SỰ SA SÚT VÀ ĐỔI MỚI CỦA HỘI THÁNH HOA KỲ – Phần 1: Sự Sa Sút Của Hội Thánh Dòng chính (tiếp)

Phê Bình Của Marsden Về Văn Hóa
Ngoài ra còn một lý do cuối cùng cho sự sa sút của hội thánh dòng chính mà mãi đến những thập niên sau mới lộ rõ. Nhà sử học George Marsden lập luận trong quyển Hoàng hôn của Thời kỳ Khai sáng ở Hoa Kỳ (The Twilight of the American Enlightenment) rằng hội thánh Tin Lành dòng chính đã liên minh với một đồng thuận về đạo đức thế tục vốn đã không ổn định. Cho nên khi sự đồng thuận đó bắt đầu sụp đổ thì Tin Lành dòng chính cũng bắt đầu trượt dốc.
Sau Thế Chiến thứ II, Hoa Kỳ trỗi dậy như một cường quốc kinh tế và quân sự. Dân số Hoa Kỳ tăng nhanh cùng thu nhập và (số dư) tài khoản ngân hàng. Những điều này có vẻ như là một chiến thắng của “những giá trị Hoa Kỳ”. Lúc này dường như có sự thống nhất về những giá trị đạo đức chung (trong xã hội). Không hề có dấu hiệu của “chiến tranh văn hoá” – người dân thừa nhận và coi giá trị đạo đức là một điều hiển nhiên.
Nhưng Marsden đã ghi chép lại để thấy rằng cái vẻ ngoài dường như hiệp nhất và lạc quan của những năm 1950 lại chứa đựng một sự nghi ngờ ngấm ngầm và mạnh mẽ. Những trí thức hàng đầu cáo buộc rằng chủ nghĩa vật chất và văn hoá đại chúng đã biến người Mỹ thành những kẻ rập khuôn, những bánh răng trong một cỗ máy khổng lồ [14]. Nhiều trí thức đại chúng thời bấy giờ biện bạch rằng làm vậy để khẳng định quyền tự do cá nhân và được là chính mình, trở thành những con người tự quyết và tự thân [15].
Tuy nhiên, quyền tự do ngày càng được định nghĩa là “quyền tự trị”, một từ có nghĩa đen là bất chấp luật lệ. Xét về mặt lịch sử, sự viên mãn và ý nghĩa nhân sinh không được tìm thấy trong việc mưu cầu hạnh phúc chỉ cho bản thân, nhưng trong việc tìm kiếm hạnh phúc cho gia đình và cộng đồng qua những mối quan hệ và vai trò mà trong đó lợi ích chung được đặt lên trên lợi ích cá nhân.
Nhưng bấy giờ vào cuối những năm 1950 và đầu những năm 1960, một loạt các đầu sách bán chạy mà điển hình là quyển Đám Đông Cô Đơn (The Lonely Crowd) của David Riesman kêu gọi người Mỹ hãy là chính mình và tự quyết, đừng để gia đình hay bất kỳ “cộng đồng thứ cấp” địa phương nào áp đặt giá trị và mục đích sống. Tư tưởng này cho rằng chỉ khi chúng ta bỏ đi những quan niệm đạo đức do những người khác đặt ra và tự khám phá tiêu chuẩn của chính mình thì lúc đó chúng ta mới là một con người trọn vẹn. [16] Từ “tự do” trở nên một từ gần như chỉ được dùng trong nghĩa “tiêu cực”, chỉ là tự do khỏi cái gì đó mà thôi. Tuy nhiên, Marsden đặt vấn đề rằng: “Một khi người ta được tự do khỏi những truyền thống hay kỳ vọng ràng buộc thì cái gì sẽ thế chỗ của chúng để trở thành nền tảng quyết định điều nào là tốt cho sự phát triển của con người?” [17]
Gần như chỉ có một nhà văn hoá nổi bật duy nhất lên tiếng cảnh báo người Mỹ về việc này, đó là nhà báo lỗi lạc Walter Lippmann[18]. Lippmann là người Do Thái vô thần, là tâm điểm của giới tự do thế tục. Nhưng vào năm 1955, ông viết cuốn sách cuối cùng – Tiểu Luận Về Triết Học Vị Công (Essays in the Public Philosophy) khiến nhiều đồng nghiệp của ông thoái chí. “Dị giáo của ông cho rằng những đồng nghiệp theo trường phái tự do đang cố gắng xây dựng sự đồng thuận vị công (public consensus) dựa trên nguyên tắc được kế thừa, thậm chí sau khi họ đã phá tan những nền tảng ban đầu xây dựng nên những nguyên tắc đó.” [19]
Lippmann cáo buộc rằng những giá trị tự do của người Mỹ (dù có được thực thi hay không) – phẩm giá bình đằng của tất cả mọi người, quyền tự do tín ngưỡng, tư tưởng và ngôn luận, chính phủ dựa trên đồng thuận, sự tin tưởng vào khoa học và lý trí – đều không phải là hệ quả của khoa học.
