiển trách một Hội Thánh nào chỉ vì họ quá nhỏ.
2. Hội Thánh Càng Đông Thì Càng Khỏe Mạnh
Đây là quan niệm rất dễ khiến người ta tin, và cũng chính vì thế mà nó rất nguy hiểm.
Một hội trường đông kín luôn mang lại cảm giác thỏa mãn và khiến người lãnh đạo cảm thấy mình đang đi đúng hướng. Nhưng đông người không đồng nghĩa với khỏe mạnh về thuộc linh. Đôi khi, một đám đông lớn lại là lý do khiến chúng ta phải xem xét kỹ hơn về điều mà họ đang được dạy dỗ.
Số lượng người tham dự cũng giống như số tiền trong tài khoản ngân hàng. Có nhiều tiền không có nghĩa là khôn ngoan; ít tiền cũng không đồng nghĩa với thiếu khôn ngoan.
Điều tương tự cũng đúng với Hội Thánh.
Một Hội Thánh có thể rất đông hoặc rất ít người, nhưng vẫn có thể khỏe mạnh hoặc đang mang bệnh ở bên trong. Sự tăng trưởng chỉ cho thấy điều gì đó đang diễn ra; còn điều đó là tốt hay xấu lại là một câu chuyện hoàn toàn khác.
3. Nhạc Thờ Phượng Hiện Đại Sẽ Cứu Hội Thánh
Phong cách thờ phượng hiện đại có thể hữu ích trong một số bối cảnh nhất định. Nhưng trong những hoàn cảnh khác, chính nó lại trở thành trở ngại. Chỉ riêng việc thay đổi phong cách âm nhạc chưa bao giờ có thể cứu một Hội Thánh.
Nếu thay đổi âm nhạc, lý do cần tốt hơn là “Chúng ta muốn thu hút giới trẻ” hay “Chúng ta muốn bắt kịp xu hướng.” Những bài hát Hội Thánh hát nên phản ánh chân thật con người của chính Hội Thánh ấy, chứ không phải là nỗ lực cuối cùng để trở nên “hợp thời”.
Điều cứu Hội Thánh địa phương không phải là âm nhạc hiện đại mà là Phúc Âm.
4. Sự Tăng Trưởng Hội Thánh Có Thể Được Tạo Ra Bằng Cách Lên Kế Hoạch
Thoạt nhìn, người ta dễ nghĩ rằng chỉ cần có chiến lược tốt, tổ chức nhiều sự kiện và lập kế hoạch kỹ lưỡng thì Hội Thánh sẽ tăng trưởng. Tất nhiên, bạn hoàn toàn có thể thu hút được một đám đông. Chỉ cần có đủ ngân sách, quảng bá tốt và tổ chức chuyên nghiệp, sẽ có nhiều người đến tham dự. Điều đó không quá khó.
Nhưng sự tăng trưởng thật của Hội Thánh thì khác. Việc làm cho Thân thể Đấng Christ được phát triển là công việc của Đức Thánh Linh—nơi sự vâng phục của con người gặp gỡ quyền tể trị của Đức Chúa Trời. Điều này không có nghĩa là chúng ta ngừng lập kế hoạch. Nó chỉ nhắc chúng ta phải lập kế hoạch với lòng khiêm nhường. Chúng ta chỉ chuẩn bị bàn tiệc. Chính Đức Chúa Trời mới là Đấng ban sự gia tăng.
5. Hội Thánh Đông Người Chứng Tỏ Người Lãnh Đạo Được Xức Dầu
Suy nghĩ bình thường lẽ ra cũng nhận ra đây là quan niệm sai lầm. Nhưng nó vẫn liên tục xuất hiện. Chúng ta đều từng chứng kiến những lãnh đạo nổi tiếng của các Hội Thánh lớn sa ngã vì những tội lỗi được che giấu. Liệu ai còn gọi đó là bằng chứng của sự xức dầu?
Một bục giảng lớn không xác nhận rằng người lãnh đạo được Đức Chúa Trời đẹp lòng.
Điều ngược lại cũng đúng. Việc lãnh đạo một Hội Thánh hoặc chức vụ nhỏ không có nghĩa là bạn thiếu ân điển hay sự chấp thuận của Đức Chúa Trời.
Đúng là Đức Chúa Trời đôi khi biệt riêng một số người để đem lại ảnh hưởng đặc biệt trong một giai đoạn nhất định. Lịch sử Hội Thánh đã chứng kiến những con người như D.L. Moody, Charles Spurgeon hay Billy Graham.
Tuy nhiên, hãy hết sức cẩn trọng khi dùng từ “được xức dầu.” Quy mô của hội chúng là một thước đo rất tệ cho điều đó.
6. Hội Thánh Không Tăng Trưởng Là Lỗi Của Mục Sư
Điều này xảy ra rất thường xuyên. Hội Thánh bắt đầu chững lại. Khải tượng dường như mờ nhạt.
Không còn nhiều người mới đến. Ngay lập tức, mọi ánh mắt đều hướng về mục sư. Nhưng không phải lúc nào họ cũng là nguyên nhân. Có thể nguyên nhân nằm ở một thành viên nào đó. Hoặc một nhóm nhỏ trong Hội Thánh. Có thể đó là một giai đoạn thuộc linh đầy sự chống đối. Hoặc đơn giản chỉ là một thời kỳ chuyển giao. Liệu người lãnh đạo có thể là nguyên nhân không?
Dĩ nhiên là có.
Nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Nếu mục sư vẫn giữ đời sống và giáo lý mình trong sự ngay thẳng, thì nguyên nhân khiến Hội Thánh chững lại nhiều khi lại đến từ những yếu tố hoàn toàn khác.
7. Chỉ Cần Giảng Hay Thì Hội Thánh Sẽ Tăng Trưởng
Việc giảng dạy Lời Chúa vô cùng quan trọng. Nhưng một diễn giả tài năng chưa bao giờ là chiếc “đòn bẩy duy nhất” có thể làm cho Hội Thánh phát triển.
Nếu toàn bộ chiến lược chỉ xoay quanh một người giảng giỏi, Hội Thánh sẽ dễ phụ thuộc vào cá nhân đó hơn là vào Phúc Âm. Đây là phần nhiều người cảm thấy khó chấp nhận:
Nếu bạn giảng Lời Chúa cách trung tín và đúng đắn, hãy chuẩn bị tinh thần rằng sẽ có những người rời đi. Môn đồ hóa luôn đòi hỏi sự trả giá. Không phải ai cũng sẵn sàng tiếp tục.
Hãy nhớ đến chính Chúa Giê-su. Đã từng có rất nhiều người bỏ Ngài mà đi.
8. Phần Lớn Khách Tham Dự Trong Những Dịp Đặc Biệt Sẽ Quay Lại
Một số Hội Thánh thật sự phát triển lâu dài sau các buổi nhóm Giáng Sinh, Phục Sinh hay những chương trình đặc biệt. Nhưng đa số thì không. Điều đó không có nghĩa là chúng ta nên ngừng tổ chức những chương trình chất lượng để kết nối với khách mới. Nó chỉ nhắc rằng đừng xây dựng toàn bộ chiến lược tăng trưởng quanh vài Chúa nhật có đông người tham dự. Đức Chúa Trời hoàn toàn có thể sử dụng những ngày ấy. Nhưng nếu chỉ dựa vào chúng như một chiến lược duy nhất, thì điều đó là không đủ.
9. Càng Nhiều Chương Trình Thì Hội Thánh Càng Phát Triển
Các chương trình là những đầy tớ tốt. Nhưng chúng lại là những ông chủ rất tệ.
Chúng ta đang sống trong một nền văn hóa đầy vô số lựa chọn. Nhiều Hội Thánh cũng vô tình chạy theo điều đó bằng cách liên tục thêm các chương trình vào lịch sinh hoạt với mong muốn phục vụ mọi người. Ý định thì tốt. Nhưng kết quả thường không phải là sự tăng trưởng.
Một lịch trình quá dày đặc khiến Hội Thánh chỉ bận rộn với chính mình, trong khi lại thiếu thời gian và nguồn lực để tiếp cận những người đang sống ngay ngoài cánh cửa Hội Thánh.
Chương trình không phải là kẻ thù. Nhưng chúng cần có mục đích rõ ràng và được giới hạn hợp lý. Bởi vì không ai có thể “lập trình” để tạo nên môn đồ. Hội Thánh chưa bao giờ được Đức Chúa Trời thiết lập chỉ để giữ những người bên trong. Hội Thánh là một dân được sai phái để soi sáng thế gian.
10. Chỉ Cần Xây Nhà Thờ Thì Người Ta Sẽ Đến
Có thể. Nhưng không có gì bảo đảm.
Đôi khi một dự án xây dựng chỉ đơn giản là mang đến cho cùng một nhóm người một tòa nhà đẹp hơn. Nhưng cũng có khi đó thật sự là món quà Đức Chúa Trời ban để mở ra nhiều cơ hội phục vụ mới. Muốn phân biệt hai trường hợp này cần rất nhiều sự cầu nguyện và sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh trước khi bắt đầu một dự án tốn kém.
Lịch sử có nhiều câu chuyện đẹp về những công trình mà bàn tay Đức Chúa Trời hiện diện từ đầu đến cuối. Nhưng cũng có không ít dự án kết thúc bằng:
Những khoản nợ lớn,
Hội Thánh chia rẽ,
Người lãnh đạo bị bãi nhiệm,
Những hàng ghế mới tinh nhưng vẫn trống vắng.
Đức Chúa Trời chưa bao giờ hứa rằng chỉ cần khởi công xây dựng thì Hội Thánh chắc chắn sẽ phát triển. Đức tin và sự khôn ngoan luôn phải song hành. Đừng tin vào kiểu suy nghĩ “chỉ cần xây thì người ta sẽ đến.” Hãy bắt đầu mọi dự án xây dựng bằng sự cầu nguyện, đức tin và lòng khiêm nhường. Bởi vì kết quả thuộc về Đức Chúa Trời, và nhiều khi sẽ không giống một cái kết đẹp như trong các bộ phim Hollywood.
Kết Luận
Khi loại bỏ những quan niệm sai lầm này, bức tranh về sự tăng trưởng Hội Thánh trở nên đơn giản hơn rất nhiều.
Sự tăng trưởng là một ân ban, chứ không phải là bảng điểm đánh giá.
Điều Đức Chúa Trời kêu gọi bạn là sự trung tín:
Giảng dạy giáo lý đúng đắn,
Gây dựng môn đồ thật,
Thờ phượng cách chân thành,
Chăm sóc những con người mà Ngài đã đặt ngay trước mặt bạn.
Hãy theo đuổi một Hội Thánh khỏe mạnh, còn quy mô của Hội Thánh, hãy phó thác cho Đức Chúa Trời. Những Hội Thánh đứng vững qua nhiều thế hệ thường không phải là những Hội Thánh luôn chạy theo con số tiếp theo. Đó là những Hội Thánh âm thầm nhưng bền bỉ xây dựng đúng nền tảng.
Tác giả: Brian Orme
Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc
Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.
Có lần tôi được nghe kể về một người phụ nữ sống ở một vùng có khí hậu lạnh giá. Bà mắc bệnh, sức khỏe ngày càng suy yếu, trong khi nơi bà sinh sống lại không dễ tìm được nguồn dinh dưỡng cần thiết để phục hồi. Các bác sĩ khuyên bà nên đến vùng nhiệt đới, nơi có khí hậu thuận lợi hơn cho việc điều dưỡng.
Vài tuần sau khi lên đường, bà viết thư cho một người bạn và nói: “Đây là một nơi tuyệt vời. Tôi có đủ mọi loại thực phẩm bổ dưỡng mà mình cần. Chỉ cần tìm lại được cảm giác ngon miệng thì chẳng bao lâu nữa tôi sẽ khỏe lại.” Thế nhưng chỉ ít tuần sau, bà qua đời.
