• TRANG CHỦ
  • NGƯỜI GIẢNG VÀ VIỆC GIẢNG LUẬN
  • THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH
  • THƯ VIỆN
    • THƯ VIỆN BÀI GIẢNG
  • GIỚI THIỆU
  • LIÊN HỆ
  • BLOG
  • PODCAST
  • Search
  • Menu
  • TRANG CHỦ
  • NGƯỜI GIẢNG VÀ VIỆC GIẢNG LUẬN
  • THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH
  • THƯ VIỆN
    • THƯ VIỆN BÀI GIẢNG
  • GIỚI THIỆU
  • LIÊN HỆ
  • BLOG
  • PODCAST
Giảng Luận Kinh Thánh
admin

GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT MÀ KHÔNG LÀM CHIA RẼ HỘI THÁNH

Tháng 7 10, 2026/0 Comments/in Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh, THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH /by admin

Bạn đã bao giờ đứng gần một cơn bão lửa chưa? Những ngọn lửa bốc cao đến mức tưởng chừng không thể tin nổi. Khi không khí nóng lên và bốc thẳng lên trên, luồng không khí mát hơn lập tức tràn vào bên dưới để lấp đầy khoảng trống. Thế là gió ào ạt thổi về phía đám cháy, trong khi luồng khí bên trong biển lửa lại cuộn thẳng lên cao. Làm gì thì làm, điều khôn ngoan nhất là tránh xa đường đi của nó.

Đó là hình ảnh gần đúng nhất mà tôi có thể dùng để mô tả một cuộc xung đột trong Hội Thánh. Từ maelstrom trong tiếng Hà Lan cổ có nghĩa là một dòng nước xoáy dữ dội, một vòng xoáy cuốn mọi thứ vào tâm của nó. Một Hội Thánh đang ở trong tình trạng xung đột cũng hoạt động theo cách tương tự. Một khi đã bị cuốn vào đó, bạn sẽ dành phần đời còn lại để bảo đảm rằng mình không bao giờ rơi vào một cuộc xung đột như vậy nữa.

Chỉ có một cá nhân duy nhất vui mừng khi dân sự của Đức Chúa Trời lao vào những cuộc chiến quyết liệt với nhau. Kẻ đó là kẻ kiện cáo anh em, là cha của sự dối trá, là nguồn gốc của mọi điều gian ác. Bản thân tôi chưa từng là người trực tiếp tham gia một “cuộc chiến” trong Hội Thánh. Nhưng tôi biết về những cuộc chiến ấy nhiều hơn mức mình mong muốn. Tôi đã chứng kiến những Hội Thánh lân cận rơi vào xung đột, phải thu dọn hậu quả sau những cuộc chia rẽ tại các Hội Thánh mình từng chăn bầy, và lắng nghe những con người mang đầy thương tích tinh thần, loạng choạng bước ra khỏi những cuộc chiến tôn giáo vốn không bao giờ nên xảy ra.

Câu trả lời ngắn gọn

Hãy giải quyết xung đột trong Hội Thánh theo cách Chúa Giê-su đã đối diện với thập tự giá. Đừng trả đũa. Đừng đứng về phe nào trong cuộc tranh giành quyền lực. Hãy phó kết quả cho Đức Chúa Trời và đặt sự hiệp một của Hội Thánh lên trên việc thắng một cuộc tranh luận. Không có bất cứ vấn đề nào đáng để xé nát Hội Thánh.

Hãy Rời Khỏi Cuộc Chiến Trước Khi Nó Khống Chế Bạn

Trước khi xem Kinh Thánh thực sự dạy chúng ta phải làm gì, đây là nguyên tắc cần hướng dẫn mọi tín hữu giữa lúc xảy ra xung đột: hãy bước ra khỏi cuộc chiến. Không có vấn đề nào đáng để phá hủy một Hội Thánh.

Ngay cả khi bạn tin rằng chân lý đang bị đe dọa — và theo những người liên quan thì lúc nào cũng vậy — ngay cả khi bạn xác tín rằng số phận đời đời của con người đang bị đặt lên bàn cân, câu trả lời vẫn không bao giờ là chia đôi Hội Thánh.

Trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam có một câu nói nổi tiếng: “Điều gì sẽ xảy ra nếu người ta phát động chiến tranh mà chẳng có ai tham gia?” Nếu không ai chịu chiến đấu thì sẽ không có trận chiến nào cả. Đó không phải là sự ngây thơ. Đó là một chiến lược.

Hãy đọc 1 Phi-e-rơ 2:21–25 và tự hỏi một câu thật thành thật: Có ai nhìn vào cách Chúa Giê-su chịu đựng thập tự giá mà lại kết luận rằng Ngài muốn chúng ta cầm vũ khí chống lại một anh chị em cùng trong Hội Thánh không?

Vì Sao Những Người Trong Cuộc Xung Đột Của Hội Thánh Luôn Nghĩ Mình Đúng?

Đây là lời phản đối luôn xuất hiện:

“Nhưng anh chưa hiểu. Chúng tôi đúng. Phía bên kia sai. Họ cứng đầu, non nớt thuộc linh, giờ còn khiêu khích chúng tôi nữa. Chúng tôi không thể bỏ qua chuyện này.”

Nếu bạn tin như vậy thì chính bạn đang tự lừa dối mình.

Không ai trong một cuộc xung đột Hội Thánh tự xem mình là kẻ gây hấn. Ai cũng cho rằng mình là người bị tổn thương. Đừng nuốt lời dối trá rằng phe của bạn nắm giữ toàn bộ chân lý còn phe kia chỉ là một nhóm người xấu xa. Khi bạn quên rằng mình cũng chỉ là một tội nhân được cứu bởi ân điển là lúc bạn đã thất bại rồi.

Đó cũng chính là điểm mù khiến một nhà lãnh đạo khao khát quyền lực tin rằng mọi ý kiến phản đối chương trình của mình đều là cuộc tấn công từ kẻ thù.

Kinh Thánh Dạy Phải Làm Gì Khi Xảy Ra Xung Đột Trong Hội Thánh?

Thư 1 Phi-e-rơ chương 2 đưa ra một khuôn mẫu rất rõ ràng.

Đó không phải là thái độ thụ động, nhưng là một sức mạnh có chủ đích và phải trả giá. Phi-e-rơ chỉ vào cách Chúa Giê-su chịu khổ và kêu gọi chúng ta bước theo gương Ngài từng bước một.