Xuất xứ, những tư tưởng nêu trên của người Mỹ dựa trên những tiêu chuẩn đạo đức siêu nghiệm, một “trật tự phổ quát” cao hơn mà mọi người Mỹ đều công nhận là chân lý.
Lippmann không phải là một người hữu thần nên những điều ông nói dựa trên truyền thống của Aristotle nhiều hơn. Nhưng ông một mực cho rằng nếu một xã hội không thể công nhận một trật tự đạo đức khách quan, một tập hợp các tiêu chuẩn không chỉ do văn hoá hay cảm xúc cá nhân của chúng ta tạo ra thì không sẽ không có nền tảng cho một trật tự xã hội chung và đại chúng. “Nếu những điều tốt đẹp, những điều phải lẽ, những điều đúng đắn chỉ là những điều mà cá nhân “chọn” để “nghĩ ra” thì chúng ta đều nằm ngoài những truyền thống của phép tắc.” [20] Ông nói vậy có nghĩa là trước giờ chưa có ai từng cố gắng tạo ra một trật tự xã hội chung dựa trên một nền tảng như vậy. Ai là người có thể nói rằng luật này đúng và luật kia không đúng? Chúng ta có thể làm điều đó bằng đa số phiếu bầu hay không? Nếu vậy thì chúng ta có thể nói gì với nước Đức, nơi đa số từng cho rằng việc bách hại, thậm chí huỷ diệt những nhóm thiểu số khác là đúng?
Lippmann đã đúng khi nói rằng “những giá trị Hoa Kỳ” bắt nguồn từ sự đồng thuận giữa những Cơ Đốc Nhân tin rằng chúng là những dạy dỗ của Kinh Thánh và các nhà tư tưởng Khai Sáng tin vào “luật tự nhiên” như người xưa, một trật tự đạo đức siêu việt trong vũ trụ có thể thấy rõ qua lý trí và suy tư của con người. Nhưng vào năm 1955, giới học giả tự do hiện đại Hoa Kỳ đã kinh ngạc trước Lippmann. Họ đã có những phê bình tiêu cực và chống đối, họ cho rằng việc trở lại với niềm tin nơi Đức Chúa Trời hay luật tự nhiên là một điều nguy hiểm và hoàn toàn thừa thãi. Tốt nhất là kiểm chứng những niềm tin một cách “không giáo điều, mang tính tương đối và thực dụng”. Những giá trị của chúng ta chỉ là những thứ “chúng ta đều biết” sẽ đem lại ích lợi cho nhân loại nhiều nhất và phải khiến hầu hết mọi người hạnh phúc. Những điều đó không bắt nguồn từ Đức Chúa Trời hoặc một trật tự vũ trụ nào cả. [21]
Điều thú vị là một học giả Cơ Đốc Nhân dòng chính đại chúng tiêu biểu như Reinhold Niebuhr cũng phản đối cuốn sách của Lippmann.