Cuối cùng, điều cướp đi mạng sống của bà không phải là thiếu thức ăn, mà là thiếu sự thèm ăn.
Điều đó cũng đúng với đời sống thuộc linh của chúng ta. Trước mắt chúng ta là tất cả nguồn lương thực thuộc linh mà mình có thể cần – đủ để nuôi dưỡng và gìn giữ chúng ta suốt cuộc đời; đủ để giúp chúng ta đứng vững giữa những thử thách khắc nghiệt nhất; đủ để chuẩn bị chúng ta sống đẹp lòng Đức Chúa Trời trên đất này và bước vào cõi đời đời trong thiên đàng.
Vấn đề là liệu chúng ta có chịu đến nhận lấy và ăn hay không – liệu chúng ta có để lòng mình được thỏa mãn bởi bàn tiệc dư dật mà Đức Chúa Trời đã bày sẵn trước mặt mình hay không.
Bạn có đều đặn tham dự các buổi nhóm thờ phượng tại Hội Thánh địa phương của mình không? Chính tại đó, bạn sẽ được nuôi dưỡng bằng thức ăn thuộc linh tốt lành. Chính tại đó, Lời Đức Chúa Trời được giảng dạy, được đọc và được cầu nguyện. Chính tại đó, chân lý của Kinh Thánh được bày tỏ qua các thánh lễ. Chính tại đó, bạn cùng Hội Thánh cất tiếng hát những lời Kinh Thánh và những chân lý cao quý nhất của đức tin. Tuần này qua tuần khác, bạn luôn có cơ hội đến và nhận lấy lương thực ấy.
Nhưng bạn có thật sự làm điều đó không? Bạn có đọc Kinh Thánh mỗi ngày không? Biết bao thế hệ cha ông chúng ta, cũng như hàng triệu tín hữu đang sống tại nhiều nơi trên thế giới ngày nay, chỉ có thể ao ước được tiếp cận với Kinh Thánh như chúng ta đang có.
Ngày nay, chúng ta có hàng trăm bản dịch, hàng ngàn ứng dụng Kinh Thánh và vô số cơ hội để đọc, học biết và vâng theo Lời Chúa. Điều duy nhất có thể ngăn bạn hưởng những ích lợi lớn lao ấy không phải là sự thiếu thốn, mà là sự thiếu khao khát – thiếu cơn đói thuộc linh. Bạn có đang nuôi dưỡng tâm linh mình bằng nguồn lương thực ấy không?
Bạn có dành thời gian thông công với các tín hữu khác không? Đức Chúa Trời đã giao cho họ công tác gây dựng Hội Thánh, rao giảng lẽ thật trong tình yêu thương và khích lệ bạn đứng vững trong đức tin. Ở cùng anh chị em trong Chúa là ở cùng những người có thể đem những chân lý cao quý nhất của Đức Chúa Trời đến với những niềm vui lớn lao nhất cũng như những nỗi đau sâu thẳm nhất trong cuộc đời bạn. Bạn có dành thời gian với họ để cùng hưởng bàn tiệc thuộc linh mà họ góp phần dọn ra không?
Bạn có tận dụng nguồn tài nguyên thuộc linh phong phú mà Đức Chúa Trời đã ban cho thế hệ chúng ta không? Chưa bao giờ trong lịch sử nhân loại chúng ta có nhiều sách, nhiều bài viết, nhiều chương trình phát thanh, nhiều podcast, nhiều bài giảng và nhiều tạp chí Cơ Đốc như ngày nay. Mỗi giờ, mỗi ngày đều có một bàn tiệc thuộc linh phong phú được dọn sẵn trước mắt chúng ta.
Câu hỏi duy nhất là: chúng ta có chịu đến dự phần hay không? Chúng ta có bước vào và cùng dự tiệc hay không?
Chúng ta nhìn thấy quanh mình biết bao người đang héo úa và lụi tàn; biết bao người đang suy kiệt và đánh mất đời sống thuộc linh. Những người lìa bỏ đức tin và hư mất chắc chắn không thể nói là họ chết vì thiếu lương thực thuộc linh, bởi trước mắt họ luôn có một nguồn dư dật không bao giờ cạn.
Điều có thể nói về họ chỉ là họ thiếu sự khao khát. Họ không còn đói khát thuộc linh. Họ đã không nhận lấy điều được ban cho mình—điều có thể nuôi dưỡng họ, thêm sức cho họ và trang bị họ để trung tín hầu việc Đức Chúa Trời suốt cuộc đời, cũng như vui hưởng Ngài cho đến đời đời. Điều đang đe dọa mỗi chúng ta không phải là thiếu thức ăn thuộc linh, mà chính là thiếu cơn đói khát thuộc linh.
Tác giả: Tim Challies
Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc
Quan điểm của bài viết không nhất thiết là quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.
Bạn đã bao giờ đứng gần một cơn bão lửa chưa? Những ngọn lửa bốc cao đến mức tưởng chừng không thể tin nổi. Khi không khí nóng lên và bốc thẳng lên trên, luồng không khí mát hơn lập tức tràn vào bên dưới để lấp đầy khoảng trống. Thế là gió ào ạt thổi về phía đám cháy, trong khi luồng khí bên trong biển lửa lại cuộn thẳng lên cao. Làm gì thì làm, điều khôn ngoan nhất là tránh xa đường đi của nó.
Đó là hình ảnh gần đúng nhất mà tôi có thể dùng để mô tả một cuộc xung đột trong Hội Thánh. Từ maelstrom trong tiếng Hà Lan cổ có nghĩa là một dòng nước xoáy dữ dội, một vòng xoáy cuốn mọi thứ vào tâm của nó. Một Hội Thánh đang ở trong tình trạng xung đột cũng hoạt động theo cách tương tự. Một khi đã bị cuốn vào đó, bạn sẽ dành phần đời còn lại để bảo đảm rằng mình không bao giờ rơi vào một cuộc xung đột như vậy nữa.
Chỉ có một cá nhân duy nhất vui mừng khi dân sự của Đức Chúa Trời lao vào những cuộc chiến quyết liệt với nhau. Kẻ đó là kẻ kiện cáo anh em, là cha của sự dối trá, là nguồn gốc của mọi điều gian ác. Bản thân tôi chưa từng là người trực tiếp tham gia một “cuộc chiến” trong Hội Thánh. Nhưng tôi biết về những cuộc chiến ấy nhiều hơn mức mình mong muốn. Tôi đã chứng kiến những Hội Thánh lân cận rơi vào xung đột, phải thu dọn hậu quả sau những cuộc chia rẽ tại các Hội Thánh mình từng chăn bầy, và lắng nghe những con người mang đầy thương tích tinh thần, loạng choạng bước ra khỏi những cuộc chiến tôn giáo vốn không bao giờ nên xảy ra.
Câu trả lời ngắn gọn
Hãy giải quyết xung đột trong Hội Thánh theo cách Chúa Giê-su đã đối diện với thập tự giá. Đừng trả đũa. Đừng đứng về phe nào trong cuộc tranh giành quyền lực. Hãy phó kết quả cho Đức Chúa Trời và đặt sự hiệp một của Hội Thánh lên trên việc thắng một cuộc tranh luận. Không có bất cứ vấn đề nào đáng để xé nát Hội Thánh.
Hãy Rời Khỏi Cuộc Chiến Trước Khi Nó Khống Chế Bạn
Trước khi xem Kinh Thánh thực sự dạy chúng ta phải làm gì, đây là nguyên tắc cần hướng dẫn mọi tín hữu giữa lúc xảy ra xung đột: hãy bước ra khỏi cuộc chiến. Không có vấn đề nào đáng để phá hủy một Hội Thánh.
Ngay cả khi bạn tin rằng chân lý đang bị đe dọa — và theo những người liên quan thì lúc nào cũng vậy — ngay cả khi bạn xác tín rằng số phận đời đời của con người đang bị đặt lên bàn cân, câu trả lời vẫn không bao giờ là chia đôi Hội Thánh.
Trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam có một câu nói nổi tiếng: “Điều gì sẽ xảy ra nếu người ta phát động chiến tranh mà chẳng có ai tham gia?” Nếu không ai chịu chiến đấu thì sẽ không có trận chiến nào cả. Đó không phải là sự ngây thơ. Đó là một chiến lược.
Hãy đọc 1 Phi-e-rơ 2:21–25 và tự hỏi một câu thật thành thật: Có ai nhìn vào cách Chúa Giê-su chịu đựng thập tự giá mà lại kết luận rằng Ngài muốn chúng ta cầm vũ khí chống lại một anh chị em cùng trong Hội Thánh không?
Vì Sao Những Người Trong Cuộc Xung Đột Của Hội Thánh Luôn Nghĩ Mình Đúng?
Đây là lời phản đối luôn xuất hiện:
“Nhưng anh chưa hiểu. Chúng tôi đúng. Phía bên kia sai. Họ cứng đầu, non nớt thuộc linh, giờ còn khiêu khích chúng tôi nữa. Chúng tôi không thể bỏ qua chuyện này.”
Nếu bạn tin như vậy thì chính bạn đang tự lừa dối mình.
Không ai trong một cuộc xung đột Hội Thánh tự xem mình là kẻ gây hấn. Ai cũng cho rằng mình là người bị tổn thương. Đừng nuốt lời dối trá rằng phe của bạn nắm giữ toàn bộ chân lý còn phe kia chỉ là một nhóm người xấu xa. Khi bạn quên rằng mình cũng chỉ là một tội nhân được cứu bởi ân điển là lúc bạn đã thất bại rồi.
Đó cũng chính là điểm mù khiến một nhà lãnh đạo khao khát quyền lực tin rằng mọi ý kiến phản đối chương trình của mình đều là cuộc tấn công từ kẻ thù.
Kinh Thánh Dạy Phải Làm Gì Khi Xảy Ra Xung Đột Trong Hội Thánh?
Thư 1 Phi-e-rơ chương 2 đưa ra một khuôn mẫu rất rõ ràng.
Đó không phải là thái độ thụ động, nhưng là một sức mạnh có chủ đích và phải trả giá. Phi-e-rơ chỉ vào cách Chúa Giê-su chịu khổ và kêu gọi chúng ta bước theo gương Ngài từng bước một.
Nếu muốn thấy bức tranh đầy đủ hơn về cách Chúa Giê-su làm gương trong việc đối diện xung đột, hãy nhìn cách Ngài ứng xử trong Đền Thờ. Ngài luôn giữ được sự tự chủ ngay cả dưới áp lực nặng nề.
Chúa Giê-su đã làm gì khi bị bắt? Ngài để họ bắt. Khi bị xét xử? Ngài giữ im lặng. Khi bị đóng đinh? Ngài cầu nguyện cho chính những người đang đóng đinh mình. Khi họ giết Ngài, Đức Chúa Cha đã khiến Ngài sống lại và ban cho Ngài sự minh oan vinh hiển nhất. Có người sẽ nói: “Nhưng tôi đâu phải Chúa Giê-su.” Tạ ơn Chúa vì bạn không phải là Ngài. Không ai yêu cầu bạn trở thành Chúa Giê-su. Điều bạn được yêu cầu — đúng hơn là được truyền lệnh — là vâng lời Ngài.
Khi cuộc chiến bắt đầu, hãy từ chối tham gia. Đừng đứng về phe nào. Điều quan trọng hơn nhiều là vinh hiển của Chúa, sứ mạng của Hội Thánh, sự hiệp một của Thân Thể Đấng Christ và ích lợi của những tín hữu non trẻ đang quan sát cách những Cơ Đốc nhân trưởng thành đối xử với nhau. Thật đáng buồn nhưng cũng gần như khôi hài khi chứng kiến những gì xảy ra với một Cơ Đốc nhân có thiện chí lúc Hội Thánh của mình đang tan rã. Những lá thư nặc danh. Những hành động phá hoại âm thầm. Nếu bạn thực hiện những mưu kế ấy, bạn sẽ không giải quyết được điều gì cả. Bạn chỉ đang đổ thêm dầu vào lửa.