Nếu muốn thấy bức tranh đầy đủ hơn về cách Chúa Giê-su làm gương trong việc đối diện xung đột, hãy nhìn cách Ngài ứng xử trong Đền Thờ. Ngài luôn giữ được sự tự chủ ngay cả dưới áp lực nặng nề.

Chúa Giê-su đã làm gì khi bị bắt? Ngài để họ bắt. Khi bị xét xử? Ngài giữ im lặng. Khi bị đóng đinh? Ngài cầu nguyện cho chính những người đang đóng đinh mình. Khi họ giết Ngài, Đức Chúa Cha đã khiến Ngài sống lại và ban cho Ngài sự minh oan vinh hiển nhất. Có người sẽ nói: “Nhưng tôi đâu phải Chúa Giê-su.” Tạ ơn Chúa vì bạn không phải là Ngài. Không ai yêu cầu bạn trở thành Chúa Giê-su. Điều bạn được yêu cầu — đúng hơn là được truyền lệnh — là vâng lời Ngài.

Khi cuộc chiến bắt đầu, hãy từ chối tham gia. Đừng đứng về phe nào. Điều quan trọng hơn nhiều là vinh hiển của Chúa, sứ mạng của Hội Thánh, sự hiệp một của Thân Thể Đấng Christ và ích lợi của những tín hữu non trẻ đang quan sát cách những Cơ Đốc nhân trưởng thành đối xử với nhau. Thật đáng buồn nhưng cũng gần như khôi hài khi chứng kiến những gì xảy ra với một Cơ Đốc nhân có thiện chí lúc Hội Thánh của mình đang tan rã. Những lá thư nặc danh. Những hành động phá hoại âm thầm. Nếu bạn thực hiện những mưu kế ấy, bạn sẽ không giải quyết được điều gì cả. Bạn chỉ đang đổ thêm dầu vào lửa.

Phần lớn những chiến thuật như vậy chỉ là dấu hiệu cảnh báo của một môi trường lãnh đạo không lành mạnh, chứ không phải con đường đưa Hội Thánh ra khỏi khủng hoảng. Đừng đáp trả bằng những lời cay nghiệt. Đừng hạ nhục người khác. Đừng dùng lời lẽ sắc sảo để gây tổn thương. Hãy chấp nhận sự tổn thương. Hãy chịu phần thiệt. Hãy giữ im lặng. Làm vậy, bạn sẽ phơi bày người kia là kẻ bắt nạt.

Nhưng nếu bạn trả đũa, lập tức mọi việc sẽ giống như một cuộc đánh nhau giữa hai bên ngang sức, và cả hai đều bị xem là sai như nhau. Không điều gì bạn nói có thể khiến những người chỉ trích bạn tin rằng bạn đang nói thật. Cũng không điều gì họ nói có thể khiến những người ủng hộ bạn đổi ý. Đây chính là thời điểm bạn quyết định mình có thật là một môn đồ của Chúa Giê-su Christ hay không. Hãy phó thác chính mình cho Ngài và để mọi việc trong tay Ngài. Đó là cuộc chiến của Ngài, và cũng là công việc của Ngài để sửa lại những điều sai trái. Hãy nghĩ đến một mục sư đã phục vụ một Hội Thánh ở vùng New England hơn hai mươi năm. Ông phải đối diện với những cuộc tranh giành quyền lực, những tranh cãi về lương bổng và những cuộc công kích liên tục nhằm vào chức vụ lãnh đạo của mình.

Khi ông kêu gọi các tín hữu sống trong đức tin chân thật và đời sống thánh khiết, Hội Thánh đã sa thải ông. Ở tuổi trung niên, ông mất việc trong khi còn phải nuôi một gia đình đông con. Trong tất cả những điều ấy, ông không phạm tội trong cách mình đáp ứng.

Một người bạn nhận xét rằng ông sống như một người của Đức Chúa Trời, có niềm vui nằm ngoài tầm với của những kẻ chống đối mình.

Nhiều năm sau, chính những người chỉ trích gay gắt nhất đã thừa nhận rằng họ hành động vì lòng kiêu ngạo và hư vinh, còn Hội Thánh thì ăn năn.

Vị mục sư ấy là Jonathan Edwards, người thường được xem là nhà thần học vĩ đại nhất mà nước Mỹ từng sản sinh. Sự minh oan cuối cùng cũng đến. Chỉ có điều nó đến theo thời điểm của Đức Chúa Trời, chứ không phải của ông. Đó là bầy chiên của Ngài, không phải của bạn. Đó là Hội Thánh của Ngài, không phải của bạn. Nếu phải có một cuộc chiến để bảo vệ bầy chiên, hãy để Đấng Chăn Chiên chiến đấu.

Làm Sao Ngăn Chặn Một Cuộc Xung Đột Trong Hội Thánh Trước Khi Nó Bắt Đầu?

Có một Hội Thánh mà tôi biết đã bị một nhóm nhỏ lãnh đạo gây áp lực, đòi mục sư phải rời khỏi chức vụ, mặc dù đa số Hội Thánh hoàn toàn ủng hộ ông. Khi một chấp sự giải thích Kinh Thánh dạy phải xử lý những vấn đề như vậy thế nào, câu trả lời khiến ông sững sờ. Sau này ông kể lại với vị mục sư rằng họ nói: “Họ không quan tâm Kinh Thánh nói gì. Họ chỉ muốn vị mục sư phải ra đi.”

Khi một Hội Thánh đi đến mức ấy, những tổn thương có thể phải mất nhiều năm mới được chữa lành, cũng giống như hậu quả kéo dài sau một cuộc chia rẽ Hội Thánh. Rồi một trong những người lãnh đạo ấy bước lên bục giảng vào cuối buổi nhóm để đọc bản cáo buộc đối với vị mục sư.

Các tín hữu đứng dậy và lần lượt bước ra ngoài. Những người khác tiến lên phía trước bục giảng và bắt đầu cầu nguyện. Đó là cách chấm dứt một cuộc xung đột trước khi nó thực sự bắt đầu. Bạn từ chối tham gia. Những người trung tín tiếp tục làm công việc mình được giao. Họ ở đúng vị trí Chúa đặt mình. Họ nâng đỡ mục sư của mình. Họ từ chối phá hủy một Hội Thánh khỏe mạnh chỉ để đạt được điều mình mong muốn.