Như Machen đã dự đoán, Niebuhr đã chấp nhận niềm tin vào khoa học thế tục. Ông ấy viết rằng chúng ta – những Cơ Đốc Nhân Tin Lành hiện đại “không tin rằng Chúa Giê-su được sinh bởi nữ đồng trinh và chúng ta khó mà hiểu được việc Đấng Christ phục sinh thân thể. Chúng ta không tin…rằng những sự kiện mặc khải tự xác thực bằng một sự can thiệp thiên thượng vào trật tự tự nhiên.” [23] Có những thứ trong Kinh Thánh mà người thế tục hiện đại không thể chấp nhận và những Cơ Đốc Nhân Tin Lành theo thần học tự do cũng chối bỏ theo. Nói cách khác, tiêu chuẩn của chân lý không còn là sự mặc khải siêu nhiên nữa, mà chỉ là sự lập luận thế tục trên thực tế. Kinh Thánh không còn quyết định điều gì là đúng hay sai trong quan điểm thế tục hiện đại nữa – mà quan điểm thế tục hiện đại mới quyết định điều gì đúng, điều gì sai trong Kinh Thánh. Vì vậy mà Niebuhr đã đồng ý với những nhà phê bình khác rằng lời kêu gọi trở lại với tôn giáo hoặc luật tự nhiên của Lippmann là sai lầm và thừa thãi. Tất cả những người lý trí chỉ cần đồng ý rằng cam kết với nền dân chủ, nhân quyền, tự do cá nhân là hợp lý.
Tuy nhiên, như Marsden đặt vấn đề (và Machen cũng đã lập luận từ nhiều thập kỷ trước): vậy thì cần hội thánh để làm gì nữa?
Điều trớ trêu của chiến lược này là tuy chính Niebuhr sử dụng nó cách hiệu quả nhằm giữ lại một vai trò quần chúng cho di sản Cơ Đốc trong xã hội nhưng những đặc điểm mang tính chủ quan của nó khiến cho đức tin Cơ Đốc trở nên hoàn toàn tùy chọn và có thể bị thay thế… Một người có thể bỏ qua những vấn đề thần học và chỉ cần chấp nhận những hiểu biết mà Niebuhr đưa ra về giới hạn của con người. [24]
Hồi kết của sự thống nhất trong văn hoá Hoa Kỳ
Lippmann đã đúng. Thậm chí khi thế giới quan mang tính tương đối và thế tục đã chiếm chỗ của thế giới quan Cơ Đốc/Khai sáng, sự thống nhất về các giá trị đạo đức trước kia vẫn tạm thời được duy trì để chống lại những kẻ thù chung – Đại Khủng Hoảng và hai cuộc Thế Chiến. Những cơn khủng hoảng này đòi hỏi hy sinh bản thân cho gia đình và cộng đồng để có thể tồn tại, và tự nhiên làm câm lặng những yêu sách trị liệu của văn hóa và chủ nghĩa cá nhân. Vì vậy vẫn có những đồng thuận chung giữa các trường phái chính trị về một đời sống tốt và đạo đức. Lòng yêu nước, sự trong sạch về tình dục, sự trung tín, tính cần kiệm và sự rộng rãi, sự khiêm nhường và tôn trọng thẩm quyền, sự trung thành và hy sinh cho gia đình và các mối quan hệ – gần như tất cả mọi người vẫn tin vào những điều này dù có nhiều lệch lạc trong hành vi thực tế.
Nhưng đến cuối những năm 1960, khi những thách thức sinh tồn trước kia chỉ còn là ký ức thì người ta đi theo sự chỉ dẫn của văn hoá để khám phá chân lý bên trong chính họ. Họ bắt đầu đi đến những kết luận hoàn toàn khác về đúng sai, xã hội Hoa Kỳ bắt đầu tan vỡ kẻ từ đó.
Phong trào Dân quyền ban đầu do Martin Luther King lãnh đạo đã hướng về một luật đạo đức cao hơn (theo lời khuyên của Lippmann). “Điều khiến cho sự lãnh đạo và hùng biện của King trở nên lôi cuốn là ông có niềm tin sắt đá rằng luật đạo đức đã được đưa vào trong vũ trụ.” [25] Nhưng cho đến thời điểm ông bị ám sát vào năm 1968, những lực lượng rất khác đã có ảnh hưởng. Tất cả những phong trào sau đó để đòi “quyền” cho phụ nữ, người đồng tính, và những nhóm thiểu số khác cũng bắt chước theo trào lưu của King theo một cách nào đó (ví dụ như hình thức biểu tình và vận động). Tuy nhiên khuôn khổ triết lý của họ lại hoàn toàn khác. Những luận điệu đòi công lý dựa trên chính kiến về nhân dạng không theo một trật tự đạo đức khách quan nào, nhưng dựa trên cách hiểu và trải nghiệm riêng biệt của họ. Chủ nghĩa cá nhân đã làm xói mòn các giá trị truyền thống như yêu nước, trung thành với mối quan hệ gia đình, và tôn trọng thẩm quyền. Và nhiều nhóm trong đó, đặc biệt là các nhóm đòi quyền tình dục, có niềm tin đạo đức rất khác với đạo đức Tin lành phương tây truyền thống. Đất nước đã bắt đầu vỡ ra thành nhiều mảnh xung khắc lẫn nhau.