Phần lớn những chiến thuật như vậy chỉ là dấu hiệu cảnh báo của một môi trường lãnh đạo không lành mạnh, chứ không phải con đường đưa Hội Thánh ra khỏi khủng hoảng. Đừng đáp trả bằng những lời cay nghiệt. Đừng hạ nhục người khác. Đừng dùng lời lẽ sắc sảo để gây tổn thương. Hãy chấp nhận sự tổn thương. Hãy chịu phần thiệt. Hãy giữ im lặng. Làm vậy, bạn sẽ phơi bày người kia là kẻ bắt nạt.
Nhưng nếu bạn trả đũa, lập tức mọi việc sẽ giống như một cuộc đánh nhau giữa hai bên ngang sức, và cả hai đều bị xem là sai như nhau. Không điều gì bạn nói có thể khiến những người chỉ trích bạn tin rằng bạn đang nói thật. Cũng không điều gì họ nói có thể khiến những người ủng hộ bạn đổi ý. Đây chính là thời điểm bạn quyết định mình có thật là một môn đồ của Chúa Giê-su Christ hay không. Hãy phó thác chính mình cho Ngài và để mọi việc trong tay Ngài. Đó là cuộc chiến của Ngài, và cũng là công việc của Ngài để sửa lại những điều sai trái. Hãy nghĩ đến một mục sư đã phục vụ một Hội Thánh ở vùng New England hơn hai mươi năm. Ông phải đối diện với những cuộc tranh giành quyền lực, những tranh cãi về lương bổng và những cuộc công kích liên tục nhằm vào chức vụ lãnh đạo của mình.
Khi ông kêu gọi các tín hữu sống trong đức tin chân thật và đời sống thánh khiết, Hội Thánh đã sa thải ông. Ở tuổi trung niên, ông mất việc trong khi còn phải nuôi một gia đình đông con. Trong tất cả những điều ấy, ông không phạm tội trong cách mình đáp ứng.
Một người bạn nhận xét rằng ông sống như một người của Đức Chúa Trời, có niềm vui nằm ngoài tầm với của những kẻ chống đối mình.
Nhiều năm sau, chính những người chỉ trích gay gắt nhất đã thừa nhận rằng họ hành động vì lòng kiêu ngạo và hư vinh, còn Hội Thánh thì ăn năn.
Vị mục sư ấy là Jonathan Edwards, người thường được xem là nhà thần học vĩ đại nhất mà nước Mỹ từng sản sinh. Sự minh oan cuối cùng cũng đến. Chỉ có điều nó đến theo thời điểm của Đức Chúa Trời, chứ không phải của ông. Đó là bầy chiên của Ngài, không phải của bạn. Đó là Hội Thánh của Ngài, không phải của bạn. Nếu phải có một cuộc chiến để bảo vệ bầy chiên, hãy để Đấng Chăn Chiên chiến đấu.
Làm Sao Ngăn Chặn Một Cuộc Xung Đột Trong Hội Thánh Trước Khi Nó Bắt Đầu?
Có một Hội Thánh mà tôi biết đã bị một nhóm nhỏ lãnh đạo gây áp lực, đòi mục sư phải rời khỏi chức vụ, mặc dù đa số Hội Thánh hoàn toàn ủng hộ ông. Khi một chấp sự giải thích Kinh Thánh dạy phải xử lý những vấn đề như vậy thế nào, câu trả lời khiến ông sững sờ. Sau này ông kể lại với vị mục sư rằng họ nói: “Họ không quan tâm Kinh Thánh nói gì. Họ chỉ muốn vị mục sư phải ra đi.”
Khi một Hội Thánh đi đến mức ấy, những tổn thương có thể phải mất nhiều năm mới được chữa lành, cũng giống như hậu quả kéo dài sau một cuộc chia rẽ Hội Thánh. Rồi một trong những người lãnh đạo ấy bước lên bục giảng vào cuối buổi nhóm để đọc bản cáo buộc đối với vị mục sư.
Các tín hữu đứng dậy và lần lượt bước ra ngoài. Những người khác tiến lên phía trước bục giảng và bắt đầu cầu nguyện. Đó là cách chấm dứt một cuộc xung đột trước khi nó thực sự bắt đầu. Bạn từ chối tham gia. Những người trung tín tiếp tục làm công việc mình được giao. Họ ở đúng vị trí Chúa đặt mình. Họ nâng đỡ mục sư của mình. Họ từ chối phá hủy một Hội Thánh khỏe mạnh chỉ để đạt được điều mình mong muốn.
Nếu trong Hội Thánh của bạn hiện đang có những căng thẳng âm ỉ, thì việc học cách giải quyết bất đồng theo cách tôn trọng người khác có thể ngăn một sự bất đồng trở thành một cuộc chiến thực sự. Nếu bạn là mục sư hoặc giáo sư Kinh Thánh, hãy giảng dạy phân đoạn Kinh Thánh này cùng những nguyên tắc này hết lần này đến lần khác. Bạn chỉ dạy một lần thì người ta sẽ quên. Bạn phải khắc sâu những lẽ thật ấy vào lòng và tâm trí của họ từ rất lâu trước khi khủng hoảng xảy ra, để khi biến cố đến, Hội Thánh đã biết mình phải đáp ứng như thế nào.
Những Câu Hỏi Thường Gặp Về Xung Đột Trong Hội Thánh
Kinh Thánh nói gì về xung đột trong Hội Thánh?
Kinh Thánh xem xung đột giữa các tín hữu là một vấn đề nghiêm trọng nhưng có thể giải quyết được. 1 Phi-e-rơ chương 2 chỉ vào gương của Chúa Giê-su, Đấng đã không trả đũa khi chịu khổ. Ma-thi-ơ 5:9 tuyên bố phước cho những người làm cho hòa thuận và gọi họ là con cái Đức Chúa Trời. Thông điệp xuyên suốt của Kinh Thánh là theo đuổi sự hiệp một, từ chối báo thù và tin cậy Đức Chúa Trời sẽ thực hiện sự minh oan.
Mục sư nên xử lý một cuộc xung đột trong Hội Thánh như thế nào?
Một mục sư không nên đứng về phe nào trong cuộc tranh giành quyền lực, không nên trả đũa và sẵn sàng chịu đựng sự đối xử bất công thay vì đáp trả tương tự. Mục tiêu là bảo vệ sự hiệp một và sứ mạng của Hội Thánh hơn là giành chiến thắng trong bất kỳ cuộc tranh luận nào. Sự tự chủ âm thầm nhưng kiên định thường bày tỏ rõ bản chất của những người gây rối hiệu quả hơn nhiều so với bất kỳ cuộc phản công công khai nào.
Có đúng khi rút lui khỏi một cuộc xung đột trong Hội Thánh không?
Có. Rút lui khỏi một cuộc chiến không đồng nghĩa với việc từ bỏ chân lý. Từ chối làm cho xung đột leo thang, không đáp trả bằng những lời xúc phạm và phó kết quả cho Đức Chúa Trời chính là một cách đáp ứng theo Kinh Thánh. Không có bất kỳ vấn đề đơn lẻ nào đáng để chia rẽ Hội Thánh, và một người lãnh đạo biết lùi lại khỏi cuộc hỗn chiến thường bảo vệ được nhiều điều hơn những gì mình tưởng như phải đánh mất.
Làm thế nào để ngăn một cuộc chia rẽ Hội Thánh trước khi nó bắt đầu?
Những cuộc chia rẽ sẽ mất đà khi những người trung tín đơn giản là từ chối tham gia cuộc chiến. Khi các tín hữu tiếp tục phục vụ, tiếp tục nâng đỡ mục sư của mình và đáp lại những lời cáo buộc bằng sự cầu nguyện thay vì tranh cãi, cuộc xung đột sẽ mất đi nguồn nhiên liệu nuôi dưỡng nó. Việc dạy dỗ cách giải quyết xung đột theo Kinh Thánh từ rất lâu trước khi căng thẳng xuất hiện chính là biện pháp phòng ngừa tốt nhất.
Nên làm gì khi các tín hữu quay sang chống đối mục sư?
Hãy gần gũi với Chúa, tiếp tục trung tín làm công việc Ngài giao và chống lại cám dỗ phải đáp trả theo cách tương tự. Hãy tin rằng Đức Chúa Trời sẽ bênh vực các đầy tớ của Ngài theo đúng thời điểm của Ngài, như chức vụ lâu dài của Jonathan Edwards đã minh chứng. Nếu thực sự có những vấn đề cần được xem xét chính thức, hãy giải quyết chúng theo quy trình của Hội Thánh phù hợp với Kinh Thánh, thay vì biến chúng thành một cuộc đối đầu công khai.
Tác giả: Joe McKeever
Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc
Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.
Câu hỏi về những dấu hiệu của sự trưởng thành thuộc linh dường như đang tạo ra một trong những cuộc tranh luận kỳ lạ nhất trong Hội Thánh Bắc Mỹ và phương Tây ngày nay.
Điều kỳ lạ là thế này: một số Cơ Đốc nhân lại đi chỉ trích những Cơ Đốc nhân khác vì họ không đủ “sâu nhiệm” hoặc không đủ tận hiến để trở thành những Cơ Đốc nhân “thật sự”. (Điều này nghe có thể không hề kỳ lạ đối với bạn lại chính là bằng chứng cho thấy vấn đề này đã trở nên quen thuộc đến mức nào.) Dường như có một nhóm Cơ Đốc nhân nào đó cho rằng họ đã nắm được bí quyết của sự trưởng thành thuộc linh, còn phần lớn chúng ta thì không.
Thế nhưng, điều mà chúng ta thường gọi là sự trưởng thành thuộc linh… thực ra lại không phải vậy. Thật vậy, ít nhất năm biểu hiện thường được xem là dấu hiệu của sự trưởng thành thuộc linh thực chất lại cho thấy bạn đang thiếu nó.
Vậy vấn đề này thường xuất hiện trong các cuộc trò chuyện như thế nào?
Trong các vòng lãnh đạo Hội Thánh, cuộc đối thoại thường bắt đầu bằng những câu hỏi như:
“Anh đang làm gì để môn đồ hóa những người của mình vậy?” (chữ môn đồ hóa thường được nhấn mạnh và nói bằng một giọng trầm hơn bình thường). Hoặc bằng những lời nhận xét mang tính xem thường như: “Vậy là anh thu hút được nhiều người đến Hội Thánh đấy, nhưng rồi sao nữa?”
Và hầu như lúc nào những câu nói ấy cũng được thốt ra với thái độ bề trên, như thể một số người nào đó sở hữu độc quyền về sự trưởng thành thuộc linh và thích thú nhìn những người theo Chúa khác lúng túng tìm câu trả lời, chỉ để rồi càng bộc lộ sự non trẻ của mình.
Tôi đã nhiều lần ở vị trí phải nghe những lời như vậy, bởi vì Hội Thánh chúng tôi tiếp cận được rất nhiều người mà bình thường sẽ không bao giờ bước chân vào nhà thờ.
5 Dấu Hiệu Tiêu Cực Bị Nhầm Là Sự Trưởng Thành Thuộc Linh
Trước khi trình bày danh sách này, xin hiểu rằng tôi không tự nhận mình là người “trưởng thành thuộc linh”. Tôi cũng không khẳng định mình đã hiểu trọn vẹn vấn đề này.
Tôi chỉ cho rằng có điều gì đó đang bị lệch lạc trong cách chúng ta đối thoại và định nghĩa về sự trưởng thành thuộc linh. Về phần cá nhân, tôi hy vọng mình đang trưởng thành hơn mỗi ngày. Nhưng tôi đã đạt đến đích chưa? Chắc chắn là chưa.
Sự môn đồ hóa là một tiến trình tự nhiên và kéo dài suốt đời. Nó liên quan đến điều mà các tín hữu thời xưa gọi là sự thánh hóa. Đó là tiến trình trở nên ngày càng thánh khiết hơn. Nếu bỏ đi vẻ xa lạ của từ ngữ này, nó đơn giản có nghĩa là “được biệt riêng ra”. Nói cách khác, bạn không còn là con người như trước đây nữa. Và tiến trình ấy tiếp tục cho đến ngày bạn qua đời.