Nếu trong Hội Thánh của bạn hiện đang có những căng thẳng âm ỉ, thì việc học cách giải quyết bất đồng theo cách tôn trọng người khác có thể ngăn một sự bất đồng trở thành một cuộc chiến thực sự. Nếu bạn là mục sư hoặc giáo sư Kinh Thánh, hãy giảng dạy phân đoạn Kinh Thánh này cùng những nguyên tắc này hết lần này đến lần khác. Bạn chỉ dạy một lần thì người ta sẽ quên. Bạn phải khắc sâu những lẽ thật ấy vào lòng và tâm trí của họ từ rất lâu trước khi khủng hoảng xảy ra, để khi biến cố đến, Hội Thánh đã biết mình phải đáp ứng như thế nào.

Những Câu Hỏi Thường Gặp Về Xung Đột Trong Hội Thánh

Kinh Thánh nói gì về xung đột trong Hội Thánh?

Kinh Thánh xem xung đột giữa các tín hữu là một vấn đề nghiêm trọng nhưng có thể giải quyết được. 1 Phi-e-rơ chương 2 chỉ vào gương của Chúa Giê-su, Đấng đã không trả đũa khi chịu khổ. Ma-thi-ơ 5:9 tuyên bố phước cho những người làm cho hòa thuận và gọi họ là con cái Đức Chúa Trời. Thông điệp xuyên suốt của Kinh Thánh là theo đuổi sự hiệp một, từ chối báo thù và tin cậy Đức Chúa Trời sẽ thực hiện sự minh oan.

Mục sư nên xử lý một cuộc xung đột trong Hội Thánh như thế nào?

Một mục sư không nên đứng về phe nào trong cuộc tranh giành quyền lực, không nên trả đũa và sẵn sàng chịu đựng sự đối xử bất công thay vì đáp trả tương tự. Mục tiêu là bảo vệ sự hiệp một và sứ mạng của Hội Thánh hơn là giành chiến thắng trong bất kỳ cuộc tranh luận nào. Sự tự chủ âm thầm nhưng kiên định thường bày tỏ rõ bản chất của những người gây rối hiệu quả hơn nhiều so với bất kỳ cuộc phản công công khai nào.

Có đúng khi rút lui khỏi một cuộc xung đột trong Hội Thánh không?

Có. Rút lui khỏi một cuộc chiến không đồng nghĩa với việc từ bỏ chân lý. Từ chối làm cho xung đột leo thang, không đáp trả bằng những lời xúc phạm và phó kết quả cho Đức Chúa Trời chính là một cách đáp ứng theo Kinh Thánh. Không có bất kỳ vấn đề đơn lẻ nào đáng để chia rẽ Hội Thánh, và một người lãnh đạo biết lùi lại khỏi cuộc hỗn chiến thường bảo vệ được nhiều điều hơn những gì mình tưởng như phải đánh mất.

Làm thế nào để ngăn một cuộc chia rẽ Hội Thánh trước khi nó bắt đầu?

Những cuộc chia rẽ sẽ mất đà khi những người trung tín đơn giản là từ chối tham gia cuộc chiến. Khi các tín hữu tiếp tục phục vụ, tiếp tục nâng đỡ mục sư của mình và đáp lại những lời cáo buộc bằng sự cầu nguyện thay vì tranh cãi, cuộc xung đột sẽ mất đi nguồn nhiên liệu nuôi dưỡng nó. Việc dạy dỗ cách giải quyết xung đột theo Kinh Thánh từ rất lâu trước khi căng thẳng xuất hiện chính là biện pháp phòng ngừa tốt nhất.

Nên làm gì khi các tín hữu quay sang chống đối mục sư?

Hãy gần gũi với Chúa, tiếp tục trung tín làm công việc Ngài giao và chống lại cám dỗ phải đáp trả theo cách tương tự. Hãy tin rằng Đức Chúa Trời sẽ bênh vực các đầy tớ của Ngài theo đúng thời điểm của Ngài, như chức vụ lâu dài của Jonathan Edwards đã minh chứng. Nếu thực sự có những vấn đề cần được xem xét chính thức, hãy giải quyết chúng theo quy trình của Hội Thánh phù hợp với Kinh Thánh, thay vì biến chúng thành một cuộc đối đầu công khai.

Tác giả: Joe McKeever

Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc

Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.

Link gốc bài viết: https://churchleaders.com/pastors/2213630-how-to-handle-church-conflict-biblical-response-church-fights.html?fbclid=IwY2xjawSivaRleHRuA2FlbQIxMABicmlkETFrMkZmOW51Z3hhck5aMTlDc3J0YwZhcHBfaWQQMjIyMDM5MTc4ODIwMDg5MgABHs5hlk3HW-8tt-YE8nD-qGTQWrxVKer8IuB55FwWK47S0Q9JMe0RTpoKVTKo_aem_ycVXZNc1c1DGKz3nOosQbQ

admin

5 DẤU HIỆU CHO THẤY BẠN CHƯA TRƯỞNG THÀNH THUỘC LINH

Tháng 6 30, 2026/0 Comments/in Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh, THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH /by admin

Câu hỏi về những dấu hiệu của sự trưởng thành thuộc linh dường như đang tạo ra một trong những cuộc tranh luận kỳ lạ nhất trong Hội Thánh Bắc Mỹ và phương Tây ngày nay.

Điều kỳ lạ là thế này: một số Cơ Đốc nhân lại đi chỉ trích những Cơ Đốc nhân khác vì họ không đủ “sâu nhiệm” hoặc không đủ tận hiến để trở thành những Cơ Đốc nhân “thật sự”. (Điều này nghe có thể không hề kỳ lạ đối với bạn lại chính là bằng chứng cho thấy vấn đề này đã trở nên quen thuộc đến mức nào.) Dường như có một nhóm Cơ Đốc nhân nào đó cho rằng họ đã nắm được bí quyết của sự trưởng thành thuộc linh, còn phần lớn chúng ta thì không.

Thế nhưng, điều mà chúng ta thường gọi là sự trưởng thành thuộc linh… thực ra lại không phải vậy. Thật vậy, ít nhất năm biểu hiện thường được xem là dấu hiệu của sự trưởng thành thuộc linh thực chất lại cho thấy bạn đang thiếu nó.

Vậy vấn đề này thường xuất hiện trong các cuộc trò chuyện như thế nào?