Tại sao vậy? Không một lãnh đạo văn hóa tiêu biểu nào có thể hướng (mọi người) đến một luật cao cả hơn, hoặc hướng về Kinh Thánh như Lippmann và Martin Luther King. Giới Tin lành đã từ bỏ khả năng làm điều đó. Mọi người đều cho rằng lập luận thế tục, thực dụng và lẽ thường rồi cũng sẽ dẫn đến sự đồng thuận về tập quán xã hội. Nhưng khi điều đó thất bại thì cũng không còn phiên toà phúc thẩm hoặc cơ sở lý luận nào còn thảo luận về giá trị đạo đức. Nếu một ai đó lên tiếng về một bất công nào đó rằng: “Điều anh đang làm là sai – bởi vì tôi cảm thấy điều đó sai!” thì người phản bác không có câu trả lời nào khác ngoài “Nhưng tôi không cảm thấy điều đó là sai – tại sao cảm nhận của anh lại cần được đề cao hơn cảm nhận của tôi? Anh đâu có quyền để áp đặt quan điểm của mình với tôi.” Bởi vì xã hội Hoa Kỳ đã bỏ đi tất cả những nền tảng chung về giá trị đạo đức – tôn giáo hoặc luật tự nhiên – nên không còn gì để thống nhất họ cả, không còn nền tảng nào cho một cuộc tranh luận. Lippmann lập luận rằng chưa từng có xã hội nào cố gắng làm điều này và ông ngờ rằng Hoa Kỳ đã làm như vậy.
Và khi đất nước bắt đầu chia năm xẻ bảy, Tin lành dòng chính đã bắt đầu trượt dài. Trước hết, họ bắt đầu mất những người lựa chọn những kết luận quanh co và tự do chính trị. Họ cũng mất những người bảo thủ về chính trị, nhưng đó chỉ mới là khởi đầu. Sau đó họ tiếp tục sa sút, bởi vì ngay cả con cái của Cơ Đốc Nhân theo thần học tự do, như Kelley và Machen đã chỉ ra, cũng không thấy được bất cứ ích lợi thật sự nào của Hội thánh Cơ Đốc.
Trớ trêu thay, Niebuhr đã nhìn thấy chủ nghĩa thế tục gia tăng càng thúc đẩy chủ nghĩa cá nhân lan tràn khắp nơi. Khi tôn giáo suy yếu và chủ nghĩa thế tục gia tăng thì sự ích kỷ cũng tăng theo. [26] Niebuhr nói đến việc “tự tôn cao bản thân” được cổ vũ bởi văn hoá hiện đại sẽ dẫn người ta tới chỗ sử dụng sự thịnh vượng và tình dục không chỉ như những món quà tốt đẹp nhưng là cách để tạo ra một nhân dạng. Ông cũng nói về việc thờ hình tượng của chủ nghĩa tự do thế tục (tôn sùng lý trí con người) và chủ nghĩa phát-xít (tôn sùng chủng tộc và lãnh thổ), và chủ nghĩa xã hội (tôn sùng nhà nước). [27] Nhưng Marsden bổ sung rằng “có thể tiếp nhận những lời lẽ để uốn nắn” của Niebuhr “về tình trạng con người, tuy nhiên Cơ Đốc giáo suy rộng mà ông ta đưa ra lại không hề có khả năng thách thức hầu hết những trào lưu thế tục mà chính ông ủng hộ.” [28] Tin Lành dòng chính không còn là sự cải đạo triệt để nữa, không còn là bắt gặp một Đức Chúa Trời siêu việt và tái sắp xếp những ham muốn của trái tim. Tin lành dòng chính giờ chỉ xoay quanh các vấn đề đạo đức và chính trị, và chấp nhận quá nhiều những giả định của chủ nghĩa thế tục đến nỗi không thể thật sự thách thức nó được.