Trong khi đó, nếu bạn muốn tiếp tục tăng trưởng, dưới đây là năm điều thường được xem là biểu hiện của sự trưởng thành thuộc linh trong nền văn hóa của chúng ta, nhưng thực ra có thể đang cho thấy điều ngược lại.
1. Tự Hào Về Lượng Kiến Thức Kinh Thánh Mình Có
Từ khi nào việc tự hào về những điều mình biết trong Kinh Thánh và coi thường những người biết ít hơn lại trở thành một điều tốt đẹp? Như sứ đồ Phao-lô đã nói: “Sự tri thức sinh kiêu căng, còn tình yêu thương gây dựng.”
Phao-lô biết rõ mình đang nói gì. Một số Cơ Đốc nhân phô bày kiến thức Kinh Thánh của mình như thể đó là một thành tích đáng khoe khoang. Điều đó hoàn toàn sai.
Khi còn nhỏ, tôi từng thắng không ít cuộc thi tra câu gốc Kinh Thánh (còn ai nhớ những cuộc thi đó không?). Và cho đến nay, tôi vẫn dành thời gian đọc và nghiên cứu Kinh Thánh hầu như mỗi ngày. Nhưng theo những gì tôi hiểu, Đức Chúa Trời muốn tôi dùng kiến thức ấy để trở thành một cây cầu nối với con người, chứ không phải một hàng rào ngăn cách nhằm chứng minh mình công chính hơn người khác. Bởi vì, lần cuối tôi kiểm tra thì tôi cũng chẳng công chính đến thế.
Hãy dùng Kinh Thánh như một cây cầu nối với văn hóa đương đại, chứ đừng biến nó thành bức tường ngăn cách với thế giới. Làm khác đi chỉ khiến chúng ta đứng chung vị trí với một nhóm tôn giáo mà Chúa Giê-xu đã nhiều lần quở trách gay gắt: những người Pha-ri-si.
Rốt cuộc, vấn đề chưa bao giờ là bạn biết bao nhiêu hay biết ít thế nào. Vấn đề là Đức Chúa Trời biết điều gì và Ngài yêu ai.
2. Coi Trọng Lẽ Thật Nhưng Thiếu Ân Điển
Theo cùng một cách đó, việc chỉ tập trung vào lẽ thật cũng là một vấn đề.
Tôi rất thích cách Giăng mô tả sự đến của Chúa Giê-su: Ngài đầy dẫy ân điển và lẽ thật.
Một trong những điều tôi yêu quý nhất nơi Chúa Giê-su là lẽ thật không bao giờ bị tách rời khỏi ân điển, và ân điển cũng không bao giờ bị tách rời khỏi lẽ thật. Ngài luôn bày tỏ ân điển khi công bố lẽ thật, bởi vì lẽ thật luôn nhằm dẫn con người đến với ân điển.
Tuy nhiên, một số người được xem là “trưởng thành” lại nghĩ rằng có thể đứng hẳn về một phía.
Họ nói: “Tôi là người của lẽ thật.”
Không đâu. Có lẽ bạn chỉ đang cư xử thô lỗ mà thôi. (Tôi nói điều này với tư cách một người vốn có xu hướng nghiêng về phía bảo vệ lẽ thật.)
Mỗi khi bị thôi thúc phải nói ra sự thật, tôi luôn phải đến trước mặt Đức Chúa Trời để kiểm tra xem điều đó có được thúc đẩy bởi ân điển hay không. Hãy thử tưởng tượng nếu tất cả chúng ta đều làm như vậy.
3. Coi Trọng Ân Điển Mà Thiếu Lẽ Thật
Điều ngược lại cũng đúng. Giống như lẽ thật không còn là lẽ thật khi thiếu ân điển, thì ân điển cũng không còn là ân điển khi bị tách khỏi lẽ thật. Một số người “trưởng thành” ở phía đối lập của phổ thần học lại né tránh lẽ thật như thể tình yêu có thể tồn tại mà không cần lập trường hay nền tảng.
Không. Ân điển có bộ xương sống. Và chúng ta đã đóng bộ xương ấy trên thập tự giá.
Bạn không thể tách ân điển khỏi lẽ thật cũng như không thể tách lẽ thật khỏi ân điển. Đó là một ranh giới vô cùng khó để giữ được sự cân bằng, nhưng chúng ta phải tìm ra nó. Ân điển không có lẽ thật không phải là sự trưởng thành. Cũng như lẽ thật không có ân điển không thực sự là lẽ thật. Rõ ràng, tất cả chúng ta đều cần một Đấng Cứu Thế trong vấn đề này. Và thật cảm tạ Chúa vì Ngài là hiện thân trọn vẹn của cả ân điển lẫn lẽ thật.
4. Khắc Nghiệt Với Người Ngoài Nhưng Lại Dễ Dãi Với Người Trong
Nhiều người tự xem mình là trưởng thành thuộc linh rất thích nói về việc thế giới này tồi tệ đến mức nào. Và đúng là nó rất tồi tệ. Chỉ cần đọc các bản tin mỗi ngày là đủ thấy điều đó. Đức Chúa Trời đã nhận định như vậy từ rất sớm, ngay trong Sáng Thế Ký chương 6: Đức Giê-hô-va thấy sự gian ác của loài người trên đất thật nhiều, và mọi ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn. Bản văn tiếp tục cho biết điều đó khiến lòng Ngài đau đớn.
Vậy Đức Chúa Trời đã làm gì? Ngài bắt đầu lại. Sau đó là con tàu của Nô-ê và cầu vồng giao ước.
Cuối cùng, sự đáp ứng của Đức Chúa Trời đối với nỗi đau ấy được bày tỏ trọn vẹn trong Chúa Giê-su. Như câu Kinh Thánh quen thuộc nhưng thường bị hiểu sai đã nói: Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài… Không phải để đoán phạt thế gian, nhưng để cứu thế gian.
Vậy tại sao nhiều Cơ Đốc nhân lại cư xử như thể Đức Chúa Trời ghét thế gian?
Người ta trả lời: “Vì thế gian bại hoại và đầy tội lỗi.” Nhưng sự thật là, hỡi Cơ Đốc nhân, chính bạn cũng bại hoại và phạm tội. Thế nhưng chúng ta thường lớn tiếng lên án tội lỗi của thế gian như thể thế gian không được phép phạm tội, trong khi lại rất dễ dãi với những thất bại đạo đức của chính mình.
Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta nói về những tội lỗi trong Hội Thánh như chuyện nói hành, tham ăn, chia rẽ và bè phái với cùng một sự nghiêm túc như khi nói về tội lỗi tình dục?
Điều gì sẽ xảy ra nếu Hội Thánh nghiêm túc xử lý tội lỗi của chính mình hơn tội lỗi của thế gian? Tôi nghĩ đó mới là điều chúng ta được kêu gọi làm.
Nếu bạn vẫn chưa bị thuyết phục, hãy nghiên cứu đời sống Chúa Giê-su. Bạn sẽ thấy Ngài luôn mời gọi những người bị xem là tội nhân khét tiếng và những người bị xã hội loại trừ đến với mình. Trong khi đó, những lời quở trách nặng nề nhất của Ngài lại dành cho những người lãnh đạo tôn giáo thời bấy giờ.
Chúng ta đang làm ngược lại. Nếu Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến như vậy, ai đã quyết định rằng chúng ta không nên yêu thương thế gian?
Và nếu mục tiêu của bạn là giúp người khác mở lòng với một Đức Chúa Trời yêu thương, tại sao bạn lại nghĩ rằng bắt đầu bằng sự phán xét là một chiến lược hiệu quả? Rất ít người được thay đổi bởi sự kết án. Nhưng rất nhiều người được thay đổi bởi tình yêu thương.
5. Nói Với Người Khác Rằng Mình Trưởng Thành Thuộc Linh
Điều này luôn khiến tôi khó hiểu.
Trong nhiều năm qua, không ít người đã kéo tôi sang một bên và hỏi: “Vậy Hội Thánh anh có chương trình gì dành cho những người trưởng thành thuộc linh như tôi không?”
Có lẽ tôi nên lùi lại để những người như thế rẽ đôi Biển Đỏ chăng.
Việc nói với người khác rằng mình trưởng thành thuộc linh cũng giống như nói với người khác rằng mình khôn ngoan. Chính điều đó lại là bằng chứng cho thấy có lẽ bạn không phải như vậy. Theo quan điểm của tôi, những người trưởng thành thuộc linh nhất thường cũng là những người khiêm nhường nhất. Nếu bạn đang phô trương sự trưởng thành của mình, thì rất có thể bạn vẫn còn cần tăng trưởng nhiều.
Bạn Nghĩ Thế Nào?
Tôi hy vọng bạn hiểu rằng những điều này không chỉ xuất phát từ sự thất vọng, mà còn từ tình yêu dành cho Đức Chúa Trời, cho Hội Thánh và cho thế giới.
Tôi rất mong cuộc trò chuyện về sự trưởng thành thuộc linh sẽ trở nên lành mạnh hơn.
Tôi tin rằng ngày nay Hội Thánh đang hiểu sai khá nhiều về vấn đề môn đồ hóa. Và tôi cũng tin rằng Hội Thánh cần một kiểu trưởng thành thuộc linh khác — một sự trưởng thành được đánh dấu bởi sự khiêm nhường, ân điển, lẽ thật, sự ăn năn và tình yêu thương, thay vì bởi sự tự mãn hay cảm giác mình vượt trội hơn người khác.
Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc
Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.
Nước Mỹ đã nhiều lần được Đức Thánh Linh thăm viếng hơn những gì hầu hết tín hữu nhận ra. Từ một hội thánh nhỏ trong thung lũng Connecticut năm 1734 cho đến những sân vận động bóng đá chật kín người vào thập niên 1990, lịch sử phấn hưng của quốc gia này giống như một biên niên sử về việc Đức Chúa Trời biến điều tưởng chừng không thể thành điều bình thường. Đây không phải là những chương trình được dàn dựng hay chiến dịch quảng bá. Chúng là những hành động chủ quyền của Đức Chúa Trời, làm đảo lộn bức tranh thuộc linh của cả vùng, thậm chí cả một thế hệ.
Hiểu biết về lịch sử đó ngày nay lại càng quan trọng. Khi văn hóa dường như trôi dạt về mặt thuộc linh và ảnh hưởng của Hội thánh có vẻ đang thu hẹp, thì ký ức về những gì Đức Chúa Trời đã từng làm trở thành bằng chứng mạnh mẽ nhất cho những gì Ngài vẫn có thể làm lần nữa.
Phấn Hưng là gì?
Trước khi lần theo lịch sử, cần định nghĩa thuật ngữ này. Phấn hưng không phải là một chương trình tăng trưởng hội thánh hay một sự kiện cuối tuần đông người tham dự. Jonathan Edwards, người chứng kiến cuộc thức tỉnh lớn đầu tiên trong lịch sử Mỹ, đã mô tả đó là việc Đức Chúa Trời bày tỏ “lòng thương xót tự do và chủ quyền của Ngài trong việc cứu rỗi một số đông linh hồn trong một khoảng thời gian ngắn” và biến đổi con người “từ một sự xưng nhận Cơ Đốc giáo hình thức, lạnh lùng và hờ hững sang việc thực hành sống động mọi ân điển Cơ Đốc.”
Nói ngắn gọn, phấn hưng là khi Đức Chúa Trời tăng tốc tiến trình thuộc linh vốn dĩ phải mất hàng thập kỷ. Con người cảm nhận sự hiện diện của Ngài cách mãnh liệt. Sự cáo trách trở nên sâu sắc và thật. Lời cầu nguyện trở nên khẩn thiết. Nhiều người được cứu, và những kẻ sa ngã quay trở lại. Phạm vi càng rộng lớn thì các sử gia càng gọi đó là một “Cuộc Thức Tỉnh Lớn.”