Trong các vòng lãnh đạo Hội Thánh, cuộc đối thoại thường bắt đầu bằng những câu hỏi như:

“Anh đang làm gì để môn đồ hóa những người của mình vậy?” (chữ môn đồ hóa thường được nhấn mạnh và nói bằng một giọng trầm hơn bình thường). Hoặc bằng những lời nhận xét mang tính xem thường như: “Vậy là anh thu hút được nhiều người đến Hội Thánh đấy, nhưng rồi sao nữa?”

Và hầu như lúc nào những câu nói ấy cũng được thốt ra với thái độ bề trên, như thể một số người nào đó sở hữu độc quyền về sự trưởng thành thuộc linh và thích thú nhìn những người theo Chúa khác lúng túng tìm câu trả lời, chỉ để rồi càng bộc lộ sự non trẻ của mình.

Tôi đã nhiều lần ở vị trí phải nghe những lời như vậy, bởi vì Hội Thánh chúng tôi tiếp cận được rất nhiều người mà bình thường sẽ không bao giờ bước chân vào nhà thờ.

5 Dấu Hiệu Tiêu Cực Bị Nhầm Là Sự Trưởng Thành Thuộc Linh

Trước khi trình bày danh sách này, xin hiểu rằng tôi không tự nhận mình là người “trưởng thành thuộc linh”. Tôi cũng không khẳng định mình đã hiểu trọn vẹn vấn đề này.

Tôi chỉ cho rằng có điều gì đó đang bị lệch lạc trong cách chúng ta đối thoại và định nghĩa về sự trưởng thành thuộc linh. Về phần cá nhân, tôi hy vọng mình đang trưởng thành hơn mỗi ngày. Nhưng tôi đã đạt đến đích chưa? Chắc chắn là chưa.

Sự môn đồ hóa là một tiến trình tự nhiên và kéo dài suốt đời. Nó liên quan đến điều mà các tín hữu thời xưa gọi là sự thánh hóa. Đó là tiến trình trở nên ngày càng thánh khiết hơn. Nếu bỏ đi vẻ xa lạ của từ ngữ này, nó đơn giản có nghĩa là “được biệt riêng ra”. Nói cách khác, bạn không còn là con người như trước đây nữa. Và tiến trình ấy tiếp tục cho đến ngày bạn qua đời.

Trong khi đó, nếu bạn muốn tiếp tục tăng trưởng, dưới đây là năm điều thường được xem là biểu hiện của sự trưởng thành thuộc linh trong nền văn hóa của chúng ta, nhưng thực ra có thể đang cho thấy điều ngược lại.

1. Tự Hào Về Lượng Kiến Thức Kinh Thánh Mình Có

Từ khi nào việc tự hào về những điều mình biết trong Kinh Thánh và coi thường những người biết ít hơn lại trở thành một điều tốt đẹp? Như sứ đồ Phao-lô đã nói: “Sự tri thức sinh kiêu căng, còn tình yêu thương gây dựng.”

Phao-lô biết rõ mình đang nói gì. Một số Cơ Đốc nhân phô bày kiến thức Kinh Thánh của mình như thể đó là một thành tích đáng khoe khoang. Điều đó hoàn toàn sai.

Khi còn nhỏ, tôi từng thắng không ít cuộc thi tra câu gốc Kinh Thánh (còn ai nhớ những cuộc thi đó không?). Và cho đến nay, tôi vẫn dành thời gian đọc và nghiên cứu Kinh Thánh hầu như mỗi ngày. Nhưng theo những gì tôi hiểu, Đức Chúa Trời muốn tôi dùng kiến thức ấy để trở thành một cây cầu nối với con người, chứ không phải một hàng rào ngăn cách nhằm chứng minh mình công chính hơn người khác. Bởi vì, lần cuối tôi kiểm tra thì tôi cũng chẳng công chính đến thế.

Hãy dùng Kinh Thánh như một cây cầu nối với văn hóa đương đại, chứ đừng biến nó thành bức tường ngăn cách với thế giới. Làm khác đi chỉ khiến chúng ta đứng chung vị trí với một nhóm tôn giáo mà Chúa Giê-xu đã nhiều lần quở trách gay gắt: những người Pha-ri-si.

Rốt cuộc, vấn đề chưa bao giờ là bạn biết bao nhiêu hay biết ít thế nào. Vấn đề là Đức Chúa Trời biết điều gì và Ngài yêu ai.

2. Coi Trọng Lẽ Thật Nhưng Thiếu Ân Điển

Theo cùng một cách đó, việc chỉ tập trung vào lẽ thật cũng là một vấn đề.

Tôi rất thích cách Giăng mô tả sự đến của Chúa Giê-su: Ngài đầy dẫy ân điển và lẽ thật.

Một trong những điều tôi yêu quý nhất nơi Chúa Giê-su là lẽ thật không bao giờ bị tách rời khỏi ân điển, và ân điển cũng không bao giờ bị tách rời khỏi lẽ thật. Ngài luôn bày tỏ ân điển khi công bố lẽ thật, bởi vì lẽ thật luôn nhằm dẫn con người đến với ân điển.

Tuy nhiên, một số người được xem là “trưởng thành” lại nghĩ rằng có thể đứng hẳn về một phía.

Họ nói: “Tôi là người của lẽ thật.”

Không đâu. Có lẽ bạn chỉ đang cư xử thô lỗ mà thôi. (Tôi nói điều này với tư cách một người vốn có xu hướng nghiêng về phía bảo vệ lẽ thật.)

Mỗi khi bị thôi thúc phải nói ra sự thật, tôi luôn phải đến trước mặt Đức Chúa Trời để kiểm tra xem điều đó có được thúc đẩy bởi ân điển hay không. Hãy thử tưởng tượng nếu tất cả chúng ta đều làm như vậy.

3. Coi Trọng Ân Điển Mà Thiếu Lẽ Thật

Điều ngược lại cũng đúng. Giống như lẽ thật không còn là lẽ thật khi thiếu ân điển, thì ân điển cũng không còn là ân điển khi bị tách khỏi lẽ thật. Một số người “trưởng thành” ở phía đối lập của phổ thần học lại né tránh lẽ thật như thể tình yêu có thể tồn tại mà không cần lập trường hay nền tảng.

Không. Ân điển có bộ xương sống. Và chúng ta đã đóng bộ xương ấy trên thập tự giá.