Kết luận
Tất cả những nhân vật bảo đảm với người Mỹ rằng lẽ thường thực dụng và lý luận khoa học có thể mang đến sự đồng thuận chung về mặt đạo đức bị chứng tỏ là đã sai [29]. Sự phân cực trong xã hội Hoa Kỳ đã trở nên nặng nề, họ bất đồng trong những tư tưởng nền tảng nhất về bản chất con người và sự phát triển của con người. Không còn tập hợp “những giá trị Hoa Kỳ” chung hay một “câu chuyện Hoa Kỳ” hợp nhất nào nữa.
Và sự sa sút của Tin Lành dòng chính, từng một thời là tôn giáo không chính thức của Hoa Kỳ, vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của sự tan vỡ này trong xã hội Hoa Kỳ. Điều này vừa dọn đường cho sự thế tục hoá của văn hóa (thay vì chống lại nó), vừa trở thành nạn nhân của chính làn sóng mà nó đã dọn đường. Xét đến những phê bình đúng đắn của Kelley, Machen, và Marsden, tôi tin rằng Tin Lành dòng chính cấp tiến không thể là con đường tương lai cho hội thánh ở Hoa Kỳ. Điều này không có nghĩa là tôi phủ nhận tất cả những lãnh đạo và dân sự đang sống với đức tin thật trong các hội chúng dòng chính. Nhưng công cuộc tổng thể của Tin Lành dòng chính đã thất bại. Ngày nay, dưới những sự thất bại ê chề trong Công giáo và Tin Lành thuần tuý tại Hoa Kỳ (xem trong bài viết tiếp theo vào Mùa Đông 2021), rất nhiều người đang hồi lại ý tưởng rằng Cơ Đốc giáo Cấp tiến (Progressive Christianity) – vốn chỉ là phần nới thêm của dòng chính – là một giải pháp thay thế tốt nhất. Nhưng những giả định căn bản về Cơ Đốc Giáo dòng chính vẫn như vậy. Nó đã thích nghi quá mức với văn hoá thế tục phương tây 100 năm trước và hiện vẫn đang làm như vậy. Vì vậy, nó không thể mang đến cho xã hội Hoa Kỳ một phương án thay thế hay đối trọng nào, và cũng không thể làm con đường đổi mới cho các hội thánh ở Hoa Kỳ.
Tác giả bài viết, Tiến sỹ Timothy Keller (sinh năm 1950) là nhà thần học và mục sư uy tín người Mỹ. Ông cũng là tác giả viết về nhiều chủ đề khác nhau, đặc biệt là biện giáo trong thời hậu hiện đại. Timothy Keller là mục sư sáng lập hội thánh Redeemer Presbyterian tại Manhattan.
– Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc –
*Quan điểm của bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc
[14] Đây là gánh nặng trong chương 1 cuốn The Twilight of the American Enlightenment: The 1950s and the Crisis of Liberal Belief, Basic Books, 2014, 1-20 của của George Marsden. Nhiều người tin rằng sự thịnh vượng chưa từng có đã biến người Mỹ thành “những bánh răng trong một cỗ máy kinh tế”, những thực thể mất nhân tính tìm mọi cách để tiến lên. “Xã hội thương mại và chủ nghĩa tiêu dùng quá quy củ đang làm xói mòn “nhân tính thật” của chúng ta (42). Các cuốn sách của Eric Fromm, William Whyte và những người khác phản pháo rằng liều thuốc để trị bệnh rập khuôn là khẳng định quyền tự do cá nhân, được là chính mình, trở thành những con người tự quyết và tự thân (31).
[15] Ibid, 86. Nhiều trí thức được công chúng ưa chuộc nhất vào thời điểm này không phải là những triết gia mà là những nhà tâm lý học như Gordon Allport, Carl Rogers, B.F. Skinner, Erving Goffman, and Rollo May. Dù có nhiều điểm khác biệt nhưng họ có chung tư tưởng cơ bản của truyền thống phân tâm học của Freud, tức là con người được trưởng thành và được khỏe mạnh khi họ thoát khỏi những sợ hãi, mặc cảm phi lý và sự kiểm soát của cộng đồng truyền thống và thẩm quyền. Họ thêm vào đó một chủ nghĩa lạc quan sâu sắc, đậm chất Hoa Kỳ rằng con người có thể và sẽ định hình chính mình trở nên tốt hơn nếu họ được cho quyền tự do trọn vẹn để làm như vậy.
[16] See Marsden, chapter 2, “Freedom in the Lonely Crowd”, 21-42.