1. Cuộc ĐạiThức Tỉnh (1734–1743)
Tháng 12 năm 1734, Jonathan Edwards, một Mục sư trẻ tại Northampton, Massachusetts, ghi nhận điều lạ thường xảy ra trong hội thánh của ông. Chỉ trong thời gian ngắn, năm hoặc sáu người đã được cứu, trong đó có một phụ nữ trẻ vốn nổi tiếng là kẻ gây rối nhất trong thị trấn. Thay vì dập tắt ngọn lửa, sự hoán cải của cô lại thổi bùng nó lên. Trong vòng sáu tháng, ba trăm linh hồn được cứu trong một thị trấn chỉ có 1.100 người.
Tin tức lan rộng khắp New England và xa hơn nữa. Những cuộc phấn hưng tương tự bùng nổ tại hơn 100 thị trấn. Rồi năm 1739, George Whitefield từ Anh đến. Các sử gia ước tính rằng 80% trong số 900.000 dân thuộc địa đã trực tiếp nghe ông giảng. Những buổi nhóm ngoài trời của ông thu hút đám đông đông đảo đến mức vẫn gây ấn tượng ngay cả theo tiêu chuẩn hiện đại. Theo nhiều ghi nhận, Whitefield trở thành, “ngôi sao đại chúng” đầu tiên của nước Mỹ.
2. Cuộc ĐạiThức Tỉnh Thứ Hai (1800–1840)
Đầu thế kỷ 19, chỉ có 1 trong 15 người Mỹ thuộc về một hội thánh Tin Lành. Tỷ lệ này sắp thay đổi mạnh mẽ. Mục sư Trưởng Lão James McGready tổ chức những buổi nhóm trại bùng nổ tại Logan County, Kentucky, thu hút hàng ngàn người từ tận Ohio. Các phong trào kế tiếp lan khắp vùng biên cương. Năm 1824, Charles Finney bắt đầu chức vụ, dẫn đến khoảng 500.000 người tin nhận Đấng Christ. Riêng tại Rochester, New York, năm 1831 có 100.000 người được cứu, và sự thức tỉnh lan ra 1.500 thị trấn xung quanh. Đến năm 1850, dân số Mỹ tăng gấp bốn, nhưng tỷ lệ người gắn bó với hội thánh Tin Lành gần như tăng gấp đôi.
3. Phấn Hưng Giới Doanh Nhân (1857–1858)
Jeremiah Lanphier, một giáo sĩ thường dân, mở cửa hội thánh Bắc Hà Lan tại New York vào buổi trưa để cầu nguyện. Buổi đầu tiên ngày 23/9/1857 chỉ có sáu người. Rồi 20, rồi 40. Các buổi nhóm chuyển sang hằng ngày, rồi nhiều địa điểm. Ba tuần sau, khủng hoảng ngân hàng 1857 làm Wall Street sụp đổ. Khi khủng hoảng tài chính lan rộng, các buổi cầu nguyện nhân lên. Ước tính một triệu người được thêm vào sổ hội thánh, và một triệu tín hữu khác kinh nghiệm sự hoán cải thật. Đây được gọi là “Phấn Hưng Cầu Nguyện Lớn.”
4. Phấn Hưng Thời Nội Chiến (1861–1865)
Nội chiến là cuộc xung đột đẫm máu nhất của Mỹ, với hơn 620.000 người chết. Ban đầu, binh lính hai bên dường như bỏ lại Đức tin ở nhà. Nhưng từ năm 1862, đặc biệt trong quân đội miền Nam, sự thay đổi xảy ra. Ước tính 300.000 binh sĩ được cứu trong suốt cuộc chiến, chia đều giữa hai phe.
5. Phấn Hưng Đô Thị (1875–1885)
Dwight L. Moody, từng tham gia Phấn Hưng1857 tại Chicago, sau đó giảng cho hơn 2,5 triệu người ở Anh trước khi trở về Mỹ năm 1875 để khởi động các chiến dịch Phấn Hưngtại những thành phố lớn. Hàng trăm ngàn người được cứu, hàng triệu người được khích lệ.
Moody là nhà truyền giảng đầu tiên đối diện sự chống đối mạnh mẽ từ văn hóa chính thống. Ông bị cáo buộc dùng tôn giáo như thuốc phiện, báo trước những tranh luận sẽ gia tăng trong thế kỷ 20 khi thuyết Darwin và thần học tự do lan rộng.
6. CuộcPhấn Hưng1904–1905
Tin tức về Phấn Hưng xứ Wales lan đến cộng đồng di dân nói tiếng Wales ở Pennsylvania, khởi đầu một chuỗi phản ứng. Đến năm 1905, các cuộc Phấn Hưng bùng cháy tại Brooklyn, Michigan, Denver, Nebraska, hai bang Carolina, Georgia, và nhiều trường đại học như Yale, Asbury. Billy Sunday nổi lên trong thời kỳ này, sau đó giảng cho hơn 100 triệu người, với hơn một triệu người được cứu.
7. Phấn Hưng Đường Azusa (1906)
William J. Seymour, một Mục sư người Mỹ gốc Phi, đến Los Angeles năm 1906. Sau khi bị ngăn cấm sự phục vụ thứ hai, ông bắt đầu cầu nguyện tại một ngôi nhà. Sau nhiều tháng cầu nguyện kiên trì, Đức Thánh Linh giáng xuống cách quyền năng, khiến đám đông vượt quá sức chứa.
Họ chuyển đến một nhà thờ cũ tại số 312 Azusa Street, nơi các buổi nhóm diễn ra hằng ngày suốt ba năm. Hội chúng đa sắc tộc là điều cực kỳ cấp tiến thời đó. Phong trào Ngũ Tuần và sau này là phong trào Ân Tứ đều bắt nguồn từ đây, trở thành những dòng chảy phát triển nhanh nhất toàn cầu trong thế kỷ 20.
8. Phấn Hưng Sau Thế Chiến II (1947–1950)
Sau Thế chiến II, các tín hữu Ngũ Tuần kinh nghiệm hai dòng phục hưng: “Cơn mưa cuối mùa” và “Phấn Hưng Chữa Lành.” Đồng thời, nhiều tín hữu Tin Lành cũng chứng kiến sự cứu rỗi lớn lao. Một thế hệ lãnh đạo mới xuất hiện: Bill Bright sáng lập Campus Crusade for Christ; Billy Graham bùng nổ tại chiến dịch Los Angeles năm 1949. Graham sau đó giảng cho khoảng 180 triệu người trong gần 400 chiến dịch suốt sáu thập kỷ. Các cuộc Phấn hưng lan rộng tại nhiều trường đại học, đặc biệt khi Phấn hung Wheaton College năm 1950 được báo chí đưa tin, tạo hiệu ứng lan tỏa khắp nước Mỹ.
Hai dòng chảy song song: Phong trào Ân Tứ lan rộng vào cả Giáo hội Công giáo, các hệ phái Tin Lành chính thống và trường đại học. Phong trào Giê-su thì hướng năng lượng “lối sống tha hóa đi ngược văn hóa” của giới trẻ về Đấng Christ, đưa họ rời bỏ ma túy, tình dục phóng túng và chính trị cực đoan để đến với Kinh Thánh và sự hoán cải cá nhân. Một minh chứng nổi bật là Phấn hung Asbury College năm 1970, bắt đầu từ một buổi nhóm nhà nguyện và kéo dài nhiều tuần. Chỉ trong vài ngày, các nhóm truyền đi khắp đất nước. Đến năm 1976, Mỹ bầu chọn vị tổng thống đầu tiên công khai là người “tái sinh,” và phong trào Tin Lành bước vào thời kỳ hiện diện văn hóa mạnh mẽ.
10. Các Cuộc Phấn Hưng Giữa Thập Niên 1990
Dù xã hội thế tục hóa mạnh sau thập niên 1960–1970, Đức Chúa Trời lại hành động trong thập niên 1990, chủ yếu qua cộng đồng Ân Tứ và Ngũ Tuần. “Phước Lành Toronto” (1994) thu hút người từ khắp thế giới. Phấn hưng Brownsville tại Florida ghi nhận hơn 100.000 người được cứu trong hai năm. Các trường đại học cũng chứng kiến phong trào mới. Phong trào Promise Keepers bắt đầu năm 1991 với 4.200 người, rồi tăng lên 50.000 vào năm 1993. Đỉnh điểm là ngày 4/10/1997, hơn một triệu người tập trung tại Washington, D.C. để cầu nguyện và ăn năn. Đến năm 2000, Promise Keepers báo cáo tổng cộng năm triệu người tham dự các hội nghị.
10 Đặc Điểm Chung Của Mọi Cuộc Phấn Hưng
Mỗi cuộc thức tỉnh đều mang dấu ấn riêng. Phấn hung năm 1740 do giới trẻ dẫn đầu. Phấn h ưng cầu nguyện 1857 tập trung vào giới doanh nhân. Phấn hung Azusa Street năm 1906 nổi bật bởi tính đa sắc tộc trong bối cảnh xã hội phân biệt. Tuy nhiên, xuyên suốt tất cả, có những mẫu số chung luôn xuất hiện:
Suy thoái thuộc linh và đạo đức đi trước Phấn Hưng: Đức Chúa Trời thường hành động khi nhiệt độ thuộc linh xuống thấp nhất và dân sự Ngài cảm nhận rõ nhất.
Sự cầu nguyện khác thường: Trong mọi cuộc phấn hưng, Đức Chúa Trời đặt gánh nặng cầu nguyện vào lòng những người bình thường trước khi có bất cứ điều gì xảy ra bên ngoài.
Giảng dạy Lời Đức Chúa Trời: Việc tiếp nhận sâu sắc và trực diện với Kinh Thánh tạo ra sự cáo trách khiến con người quỳ gối.
Công việc của Đức Thánh Linh: Không có nỗ lực nào của con người có thể giải thích những gì xảy ra trong một cuộc Phấn hung thật. Đức Thánh Linh đưa con người đến những chiều sâu mà họ không thể tự đạt được.
Sự cáo trách sâu sắc về tội lỗi: Người được ảnh hưởng không chỉ buồn bã; họ bị tan vỡ và không tìm thấy sự nghỉ ngơi cho đến khi đến với Đấng Christ.
Chỉ một mình Đức Chúa Trời nhận vinh hiển: Những cuộc Phấn hung bền vững luôn hướng con người ra khỏi cá nhân và quay về với Đức Chúa Trời.
Sự hoán cải lâu dài: Các chức vụ mới được khai sinh. Tình trạng đạo đức trong cộng đồng thay đổi. Kết quả là thật và tồn tại vượt quá phong trào ban đầu.
Biểu hiện thể chất và cảm xúc: Ngất xỉu, khóc lóc, cầu nguyện rên siết, và những biểu hiện khác thường luôn đi kèm với Phấn hưng trong mọi truyền thống, thường gây tranh cãi.
Tranh luận và hỗn độn: Lạm dụng, tranh chấp thần học, và thái quá luôn xuất hiện trong mọi cuộc Phấn hưng thật. Đức Chúa Trời không chờ đợi một khí cụ hoàn hảo.
Phấn hưnglên cao rồi lắng xuống: Không cuộc thức tỉnh nào trong lịch sử Mỹ duy trì cường độ đỉnh cao mãi mãi. Chúng trỗi dậy, đạt đỉnh, rồi dần lắng xuống, để lại một bức tranh thuộc linh đã thay đổi.
Nước Mỹ có sẵn sàng cho một cuộc Phấn Hưng nữa không?
Phần lớn người Mỹ thường xuyên nói với các nhà thăm dò rằng họ tin đất nước đang đi sai hướng. Tỷ lệ đi nhà thờ so với dân số nhìn chung giữ ổn định từ giữa thế kỷ 20, nhưng ảnh hưởng văn hóa và đạo đức của Cơ Đốc giáo đã suy giảm đáng kể. Số lượng “Cơ Đốc nhân trên danh nghĩa” thì lớn, trong khi số người thật sự được biến đổi thì dường như nhỏ hơn.