Bạn không thể tách ân điển khỏi lẽ thật cũng như không thể tách lẽ thật khỏi ân điển. Đó là một ranh giới vô cùng khó để giữ được sự cân bằng, nhưng chúng ta phải tìm ra nó. Ân điển không có lẽ thật không phải là sự trưởng thành. Cũng như lẽ thật không có ân điển không thực sự là lẽ thật. Rõ ràng, tất cả chúng ta đều cần một Đấng Cứu Thế trong vấn đề này. Và thật cảm tạ Chúa vì Ngài là hiện thân trọn vẹn của cả ân điển lẫn lẽ thật.

4. Khắc Nghiệt Với Người Ngoài Nhưng Lại Dễ Dãi Với Người Trong

Nhiều người tự xem mình là trưởng thành thuộc linh rất thích nói về việc thế giới này tồi tệ đến mức nào. Và đúng là nó rất tồi tệ. Chỉ cần đọc các bản tin mỗi ngày là đủ thấy điều đó. Đức Chúa Trời đã nhận định như vậy từ rất sớm, ngay trong Sáng Thế Ký chương 6: Đức Giê-hô-va thấy sự gian ác của loài người trên đất thật nhiều, và mọi ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn. Bản văn tiếp tục cho biết điều đó khiến lòng Ngài đau đớn.

Vậy Đức Chúa Trời đã làm gì? Ngài bắt đầu lại. Sau đó là con tàu của Nô-ê và cầu vồng giao ước.

Cuối cùng, sự đáp ứng của Đức Chúa Trời đối với nỗi đau ấy được bày tỏ trọn vẹn trong Chúa Giê-su. Như câu Kinh Thánh quen thuộc nhưng thường bị hiểu sai đã nói: Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài… Không phải để đoán phạt thế gian, nhưng để cứu thế gian.

Vậy tại sao nhiều Cơ Đốc nhân lại cư xử như thể Đức Chúa Trời ghét thế gian?

Người ta trả lời: “Vì thế gian bại hoại và đầy tội lỗi.” Nhưng sự thật là, hỡi Cơ Đốc nhân, chính bạn cũng bại hoại và phạm tội. Thế nhưng chúng ta thường lớn tiếng lên án tội lỗi của thế gian như thể thế gian không được phép phạm tội, trong khi lại rất dễ dãi với những thất bại đạo đức của chính mình.

Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta nói về những tội lỗi trong Hội Thánh như chuyện nói hành, tham ăn, chia rẽ và bè phái với cùng một sự nghiêm túc như khi nói về tội lỗi tình dục?

Điều gì sẽ xảy ra nếu Hội Thánh nghiêm túc xử lý tội lỗi của chính mình hơn tội lỗi của thế gian? Tôi nghĩ đó mới là điều chúng ta được kêu gọi làm.

Nếu bạn vẫn chưa bị thuyết phục, hãy nghiên cứu đời sống Chúa Giê-su. Bạn sẽ thấy Ngài luôn mời gọi những người bị xem là tội nhân khét tiếng và những người bị xã hội loại trừ đến với mình. Trong khi đó, những lời quở trách nặng nề nhất của Ngài lại dành cho những người lãnh đạo tôn giáo thời bấy giờ.

Chúng ta đang làm ngược lại. Nếu Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến như vậy, ai đã quyết định rằng chúng ta không nên yêu thương thế gian?

Và nếu mục tiêu của bạn là giúp người khác mở lòng với một Đức Chúa Trời yêu thương, tại sao bạn lại nghĩ rằng bắt đầu bằng sự phán xét là một chiến lược hiệu quả? Rất ít người được thay đổi bởi sự kết án. Nhưng rất nhiều người được thay đổi bởi tình yêu thương.

5. Nói Với Người Khác Rằng Mình Trưởng Thành Thuộc Linh

Điều này luôn khiến tôi khó hiểu.

Trong nhiều năm qua, không ít người đã kéo tôi sang một bên và hỏi: “Vậy Hội Thánh anh có chương trình gì dành cho những người trưởng thành thuộc linh như tôi không?”

Có lẽ tôi nên lùi lại để những người như thế rẽ đôi Biển Đỏ chăng.

Việc nói với người khác rằng mình trưởng thành thuộc linh cũng giống như nói với người khác rằng mình khôn ngoan. Chính điều đó lại là bằng chứng cho thấy có lẽ bạn không phải như vậy. Theo quan điểm của tôi, những người trưởng thành thuộc linh nhất thường cũng là những người khiêm nhường nhất. Nếu bạn đang phô trương sự trưởng thành của mình, thì rất có thể bạn vẫn còn cần tăng trưởng nhiều.

Bạn Nghĩ Thế Nào?

Tôi hy vọng bạn hiểu rằng những điều này không chỉ xuất phát từ sự thất vọng, mà còn từ tình yêu dành cho Đức Chúa Trời, cho Hội Thánh và cho thế giới.

Tôi rất mong cuộc trò chuyện về sự trưởng thành thuộc linh sẽ trở nên lành mạnh hơn.

Tôi tin rằng ngày nay Hội Thánh đang hiểu sai khá nhiều về vấn đề môn đồ hóa. Và tôi cũng tin rằng Hội Thánh cần một kiểu trưởng thành thuộc linh khác — một sự trưởng thành được đánh dấu bởi sự khiêm nhường, ân điển, lẽ thật, sự ăn năn và tình yêu thương, thay vì bởi sự tự mãn hay cảm giác mình vượt trội hơn người khác.

Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc

Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.

Link gốc bài viết: Spiritual Maturity: 5 Signs You DON’T Have It

admin

10 CUỘC THỨC TỈNHĐÃ ĐỊNH HÌNH MỘT QUỐC GIA – LỊCH SỬ PHẤN HƯNG TẠI MỸ

Tháng 6 25, 2026/0 Comments/in Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh, THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH /by admin

Nước Mỹ đã nhiều lần được Đức Thánh Linh thăm viếng hơn những gì hầu hết tín hữu nhận ra. Từ một hội thánh nhỏ trong thung lũng Connecticut năm 1734 cho đến những sân vận động bóng đá chật kín người vào thập niên 1990, lịch sử phấn hưng của quốc gia này giống như một biên niên sử về việc Đức Chúa Trời biến điều tưởng chừng không thể thành điều bình thường. Đây không phải là những chương trình được dàn dựng hay chiến dịch quảng bá. Chúng là những hành động chủ quyền của Đức Chúa Trời, làm đảo lộn bức tranh thuộc linh của cả vùng, thậm chí cả một thế hệ.