[17] Ibid, 42.
[18] Lưu ý rằng trong ngữ cảnh này, Lippmann đánh giá cao cuốn Christianity and Liberalism của Machen. Đồng thời, C.S. Lewis, một học giả văn học đáng kính nhưng không thật sự là một nhân tố trong đời sống trí thức Hoa Kỳ đã viết cuốn The Abolition of Man, một cuốn sách đã biết trước là sẽ nhận được sự phê bình không chỉ là của Lippmann, nhưng cả Alasdair MacIntyre và sau này là Charles Taylor, tất cả những người lập luận rằng xã hội thế tục không có đủ nền tảng hoặc nguồn gốc thích hợp cho những lý tưởng đạo đức của nó. Một bản tái hiện xuất sắc gần đây của bài phê bình là của Christian Smith trong cuốn Atheist Overreach, Oxford, 2018. Smith giải thích rằng nếu không có nền tảng trong truyền thống, sự mặc khải hoặc luật tự nhiên, những người theo chủ nghĩa vô thần/thế tục không thể đưa ra lý do hợp lý cho việc một tập hợp các cảm giác đạo đức phải được ưu tiên hơn các cảm giác khác, họ cũng không thể mang đến động lực thiết thực để tuân thủ các nguyên tắc đạo đức ngay cả khi nó đòi hỏi sự hy sinh cao cả. Một bài trình bày kinh điển khác về lập luận này là cuốn “Unspeakable Ethics, Unnatural Law” của Duke Law Journal, 12/1979.
[19] Ibid, 44.
[20] Cited in Marsden, 47.
[21] See Marsden, chapter 3, “Enlightenment’s End? Building Without Foundations”, 43-67.
[22] Ibid, 53.
[23] Ibid, 118.
[24] Ibid, 119.
[25] Ibid, 65.
[26] Về cách tôn giáo từng cân bằng chủ nghĩa cá nhân Hoa Kỳ, nhưng đã mất khả năng làm điều đó – Robert Bellah, et al, Habits of the Heart: Individualism and Commitment in American Life, University of California Press, 2007.
[27] Reinhold Niebuhr, “The Christian Church in a Secular Age”, in Robert McAfee Brown, ed. The Essential Reinhold Niebuhr: Selected Essays and Addresses, Yale University Press, 1986.
[28] Marsden, xxvi.
[29] Chúng ta nên bổ sung rằng những nhà tư tưởng Khai sáng ban đầu cũng đã bị chứng tỏ là sai, nên mới có tuyên bố thời nay rằng “công cuộc Khai sáng đã thất bại” (Xem các tác phẩm của Alasdair MacIntyre, After Virtue, Whose Justice? Which Rationality? và Three Rival Versions of Moral Inquiry, gần hơn và chính xác hơn là cuốn Why Liberalism Failed của Patrick Deneen). “Công cuộc” Khai sáng ban đầu dùng lý lẽ ngoài truyền thống và tôn giáo để khám phá một nền tảng đạo đức cho một xã hội thống nhất. Khủng hoảng thẩm quyền và tri thức trong xã hội Hoa Kỳ hiện tại là chủ nghĩa tự do trước đây (Thời kỳ Khai sáng/sự đồng thuận của Tin lành tự do) bị phản đối bởi một “hệ tư tưởng kế thừa” cấp tiến chối bỏ những khái niệm cơ bản về ngôn luận tự do, quyền cá nhân và thái độ trung lập về giá trị. Hiện không có phương án bài bản nào thay thế cho hai triết lý đại chúng này, tuy cả Công giáo và Tin lành Cải Chánh đều có những nền tảng cho các mô hình xã hội để đưa lại luật tự nhiên và tôn giáo vào công chúng mà vẫn cho phép đa nguyên tín ngưỡng và tự do tín ngưỡng. Nhưng chương cuối cùng của Marsden lập luận rằng Tin lành dòng chính, Quyền Tôn giáo và chủ nghĩa tiến bộ thế tục hiện tại đều không cho thấy bất kỳ khả năng nào để kết hợp tôn giáo và sự cởi mở với các quan điểm khác. (See Marsden, Twilight, “Conclusion: Toward a more Inclusive Pluralism,” 151-178.




Leave a Reply
Want to join the discussion?Feel free to contribute!