Chính sự căng thẳng đó lại là bối cảnh quen thuộc cho mọi cuộc Phấn hung lớn trong lịch sử. Cơ Đốc giáo hiện diện nhưng không có quyền năng. Phổ biến nhưng không sâu sắc. Tình hình không vô vọng. Nó trở lên quen thuộc.
Nước Mỹ đã không chứng kiến một cuộc thức tỉnh mang tầm vóc quốc gia trong cả một thế hệ. Với lịch sử Phấn Hưngphong phú, nền tảng tín hữu đông đảo, và một thời điểm văn hóa đang kêu gào cho điều gì đó vượt quá khả năng của chính trị hay công nghệ, các điều kiện hiện tại rất dễ nhận ra.
Lịch sử cũng cho thấy một điều rõ ràng: Phấn Hưngquốc gia không thể được sản xuất hay dàn dựng. Chúng là hành động chủ quyền của Đức Chúa Trời, không phải sản phẩm của chiến lược. Nhưng Đức Chúa Trời luôn đáp lời những lời cầu nguyện khiêm nhường, ăn năn của dân sự Ngài. Lời mời gọi trong 2 Sử Ký 7:14 vẫn chưa hề hết hạn.
Lịch sử phục hưng thuộc linh tại Hoa Kỳ là gì?
Lịch sử phục hưng tại Hoa Kỳ đề cập đến những giai đoạn được ghi nhận trong đó xảy ra sự thức tỉnh thuộc linh mạnh mẽ và lan rộng, khi số lượng lớn người dân tin nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu và những tín hữu đã tin Chúa cũng trải nghiệm sự đổi mới sâu sắc trong đời sống đức tin. Các phong trào phục hưng lớn tại Hoa Kỳ trải dài từ cuộc thức tỉnh ở Northampton năm 1734 dưới chức vụ của Jonathan Edwards cho đến các phong trào trong thập niên 1990, mỗi phong trào đều để lại những tác động rõ rệt đối với xã hội và Hội Thánh.
Điều gì đã khởi đầu cuộc Đại Tỉnh Thức (Great Awakening) tại Hoa Kỳ?
Cuộc Đại Tỉnh Thức bắt đầu vào tháng 12 năm 1734 tại Northampton, bang Massachusetts, dưới chức vụ của Jonathan Edwards. Một loạt những trường hợp quy đạo đầy bất ngờ trong hội chúng của ông, bao gồm cả một phụ nữ trẻ có ảnh hưởng trong cộng đồng, đã nhanh chóng lan truyền khắp địa phương và các vùng lân cận. Đến năm 1739, những chuyến truyền giảng lưu động của nhà truyền đạo người Anh George Whitefield trên khắp các thuộc địa đã thổi bùng phong trào này thành một cuộc thức tỉnh thuộc linh trên quy mô toàn lục địa.
Những đặc điểm của một cuộc phấn hưng thuộc linh là gì?
Các cuộc phấn hưng chân chính thường có những đặc điểm chung sau: chúng xuất hiện trong những giai đoạn suy thoái về đạo đức và thuộc linh; được chuẩn bị trước bởi sự cầu nguyện tha thiết và đặc biệt; đi kèm với sự cáo trách sâu sắc về tội lỗi; và tạo ra những thay đổi rõ rệt, lâu dài trong đời sống cá nhân cũng như cộng đồng. Những biểu hiện thể chất, các tranh luận hoặc ý kiến trái chiều, cùng với tính chu kỳ của các phong trào phục hưng cũng xuất hiện trong hầu như mọi cuộc phấn hưng được ghi nhận trong lịch sử.
Cuộc phục hưng thuộc linh lớn gần đây nhất tại Hoa Kỳ diễn ra khi nào?
Phong trào phấn hưng được ghi nhận trên quy mô toàn quốc gần đây nhất tại Hoa Kỳ là làn sóng phấn hưng vào giữa thập niên 1990, bao gồm Phước Hạnh Toronto (Toronto Blessing), Phục Hưng Brownsville tại Pensacola, Florida, và các kỳ nhóm Promise Keepers, thu hút hơn một triệu nam giới đến Washington, D.C. vào năm 1997. Những cuộc phục hưng mang tính địa phương và trong các khuôn viên trường đại học, bao gồm một cuộc thức tỉnh đáng chú ý tại Asbury, vẫn tiếp tục xuất hiện trong thập niên 2020.
Hoa Kỳ có đang tiến gần đến một cuộc phấn hưng thuộc linh khác không?
Nhiều nhà sử học và thần học gia nhận thấy rằng Hoa Kỳ đã trải qua các cuộc phục hưng lớn khoảng mỗi 50 đến 60 năm một lần. Những điều kiện từng xuất hiện trước các cuộc thức tỉnh trong quá khứ — sự suy thoái đạo đức trên diện rộng, đức tin mang tính hình thức, và sự khao khát ngày càng tăng đối với một điều gì đó chân thật — cũng đang hiện diện trong xã hội ngày nay. Tuy nhiên, việc liệu một cuộc thức tỉnh thuộc linh trên phạm vi quốc gia có sắp xảy ra hay không hoàn toàn thuộc về ý muốn và thời điểm của Đức Chúa Trời; dù vậy, lịch sử cho thấy những điều kiện tiền đề ấy là điều có thể nhận biết được.
Tác giả: Patrick Morley (Churchleaders.com)
Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc
Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.
Con út của tôi sắp lên 10 và sẽ sớm bước vào độ tuổi ‘hai chữ số” cùng hai cô chị của nó. Điều này có nghĩa là Aileen, vợ tôi, và tôi đã “tốt nghiệp” – chuyển từ giai đoạn làm cha mẹ của những đứa trẻ nhỏ sang làm cha mẹ của những đứa trẻ lớn. Dĩ nhiên, việc nuôi dạy con vẫn còn nhiều phía trước, nhưng những năm tháng “con mọn” nay đã thuộc về quá khứ. Đó là những năm tháng vừa tuyệt vời vừa khó khăn, vừa dễ dàng vừa gian nan. Chúng đầy ắp niềm vui xen lẫn thử thách. Có lúc chúng tôi làm tốt, có lúc chúng tôi thất bại, chắc chắn là vậy. Và giờ thì tất cả đã ở phía sau. Trước khi ký ức trở nên mờ nhạt theo dòng thời gian, chúng tôi quyết định ghi lại vài bài học đã rút ra trong những năm tháng nuôi dạy con nhỏ. Có lẽ bạn sẽ thấy hữu ích.
1. Hãy nhớ rằng sự nổi loạn của con trước hết là chống lại Đức Chúa Trời, không phải chống lại bạn.
Trẻ em sinh ra vốn là tội nhân và cần một Đấng Cứu Rỗi. Gần như trước khi chúng có thể bày tỏ điều gì khác, chúng đã có thể bày tỏ sự nổi loạn chống lại cha mẹ. Càng lớn, sự nổi loạn ấy chỉ gia tăng – khi ồn ào, công khai; lúc lại âm thầm, lặng lẽ. Chúng tôi thường phải tự nhắc mình rằng sự nổi loạn ấy không phải chống lại chúng tôi trướ hết, mà là chống lại Đức Chúa Trời. Chúng chống đối chúng tôi, chống đối thẩm quyền và luật lệ của chúng tôi, nhưng tận cùng chúng đang chống nghịch với Đức Chúa Trời. Nhận thức đơn giản này giúp chúng tôi biết thương xót, cầu nguyện cho chúng, và một lần nữa nói với chúng về Chúa Giê-su.
2. Hãy cầu nguyện. Cầu nguyện, cầu nguyện và cầu nguyện!
Hãy cầu nguyện cho con cái bạn. Cầu nguyện cách kiên định, bền bỉ, tha thiết, chân thành và liên tục. Cầu nguyện cho thân thể, linh hồn và cuộc đời chúng. Cầu nguyện cho tình bạn và các mối quan hệ của chúng. Cầu nguyện cho việc học hành và người bạn đời tương lai. Hãy cầu nguyện cho chúng, cầu nguyện cùng chúng, cầu nguyện cho chúng, trước mặt chúng. Cầu nguyện cho chúng với hội thánh. Cầu nguyện cho chúng với người phối ngẫu. Cầu nguyện với niềm vui và cả trong nước mắt. Cầu nguyện như thể lời cầu nguyện thật sự quan trọng. Trên hết, hãy cầu nguyện. Bạn cần điều đó, chúng cần điều đó, và Đức Chúa Trời tôn trọng điều đó.
3. Trông đợi rằng Đức Chúa Trời sẽ cứu chúng.
Là cha mẹ Cơ Đốc, bạn có thể có niềm tin cậy lớn lao rằng Đức Chúa Trời sẽ cứu con cái bạn. Sự tin cậy này không dựa trên việc chúng là ai, sinh ra trong gia đình nào, hay dựa trên bất cứ điều gì đã làm cho chúng. Thay vào đó, nó dựa trên bản tính của Đức Chúa Trời (Đấng yêu thích cứu kẻ lạc mất) và phương tiện Ngài dùng (Phúc âm). Nếu bạn nuôi dạy con cái trong bầu khí thấm đẫm Phúc âm, bạn có thể tin chắc rằng chúng sẽ đáp ứng với Tin Lành. Tuy nhiên, cũng phải nói thêm điều này: Dù con bạn có thể thật sự được cứu khi còn rất nhỏ, đừng ngạc nhiên nếu cả bạn lẫn chúng chưa có sự xác quyết mạnh mẽ về sự cứu rỗi cho đến khi chúng trưởng thành và chín chắn hơn. Điều đó không sao, bởi vì dù đã tin hay chưa, nhu cầu của chúng vẫn giống nhau – vẫn là Tin Lành thôi.
4. Hãy coi trọng hội thánh (và nếu có thể, gắn bó với một hội thánh).
Hãy đặt việc thờ phượng và phục vụ tại hội thánh lên hàng đầu, và bất cứ khi nào có thể, hãy gắn bó với một hội thánh duy nhất. Không có kỷ luật gia đình nào tốt hơn việc cam kết với một hội thánh địa phương như môi trường để thờ phượng Đức Chúa Trời và phục vụ dân sự Ngài. Bạn chỉ có thể dạy điều này cho con bằng cách làm gương, bằng cách ưu tiên cho việc đó. Và có điều gì đó thật tốt lành, thật trong sáng khi trẻ em lớn lên trong một hội thánh, giữa một nhóm người duy nhất. Thật vui mừng khi được ở cùng những tín hữu đã biết và yêu thương con bạn từ khi chúng chào đời, và tiếp tục biết và yêu thương chúng khi bước vào tuổi trưởng thành.
5. Dạy con biết cách giao tiếp với người lớn.
Liên quan đến hội thánh, hãy tạo cơ hội cho con bạn được ở gần những người lớn khác. Chúng ta thường chú trọng xây dựng tình bạn giữa trẻ với trẻ, nhưng lại dễ bỏ qua việc giúp con xây dựng mối quan hệ với người lớn – những người có thể yêu thương, cầu nguyện, hướng dẫn và dìu dắt chúng khi trưởng thành. Bạn bè của bạn cũng có thể (và nên!) trở thành bạn của con bạn. Đừng ngại để người lớn khác có ảnh hưởng đến chúng. Đừng ngại, ngay cả khi chúng còn nhỏ, gợi ý: “Sao con không thử nói chuyện với _____ về điều đó.” Để nuôi dạy một đứa trẻ cần cả hội thánh.