Hiểu biết về lịch sử đó ngày nay lại càng quan trọng. Khi văn hóa dường như trôi dạt về mặt thuộc linh và ảnh hưởng của Hội thánh có vẻ đang thu hẹp, thì ký ức về những gì Đức Chúa Trời đã từng làm trở thành bằng chứng mạnh mẽ nhất cho những gì Ngài vẫn có thể làm lần nữa.

Phấn Hưng là gì?

Trước khi lần theo lịch sử, cần định nghĩa thuật ngữ này. Phấn hưng không phải là một chương trình tăng trưởng hội thánh hay một sự kiện cuối tuần đông người tham dự. Jonathan Edwards, người chứng kiến cuộc thức tỉnh lớn đầu tiên trong lịch sử Mỹ, đã mô tả đó là việc Đức Chúa Trời bày tỏ “lòng thương xót tự do và chủ quyền của Ngài trong việc cứu rỗi một số đông linh hồn trong một khoảng thời gian ngắn” và biến đổi con người “từ một sự xưng nhận Cơ Đốc giáo hình thức, lạnh lùng và hờ hững sang việc thực hành sống động mọi ân điển Cơ Đốc.”

Nói ngắn gọn, phấn hưng là khi Đức Chúa Trời tăng tốc tiến trình thuộc linh vốn dĩ phải mất hàng thập kỷ. Con người cảm nhận sự hiện diện của Ngài cách mãnh liệt. Sự cáo trách trở nên sâu sắc và thật. Lời cầu nguyện trở nên khẩn thiết. Nhiều người được cứu, và những kẻ sa ngã quay trở lại. Phạm vi càng rộng lớn thì các sử gia càng gọi đó là một “Cuộc Thức Tỉnh Lớn.”

1. Cuộc Đại Thức Tỉnh (1734–1743)

Tháng 12 năm 1734, Jonathan Edwards, một Mục sư trẻ tại Northampton, Massachusetts, ghi nhận điều lạ thường xảy ra trong hội thánh của ông. Chỉ trong thời gian ngắn, năm hoặc sáu người đã được cứu, trong đó có một phụ nữ trẻ vốn nổi tiếng là kẻ gây rối nhất trong thị trấn. Thay vì dập tắt ngọn lửa, sự hoán cải của cô lại thổi bùng nó lên. Trong vòng sáu tháng, ba trăm linh hồn được cứu trong một thị trấn chỉ có 1.100 người.

Tin tức lan rộng khắp New England và xa hơn nữa. Những cuộc phấn hưng tương tự bùng nổ tại hơn 100 thị trấn. Rồi năm 1739, George Whitefield từ Anh đến. Các sử gia ước tính rằng 80% trong số 900.000 dân thuộc địa đã trực tiếp nghe ông giảng. Những buổi nhóm ngoài trời của ông thu hút đám đông đông đảo đến mức vẫn gây ấn tượng ngay cả theo tiêu chuẩn hiện đại. Theo nhiều ghi nhận, Whitefield trở thành, “ngôi sao đại chúng” đầu tiên của nước Mỹ.

2. Cuộc Đại Thức Tỉnh Thứ Hai (1800–1840)

Đầu thế kỷ 19, chỉ có 1 trong 15 người Mỹ thuộc về một hội thánh Tin Lành. Tỷ lệ này sắp thay đổi mạnh mẽ. Mục sư Trưởng Lão James McGready tổ chức những buổi nhóm trại bùng nổ tại Logan County, Kentucky, thu hút hàng ngàn người từ tận Ohio. Các phong trào kế tiếp lan khắp vùng biên cương. Năm 1824, Charles Finney bắt đầu chức vụ, dẫn đến khoảng 500.000 người tin nhận Đấng Christ. Riêng tại Rochester, New York, năm 1831 có 100.000 người được cứu, và sự thức tỉnh lan ra 1.500 thị trấn xung quanh. Đến năm 1850, dân số Mỹ tăng gấp bốn, nhưng tỷ lệ người gắn bó với hội thánh Tin Lành gần như tăng gấp đôi.

3. Phấn Hưng Giới Doanh Nhân (1857–1858)

Jeremiah Lanphier, một giáo sĩ thường dân, mở cửa hội thánh Bắc Hà Lan tại New York vào buổi trưa để cầu nguyện. Buổi đầu tiên ngày 23/9/1857 chỉ có sáu người. Rồi 20, rồi 40. Các buổi nhóm chuyển sang hằng ngày, rồi nhiều địa điểm. Ba tuần sau, khủng hoảng ngân hàng 1857 làm Wall Street sụp đổ. Khi khủng hoảng tài chính lan rộng, các buổi cầu nguyện nhân lên. Ước tính một triệu người được thêm vào sổ hội thánh, và một triệu tín hữu khác kinh nghiệm sự hoán cải thật. Đây được gọi là “Phấn Hưng Cầu Nguyện Lớn.”

4. Phấn Hưng Thời Nội Chiến (1861–1865)

Nội chiến là cuộc xung đột đẫm máu nhất của Mỹ, với hơn 620.000 người chết. Ban đầu, binh lính hai bên dường như bỏ lại Đức tin ở nhà. Nhưng từ năm 1862, đặc biệt trong quân đội miền Nam, sự thay đổi xảy ra. Ước tính 300.000 binh sĩ được cứu trong suốt cuộc chiến, chia đều giữa hai phe.

5. Phấn Hưng Đô Thị (1875–1885)

Dwight L. Moody, từng tham gia Phấn Hưng1857 tại Chicago, sau đó giảng cho hơn 2,5 triệu người ở Anh trước khi trở về Mỹ năm 1875 để khởi động các chiến dịch Phấn Hưngtại những thành phố lớn. Hàng trăm ngàn người được cứu, hàng triệu người được khích lệ.

Moody là nhà truyền giảng đầu tiên đối diện sự chống đối mạnh mẽ từ văn hóa chính thống. Ông bị cáo buộc dùng tôn giáo như thuốc phiện, báo trước những tranh luận sẽ gia tăng trong thế kỷ 20 khi thuyết Darwin và thần học tự do lan rộng.

6. Cuộc Phấn Hưng 1904–1905

Tin tức về Phấn Hưng xứ Wales lan đến cộng đồng di dân nói tiếng Wales ở Pennsylvania, khởi đầu một chuỗi phản ứng. Đến năm 1905, các cuộc Phấn Hưng bùng cháy tại Brooklyn, Michigan, Denver, Nebraska, hai bang Carolina, Georgia, và nhiều trường đại học như Yale, Asbury. Billy Sunday nổi lên trong thời kỳ này, sau đó giảng cho hơn 100 triệu người, với hơn một triệu người được cứu.

7. Phấn Hưng Đường Azusa (1906)

William J. Seymour, một Mục sư người Mỹ gốc Phi, đến Los Angeles năm 1906. Sau khi bị ngăn cấm sự phục vụ thứ hai, ông bắt đầu cầu nguyện tại một ngôi nhà. Sau nhiều tháng cầu nguyện kiên trì, Đức Thánh Linh giáng xuống cách quyền năng, khiến đám đông vượt quá sức chứa.

Họ chuyển đến một nhà thờ cũ tại số 312 Azusa Street, nơi các buổi nhóm diễn ra hằng ngày suốt ba năm. Hội chúng đa sắc tộc là điều cực kỳ cấp tiến thời đó. Phong trào Ngũ Tuần và sau này là phong trào Ân Tứ đều bắt nguồn từ đây, trở thành những dòng chảy phát triển nhanh nhất toàn cầu trong thế kỷ 20.

8. Phấn Hưng Sau Thế Chiến II (1947–1950)

Sau Thế chiến II, các tín hữu Ngũ Tuần kinh nghiệm hai dòng phục hưng: “Cơn mưa cuối mùa” và “Phấn Hưng Chữa Lành.” Đồng thời, nhiều tín hữu Tin Lành cũng chứng kiến sự cứu rỗi lớn lao. Một thế hệ lãnh đạo mới xuất hiện: Bill Bright sáng lập Campus Crusade for Christ; Billy Graham bùng nổ tại chiến dịch Los Angeles năm 1949. Graham sau đó giảng cho khoảng 180 triệu người trong gần 400 chiến dịch suốt sáu thập kỷ. Các cuộc Phấn hưng lan rộng tại nhiều trường đại học, đặc biệt khi Phấn hung Wheaton College năm 1950 được báo chí đưa tin, tạo hiệu ứng lan tỏa khắp nước Mỹ.

9. Phong Trào Ân Tứ và Phong Trào Giê-su (Cuối 1960s–1970s)

Hai dòng chảy song song: Phong trào Ân Tứ lan rộng vào cả Giáo hội Công giáo, các hệ phái Tin Lành chính thống và trường đại học. Phong trào Giê-su thì hướng năng lượng “lối sống tha hóa đi ngược văn hóa” của giới trẻ về Đấng Christ, đưa họ rời bỏ ma túy, tình dục phóng túng và chính trị cực đoan để đến với Kinh Thánh và sự hoán cải cá nhân. Một minh chứng nổi bật là Phấn hung Asbury College năm 1970, bắt đầu từ một buổi nhóm nhà nguyện và kéo dài nhiều tuần. Chỉ trong vài ngày, các nhóm truyền đi khắp đất nước. Đến năm 1976, Mỹ bầu chọn vị tổng thống đầu tiên công khai là người “tái sinh,” và phong trào Tin Lành bước vào thời kỳ hiện diện văn hóa mạnh mẽ.

10. Các Cuộc Phấn Hưng Giữa Thập Niên 1990

Dù xã hội thế tục hóa mạnh sau thập niên 1960–1970, Đức Chúa Trời lại hành động trong thập niên 1990, chủ yếu qua cộng đồng Ân Tứ và Ngũ Tuần. “Phước Lành Toronto” (1994) thu hút người từ khắp thế giới. Phấn hưng Brownsville tại Florida ghi nhận hơn 100.000 người được cứu trong hai năm. Các trường đại học cũng chứng kiến phong trào mới. Phong trào Promise Keepers bắt đầu năm 1991 với 4.200 người, rồi tăng lên 50.000 vào năm 1993. Đỉnh điểm là ngày 4/10/1997, hơn một triệu người tập trung tại Washington, D.C. để cầu nguyện và ăn năn. Đến năm 2000, Promise Keepers báo cáo tổng cộng năm triệu người tham dự các hội nghị.

10 Đặc Điểm Chung Của Mọi Cuộc Phấn Hưng

Mỗi cuộc thức tỉnh đều mang dấu ấn riêng. Phấn hung năm 1740 do giới trẻ dẫn đầu. Phấn h ưng cầu nguyện 1857 tập trung vào giới doanh nhân. Phấn hung Azusa Street năm 1906 nổi bật bởi tính đa sắc tộc trong bối cảnh xã hội phân biệt. Tuy nhiên, xuyên suốt tất cả, có những mẫu số chung luôn xuất hiện:

  1. Suy thoái thuộc linh và đạo đức đi trước Phấn Hưng: Đức Chúa Trời thường hành động khi nhiệt độ thuộc linh xuống thấp nhất và dân sự Ngài cảm nhận rõ nhất.
  2. Sự cầu nguyện khác thường: Trong mọi cuộc phấn hưng, Đức Chúa Trời đặt gánh nặng cầu nguyện vào lòng những người bình thường trước khi có bất cứ điều gì xảy ra bên ngoài.
  3. Giảng dạy Lời Đức Chúa Trời: Việc tiếp nhận sâu sắc và trực diện với Kinh Thánh tạo ra sự cáo trách khiến con người quỳ gối.
  4. Công việc của Đức Thánh Linh: Không có nỗ lực nào của con người có thể giải thích những gì xảy ra trong một cuộc Phấn hung thật. Đức Thánh Linh đưa con người đến những chiều sâu mà họ không thể tự đạt được.
  5. Sự cáo trách sâu sắc về tội lỗi: Người được ảnh hưởng không chỉ buồn bã; họ bị tan vỡ và không tìm thấy sự nghỉ ngơi cho đến khi đến với Đấng Christ.
  6. Chỉ một mình Đức Chúa Trời nhận vinh hiển: Những cuộc Phấn hung bền vững luôn hướng con người ra khỏi cá nhân và quay về với Đức Chúa Trời.
  7. Sự hoán cải lâu dài: Các chức vụ mới được khai sinh. Tình trạng đạo đức trong cộng đồng thay đổi. Kết quả là thật và tồn tại vượt quá phong trào ban đầu.
  8. Biểu hiện thể chất và cảm xúc: Ngất xỉu, khóc lóc, cầu nguyện rên siết, và những biểu hiện khác thường luôn đi kèm với Phấn hưng trong mọi truyền thống, thường gây tranh cãi.
  9. Tranh luận và hỗn độn: Lạm dụng, tranh chấp thần học, và thái quá luôn xuất hiện trong mọi cuộc Phấn hưng thật. Đức Chúa Trời không chờ đợi một khí cụ hoàn hảo.
  10. Phấn hưng lên cao rồi lắng xuống: Không cuộc thức tỉnh nào trong lịch sử Mỹ duy trì cường độ đỉnh cao mãi mãi. Chúng trỗi dậy, đạt đỉnh, rồi dần lắng xuống, để lại một bức tranh thuộc linh đã thay đổi.