6. Tự tin nhưng khiêm nhường trong việc làm cha mẹ.
Có những cặp vợ chồng đọc đủ loại sách, biết rõ trước khi sinh con đầu lòng rằng họ sẽ nuôi dạy thế nào, và theo chương trình đó đến cùng. Những cặp khác thì bỏ sách lại, chỉ đọc Kinh Thánh, cầu nguyện và đơn giản làm theo bản năng. Bằng cách nào đó, cả hai cách đều có thể hiệu quả, và chúng ta đều có thể nghĩ đến những đứa trẻ tin kính Chúa được nuôi dạy theo cả hai cách. Aileen và tôi học được rằng chúng tôi cần vừa tự tin vừa khiêm nhường trong cách nuôi dạy con – tự tin đủ để không liên tục thay đổi mô hình nuôi dạy, nhưng khiêm nhường đủ để học hỏi từ người khác, và nhất là luôn để Lời Chúa thách thức và sửa dạy mình.
7. Ưu tiên giờ tĩnh nguyện gia đình.
Ngoài việc đi nhà thờ, giờ tĩnh nguyện gia đình là kỷ luật quan trọng nhất mà gia đình bạn có thể thực hiện. Đây là điều cần bắt đầu và nhấn mạnh trong những năm con còn nhỏ, bởi vì bạn có tin hay không thì cuộc sống vẫn càng thêm bận rộn khi chúng lớn lên. Giờ là lúc để hình thành thói quen đó. Hãy bắt đầu ngay để con bạn không bao giờ phải nhớ đến giai đoạn mà gia đình của bạn không có thời gian thờ phượng cùng nhau. Aileen và tôi đã được khích lệ lạ lùng khi con trai chúng tôi kể lại với hội thánh cách Chúa cứu nó, và nhắc đến “sự cam kết như các chiến binh Spartan” trong gia đình tôi đối với giờ tĩnh nguyện.” Cháu nó nói vui thôi, nhưng thật là phước hạnh khi nghe thấy tầm quan trọng của điều đó trong đời sống cháu (nhất là khi chúng tôi rất ý thức về những lần bỏ lỡ, thất bại hay quên mất). Chúng tôi luôn tin rằng việc đơn giản mở Kinh Thánh và cầu nguyện chung vài phút mỗi ngày có tầm quan trọng vượt trội. Chúng tôi tin chắc rằng Đức Chúa Trời dùng điều đó để củng cố gia đình và cứu linh hồn.
8. Hiểu rằng đôi khi làm cha mẹ chỉ là cố gắng “sống sót”.
Trong những năm con còn nhỏ, nhiều khi việc làm cha mẹ thực chất chỉ là cố gắng “sống sót” – sống sót qua việc cho con bú, mọc răng, sốt, ăn vạ; sống sót khi đã nhiều tuần không có một giấc ngủ ngon và bạn chắc chắn rằng mình không thể chịu thêm một đêm nào nữa. Chúng tôi học được rằng trong những lúc khó khăn này, có thể phá vỡ vài quy tắc hay sở thích trong nuôi dạy con để giữ sự sống còn và tỉnh táo. Em bé có ngủ trong phòng hay trên giường bạn vài đêm hay vài tuần thì bạn cũng không làm mất linh hồn nó đâu. Nếu bạn cho con ngậm núm vú giả thì cũng không phải vì thế mà nó trở thành tội phạm. Đôi khi bạn thua những trận chiến nhỏ, và phải chấp nhận điều đó.
9. Ưu tiên cho hôn nhân của bạn.
Nuôi dạy con là thử thách lớn nhất và khó nhất mà hôn nhân của bạn sẽ đối diện. Không thể nào thêm vài cá tính mới vào gia đình mà lại không gây áp lực lên hôn nhân. Dù hôn nhân và con cái được thiết kế để hòa hợp, bạn sẽ thấy chúng thường cạnh tranh nhau. Nhưng hôn nhân phải được đặt lên hàng đầu. Sự ổn định của một hôn nhân mạnh mẽ, yêu thương, trìu mến sẽ neo giữ con cái, cho chúng sự tự tin rằng bất cứ điều gì xảy ra trong đời, hôn nhân này vẫn vững chắc. Hãy tìm và tạo cơ hội để ưu tiên và củng cố hôn nhân theo cách con cái có thể thấy và cả theo cách chúng không thấy. Dù thế nào, chúng cũng sẽ được hưởng lợi.
10. Cho con ân điển.
Hãy ban ân điển cho con, không chỉ toàn sửa phạt. Hãy chúng rằng bất tuân sẽ có hậu quả và kỷ luật chúng với sự nhất quán và nhân từ. Nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Đôi khi hiệu quả hơn lại là bày tỏ lòng thương xót để phản ánh lòng thương xót mà Đức Chúa Trời đã dành cho bạn. Thậm chí đôi lúc bạn có thể quyết định bỏ qua một lỗi lầm để tập trung xử lý một loại tội lỗi khác. Hãy ban ân điển và bày tỏ lòng thương xót. Đừng chỉ kể cho chúng nghe Phúc âm, mà hãy làm gương trong cách bạn đối xử với chúng.
Ghi chú thêm về câu “Hãy trông đợi Đức Chúa Trời sẽ cứu con cái mình”:
Tất nhiên, Đức Chúa Trời không có nghĩa vụ phải ban sự cứu rỗi cho con cái bạn. Theo ý muốn tể trị và tốt lành của Ngài, Ngài có thể không cứu chúng, hoặc chỉ dẫn chúng đến sự cứu rỗi khi chúng đã trưởng thành hay ở một giai đoạn rất muộn trong đời. Tuy vậy, điều đó không nên làm bạn mất niềm tin rằng những đứa trẻ được nuôi dưỡng trong môi trường thấm nhuần Phúc Âm ngay từ nhỏ thường có nhiều khả năng tiếp nhận và đáp lại sứ điệp Phúc Âm.
Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc
Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.
Hội thánh được chuẩn bị tốt sẽ đủ mạnh để vượt qua những khó khăntrong chuyển giao chức vụ.
Kế nhiệm một chức vụ chăn bầy lâu dài và thành công là một trong những việc khó khăn nhất trong sự phục vụ Chúa. Đúng ra, điều đó cần phải là việc dễ dàng nhất. Bởi nếu chúng ta thi hành chức vụ đúng cách, chúng ta phải chuẩn bị cho vị mục sư kế tiếp đạt được thành công lớn hơn cả chúng ta.
Nhưng thực tế là việc chuyển giao chức vụ thường là thời điểm nguy hiểm nhất trong đời sống của nhiều hội thánh. Một mục sư phục vụ càng lâu, càng thành công thì sự ra đi của ông ấy càng khó khăn. Không còn vị mục sư được yêu mến tất nhiên khiến người ta cảm thấy buồn. Nhưng việc đó không nên gây tổn thương nặng nề như thường thấy. Vậy nên, mỗi mục sư cần làm hết sức để giúp người kế nhiệm và Hội thánh có thể tiếp tục chức vụ cách mạnh mẽ sau khi mình rời đi.
Dưới đây là năm điểm mà các mục sư có thể làm để được điều đó.
1. Suy nghĩ dài hạn – thật dài hạn.
Đối với nhiều mục sư, “dài hạn” nghĩa là tháng tới. Với một số người, đó là kế hoạch 5 hay 10 năm. Nhưng trên thực tế, chúng ta cần suy nghĩ xa hơn thế. Mọi điều mục sư chạm đến – từ cơ sở vật chất, chương trình, môn đồ hóa tín hữu, cho đến tài chính – đều phải tính đến hệ quả lâu dài. Hội thánh đã hiện hữu trước khi bạn đến, và (cần) tiếp tục sau khi bạn rời đi. Hãy chắc chắn rằng di sản chúng ta để lại sẽ là phước hạnh cho những thế hệ sau, dù họ chẳng bao giờ biết đến tên tuổi chúng ta.
2. Đảm bảo rằng người ta theo Chúa Giê-su, không phải theo bạn
Nhiều hội thánh ở phương Tây quá lệ thuộc vào mục sư. Thay vì than phiền, chúng ta cần giúp hội thánh mình bước đi ít phụ thuộc vào chúng ta hơn. Bằng cách nào? Bằng việc chắc chắn rằng mọi điều trong hội thánh đều mang dấu ấn rõ ràng của Chúa Giê-su – chứ không phải của Mục sư, giáo phái, trào lưu mới, truyền thống cũ hay bất cứ điều gì khác.
Điều đó bao gồm (nhưng không giới hạn):
Giảng dạy Lời Kinh Thánh, không phải quan điểm cá nhân hay chính trị.
Huấn luyện tín hữu biết tự đọc và dạy Kinh Thánh.
Ưu tiên chức vụ thực hành hơn là chỉ ngồi nghe.
Giúp tín hữu nhận biết và theo đuổi khải tượng của Đức Chúa Trời cho đời sống và hội thánh họ, chứ không chỉ là khải tượng của mục sư.
Sống giống Chúa Giê-su hơn, chứ không chỉ biết nhiều về Ngài.
3. Hãy là một trong số những người lãnh đạo, không phải người lãnh đạo duy nhất
Vai trò mục sư ngày nay thường bị nâng cao quá mức, nhưng điều đó không có nghĩa là sự lãnh đạo của con người không quan trọng. Nó vẫn quan trọng. Tuy nhiên, Mục sư nên là một trong những người lãnh đạo, chứ không phải người lãnh đạo duy nhất. Một lý do chính khiến sự chuyển giao mục vụ nguy hiểm là vì nó thường để lại khoảng trống lãnh đạo hoàn toàn khi mục sư rời đi. Nhà lãnh đạo vĩ đại không chỉ sản sinh ra những người đi theo. Nhà lãnh đạo vĩ đại cần sản sinh ra nhiều nhà lãnh đạo khác.
4. Trang bị cho các thánh đồ
Sứ mạng chính của mục sư không phải là làm chức vụ thay cho tín hữu, mà là trang bị họ để làm chức vụ (Ê-phê-sô 4:11-12). Một hội thánh được trang bị sẽ đủ mạnh để vượt qua thử thách của sự chuyển giao mục vụ. Nếu Mục sư đã trung tín trong việc trang bị các thánh đồ, thì càng phục vụ lâu, hội thánh càng được chuẩn bị để tiếp tục chức vụ hiệu quả – dù Mục sư còn ở đó hay không.
5. Bắt đầu ngay hôm nay
Dù bạn đang ở năm cuối hay năm đầu trong chức vụ, không bao giờ là quá sớm hay quá muộn để chuẩn bị hội thánh cho ngày bạn rời đi. Vì thật ra, chẳng ai biết chắc ngày đó sẽ đến sớm thế nào. Thước đo thật sự của sự thành công trong chức vụ mục sư không phải là những việc lớn lao được thực hiện trong nhiệm kỳ, mà là nền tảng di sản để lại cho người khác xây dựng tiếp. Chúng ta cần có sự khiêm nhường để nhớ rằng hội thánh không phải của chúng ta. Dù chức vụ hay thời gian phục vụ có dài bao nhiêu. Hội thánh là của Đấng Christ. Hãy đặt Ngài lên hàng đầu, làm người quản gia trung tín, và trao lại cho thế hệ kế tiếp một hội thánh vững mạnh hơn khi chúng ta nhận nó.
Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc
Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.
Không có công nghệ nào là trung lập về mặt giá trị. Mỗi công nghệ đều đi kèm với những “gợi ý” riêng biệt. Công nghệ tránh thai gợi ý rằng tình dục và việc sinh sản không nhất thiết phải gắn liền với nhau. Công nghệ điện thoại thông minh và mạng xã hội gợi ý rằng mọi khía cạnh của đời sống đều có thể được ghi lại, tuyển chọn và phát sóng cho người khác xem. Công nghệ tai nghe chống ồn gợi ý rằng mọi sự gián đoạn đều có thể bị loại bỏ.
Cơ Đốc nhân cần sự khôn ngoan để phân định xem một công nghệ cụ thể đang gợi ý điều gì, đâu là mặt tốt và mặt xấu của những gợi ý ấy, và chúng ta có thể sử dụng công nghệ đó như thế nào để làm vinh hiển Đức Chúa Trời.
Một trong những công nghệ mạnh mẽ nhất mà loài người từng tạo ra là AI tạo sinh (generative AI). Vậy nó đang đưa ra những gợi ý nào?
1. Tốc độ
Các sản phẩm AI hứa hẹn: “Làm nhiều hơn và làm nhanh hơn.” Nhiều người ủng hộ AI nhiệt thành nhất cho rằng công nghệ này có thể thực hiện những điều trước đây dường như bất khả thi—chẳng hạn chữa khỏi ung thư—phần lớn nhờ vào tốc độ xử lý vượt trội của nó.
Các chương trình AI không bao giờ ngủ, không cần nghỉ ngơi, và có thể mở rộng năng lực tính toán đến mức khó tưởng tượng nổi. Ở mức độ ít nghiêm trọng hơn, tốc độ của AI hứa hẹn sẽ giảm tải công việc cho những lao động tri thức bằng cách giúp họ làm việc hiệu quả hơn.
Nhưng thực tế lại không diễn ra như vậy. Vào tháng Hai, tạp chí Harvard Business Review công bố một nghiên cứu theo dõi 200 nhân viên của một công ty Mỹ trong suốt tám tháng. Họ phát hiện rằng: “Các công cụ AI không làm giảm khối lượng công việc; trái lại, chúng liên tục khiến công việc trở nên căng thẳng hơn.” Các nhân viên “làm việc với tốc độ nhanh hơn, đảm nhận phạm vi nhiệm vụ rộng hơn, và kéo dài thời gian làm việc sang nhiều giờ hơn trong ngày, thường là ngay cả khi không được yêu cầu.” Theo thời gian, nhịp độ điên cuồng này có nguy cơ tạo ra “sự mệt mỏi nhận thức, kiệt sức, và suy giảm khả năng ra quyết định.”
Cơ Đốc nhân cần sự khôn ngoan để phân định xem một công nghệ cụ thể đang gợi ý điều gì và làm thế nào để sử dụng công nghệ ấy cho sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.
Trong cuốn sách nhỏ nhưng đầy tính thách thức The Burnout Society [Một Xã Hội Kiệt Sức], Byung-Chul Han cho rằng trước đây đời sống của chúng ta từng được định nghĩa bởi từ phải—như khi một thẩm quyền nào đó bảo chúng ta điều mình bắt buộc phải làm. Nhưng giờ đây, đời sống được định nghĩa bởi từ có thể. “Bạn có thể trở thành bất cứ ai bạn muốn!” Từ phải hàm ý giới hạn, còn từ có thể thì vô hạn, bởi vì bạn luôn có thể làm nhiều hơn nữa.
Nhưng theo Han, chính sự tự do không giới hạn ấy lại tạo ra một xã hội đầy trầm cảm và kiệt sức. Ông viết: “Lời than phiền của một người trầm cảm rằng ‘Không điều gì là khả thi’ chỉ có thể xuất hiện trong một xã hội tin rằng ‘Không điều gì là bất khả thi.’”
Gợi ý mà công nghệ AI mang đến gần như đang thì thầm với chúng ta rằng: “Không có gì là không thể; không tồn tại giới hạn.” Nhưng bản tính con người vốn có giới hạn.
Khi sử dụng AI, những Cơ Đốc nhân tìm kiếm sự khôn ngoan không nên hỏi: “Làm sao để tôi sản xuất được nhiều nhất có thể?” Thay vào đó, họ nên hỏi: “Tôi sẽ sử dụng điều này như thế nào để phù hợp với những giới hạn của thân phận tạo vật của mình?”
2. Mô phỏng
Năm ngoái, tờ Chicago Sun-Times đã đăng một danh sách sách đọc mùa hè. Nhưng người ta nhanh chóng phát hiện rằng nhiều cuốn sách trong danh sách ấy thực ra không hề tồn tại. Tác giả của bài viết đã dùng AI để tạo danh sách, và AI đã “ảo giác” ra những cuốn sách không có thật. Điều này giống như một lời cảnh báo đáng ngại: Có bao nhiêu nhà báo hiện nay thực chất chẳng viết gì ngoài một câu lệnh cho ChatGPT?
Đã từng có lúc hình ảnh do AI tạo ra rất dễ nhận biết, nhưng giờ đây không còn như vậy nữa. Video, âm thanh, hình ảnh và văn bản do AI dựng nên đang được cải thiện mỗi ngày. Một tương lai rất gần và hoàn toàn thực tế là phần lớn nội dung trên internet sẽ là những mô phỏng do AI tạo ra, thay vì tác phẩm của con người.
Một trong những gợi ý mà AI tạo sinh mang lại là một sự chấn động về nhận thức luận. Trong một thế giới mà gần như mọi thông tin đều đến với chúng ta qua truyền thông kỹ thuật số, làm sao chúng ta biết điều mình đang nhìn, nghe hay đọc là thật?
Một Cơ Đốc nhân tìm kiếm sự khôn ngoan trong thế giới đầy màn hình và hình ảnh do AI dựng nên sẽ phải trở nên hoài nghi hơn nhiều đối với các “bằng chứng” kỹ thuật số, đồng thời phụ thuộc nhiều hơn vào đời sống hữu hình và hiện thân thực tế.
3. “Rác nội dung” (Slop)
Hãy tưởng tượng rằng dù bạn ăn bao nhiêu bánh Doritos đi nữa, bạn vẫn không bao giờ thấy no. Và rồi hãy tưởng tượng rằng bạn có thể “ăn” Doritos chỉ bằng cách nhìn chúng. Sau đó, hãy tưởng tượng có một người luôn đi theo bạn khắp nơi với nguồn cung Doritos vô tận. Điều gì sẽ xảy ra với sức khỏe của bạn?
May mắn thay, đồ ăn vặt không hoạt động như vậy—Hank Green và Cal Newport giải thích—nhưng “thông tin rác” thì có.
Sự chú ý của chúng ta rất quý giá nhưng cũng rất dễ bị chiếm đoạt bởi những điều gây sốc, kích động và kỳ quái. Tạ ơn Chúa vì đời sống thực chỉ có giới hạn những điều lạ lùng và ngoạn mục. Nhưng điều gì xảy ra nếu bạn không còn bị giới hạn bởi thực tại? Nếu bạn có thể tạo ra vô hạn bất cứ thứ gì tưởng tượng được chỉ bằng một cái búng tay?
Kết quả là một internet tràn ngập “rác nội dung”: những điều điên rồ, gây phẫn nộ, lệch lạc và như trong mơ—một chuỗi vô tận các “tai nạn tàu hỏa” để thu hút những ánh mắt tò mò. Chúng ta biết điều đó không tốt cho mình, nhưng “vị Doritos” lại quá hấp dẫn. Chúng ta trở nên giống điều mình chăm chú nhìn ngắm. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu phần lớn những gì chúng ta nhìn ngắm đều vô nghĩa?
Một Cơ Đốc nhân khôn ngoan khi sử dụng AI sẽ cố gắng phát triển khả năng thẩm định thẩm mỹ đủ sâu sắc để tránh xa những nội dung làm mục rữa tâm trí, và tập trung vào những điều nuôi dưỡng linh hồn và chân thật. Người ấy sẽ thiết lập những ranh giới để không cuộn xem vô tận cho đến kiệt quệ.
4. Sự xu nịnh
AI được thiết kế để hữu ích—hữu ích đến mức người dùng muốn quay lại sử dụng nó nhiều lần nữa. Chính vì định hướng “phục vụ” này mà AI thường quá mức trong việc khen ngợi, tâng bốc và đồng tình, ngay cả khi bạn sai.
AI quá muốn đưa ra câu trả lời cho yêu cầu của bạn đến nỗi nó sẵn sàng cung cấp những nửa sự thật hoặc các giải pháp mơ hồ thay vì đơn giản nói rằng: “Tôi không thể giúp bạn về việc này.” Điều này được gọi là “sự xu nịnh của AI” (AI sycophancy)—khi chatbot ưu tiên việc làm hài lòng người dùng hơn là tính chính xác của sự thật.
Khuynh hướng này thường củng cố những thiên kiến sai lầm của bạn. Ví dụ, nếu bạn đang bất hòa với một người bạn và tải toàn bộ email trao đổi lên ChatGPT để hỏi ai đúng, gần như chắc chắn AI sẽ đứng về phía bạn. AI sẽ đi theo định hướng, thành kiến và điều mà nó cho là ý định của bạn—đôi khi đến mức phi lý.
Theo thời gian, một số người dùng hình thành mối gắn bó cực đoan với những chatbot luôn khẳng định và đồng tình với họ. Hiện tượng này được gọi là “loạn thần do AI” (AI psychosis), khi con người tin rằng họ đang yêu chatbot của mình, đang giao tiếp với các thực thể tâm linh, hoặc cần làm hại người khác hay tự sát vì “người bạn AI” đã khuyến khích họ làm vậy.
Những Cơ Đốc nhân khôn ngoan khi sử dụng AI sẽ nhận thức được xu hướng xu nịnh này và sẽ không dùng AI như một nhà trị liệu hay một trọng tài khách quan của thực tại, mà đúng hơn như một chiếc máy tính với những ứng dụng kỹ thuật giới hạn.
5. Sự lười biếng
Phần lớn các sản phẩm AI quảng bá chính mình như một phương tiện giúp bạn thoát khỏi những điều mình không thích. Không thích viết email hàng tuần? Không thích sửa mã của một lập trình viên trẻ? Đang vật lộn với bí ý tưởng khi viết? AI có thể xử lý tất cả điều đó.
Nhưng Wyatt Graham đã rất hữu ích khi nhắc chúng ta về một châm ngôn cho thời đại AI: “Chỉ tự động hóa những kỹ năng mà bạn sẵn sàng đánh mất.”
Khi còn nhỏ, có lẽ bạn nhớ số điện thoại của tất cả bạn bè mình. Còn bây giờ thì sao? Có lẽ là không. Bạn có điện thoại ghi nhớ giúp mình. Đó là một kỹ năng mà hầu hết chúng ta xem là không còn quá quan trọng.
Chúng ta nên cẩn trọng với những gì mình tự động hóa. Kỹ năng nào không được sử dụng sẽ dần mai một. Nếu bạn dùng AI để viết bản thảo đầu tiên của một cuốn sách hoặc chuẩn bị một bài thuyết trình bán hàng, theo thời gian bạn có thể nhận ra mình không còn làm được những việc đó nếu thiếu AI hỗ trợ. Khi ấy, sự sáng tạo của bạn sẽ không bao giờ vượt cao hơn mức trung bình mang tính thuật toán mà các công cụ này cung cấp.
Những Cơ Đốc nhân khôn ngoan sử dụng AI sẽ cân nhắc cẩn thận xem kỹ năng nào họ sẵn sàng để mai một, kỹ năng nào là thiết yếu đối với nhân tính của mình, và kỹ năng nào khiến công việc cũng như đời sống trở nên phong phú—dù đôi lúc chúng có thể nhàm chán và khó nhọc.
Những Gợi Ý Tích Cực Cũng Có
Tôi đã nhấn mạnh những gợi ý tiêu cực mà AI mang lại, nhưng điều đó không có nghĩa là không tồn tại những gợi ý tích cực. AI mở ra những phương thức mới cho sự sáng tạo, thử nghiệm, cộng tác và khởi nghiệp—những điều có tiềm năng lớn để làm phong phú đời sống.
Những lợi ích tiềm năng ấy là có thật và không nên bị xem nhẹ, ngay cả bởi những người phê bình thận trọng nhất. Nhưng liệu những gợi ý tích cực của AI có vượt trội hoặc đủ để làm giảm nhẹ các tác động tiêu cực mà tôi đã đề cập ở trên hay không?
Đó là một câu hỏi của sự khôn ngoan—điều mà tất cả chúng ta sẽ cần nhiều hơn bao giờ hết khi cuộc cách mạng công nghệ đang tăng tốc này tiếp tục mở ra.
Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc
Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.