Nước Mỹ có sẵn sàng cho một cuộc Phấn Hưng nữa không?

Phần lớn người Mỹ thường xuyên nói với các nhà thăm dò rằng họ tin đất nước đang đi sai hướng. Tỷ lệ đi nhà thờ so với dân số nhìn chung giữ ổn định từ giữa thế kỷ 20, nhưng ảnh hưởng văn hóa và đạo đức của Cơ Đốc giáo đã suy giảm đáng kể. Số lượng “Cơ Đốc nhân trên danh nghĩa” thì lớn, trong khi số người thật sự được biến đổi thì dường như nhỏ hơn.

Chính sự căng thẳng đó lại là bối cảnh quen thuộc cho mọi cuộc Phấn hung lớn trong lịch sử. Cơ Đốc giáo hiện diện nhưng không có quyền năng. Phổ biến nhưng không sâu sắc. Tình hình không vô vọng. Nó trở lên quen thuộc.

Nước Mỹ đã không chứng kiến một cuộc thức tỉnh mang tầm vóc quốc gia trong cả một thế hệ. Với lịch sử Phấn Hưngphong phú, nền tảng tín hữu đông đảo, và một thời điểm văn hóa đang kêu gào cho điều gì đó vượt quá khả năng của chính trị hay công nghệ, các điều kiện hiện tại rất dễ nhận ra.

Lịch sử cũng cho thấy một điều rõ ràng: Phấn Hưngquốc gia không thể được sản xuất hay dàn dựng. Chúng là hành động chủ quyền của Đức Chúa Trời, không phải sản phẩm của chiến lược. Nhưng Đức Chúa Trời luôn đáp lời những lời cầu nguyện khiêm nhường, ăn năn của dân sự Ngài. Lời mời gọi trong 2 Sử Ký 7:14 vẫn chưa hề hết hạn.

Lịch sử phục hưng thuộc linh tại Hoa Kỳ là gì?

Lịch sử phục hưng tại Hoa Kỳ đề cập đến những giai đoạn được ghi nhận trong đó xảy ra sự thức tỉnh thuộc linh mạnh mẽ và lan rộng, khi số lượng lớn người dân tin nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu và những tín hữu đã tin Chúa cũng trải nghiệm sự đổi mới sâu sắc trong đời sống đức tin. Các phong trào phục hưng lớn tại Hoa Kỳ trải dài từ cuộc thức tỉnh ở Northampton năm 1734 dưới chức vụ của Jonathan Edwards cho đến các phong trào trong thập niên 1990, mỗi phong trào đều để lại những tác động rõ rệt đối với xã hội và Hội Thánh.

Điều gì đã khởi đầu cuộc Đại Tỉnh Thức (Great Awakening) tại Hoa Kỳ?

Cuộc Đại Tỉnh Thức bắt đầu vào tháng 12 năm 1734 tại Northampton, bang Massachusetts, dưới chức vụ của Jonathan Edwards. Một loạt những trường hợp quy đạo đầy bất ngờ trong hội chúng của ông, bao gồm cả một phụ nữ trẻ có ảnh hưởng trong cộng đồng, đã nhanh chóng lan truyền khắp địa phương và các vùng lân cận. Đến năm 1739, những chuyến truyền giảng lưu động của nhà truyền đạo người Anh George Whitefield trên khắp các thuộc địa đã thổi bùng phong trào này thành một cuộc thức tỉnh thuộc linh trên quy mô toàn lục địa.

Những đặc điểm của một cuộc phấn hưng thuộc linh là gì?

Các cuộc phấn hưng chân chính thường có những đặc điểm chung sau: chúng xuất hiện trong những giai đoạn suy thoái về đạo đức và thuộc linh; được chuẩn bị trước bởi sự cầu nguyện tha thiết và đặc biệt; đi kèm với sự cáo trách sâu sắc về tội lỗi; và tạo ra những thay đổi rõ rệt, lâu dài trong đời sống cá nhân cũng như cộng đồng. Những biểu hiện thể chất, các tranh luận hoặc ý kiến trái chiều, cùng với tính chu kỳ của các phong trào phục hưng cũng xuất hiện trong hầu như mọi cuộc phấn hưng được ghi nhận trong lịch sử.

Cuộc phục hưng thuộc linh lớn gần đây nhất tại Hoa Kỳ diễn ra khi nào?

Phong trào phấn hưng được ghi nhận trên quy mô toàn quốc gần đây nhất tại Hoa Kỳ là làn sóng phấn hưng vào giữa thập niên 1990, bao gồm Phước Hạnh Toronto (Toronto Blessing), Phục Hưng Brownsville tại Pensacola, Florida, và các kỳ nhóm Promise Keepers, thu hút hơn một triệu nam giới đến Washington, D.C. vào năm 1997. Những cuộc phục hưng mang tính địa phương và trong các khuôn viên trường đại học, bao gồm một cuộc thức tỉnh đáng chú ý tại Asbury, vẫn tiếp tục xuất hiện trong thập niên 2020.

Hoa Kỳ có đang tiến gần đến một cuộc phấn hưng thuộc linh khác không?

Nhiều nhà sử học và thần học gia nhận thấy rằng Hoa Kỳ đã trải qua các cuộc phục hưng lớn khoảng mỗi 50 đến 60 năm một lần. Những điều kiện từng xuất hiện trước các cuộc thức tỉnh trong quá khứ — sự suy thoái đạo đức trên diện rộng, đức tin mang tính hình thức, và sự khao khát ngày càng tăng đối với một điều gì đó chân thật — cũng đang hiện diện trong xã hội ngày nay. Tuy nhiên, việc liệu một cuộc thức tỉnh thuộc linh trên phạm vi quốc gia có sắp xảy ra hay không hoàn toàn thuộc về ý muốn và thời điểm của Đức Chúa Trời; dù vậy, lịch sử cho thấy những điều kiện tiền đề ấy là điều có thể nhận biết được.

Tác giả: Patrick Morley (Churchleaders.com)

Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc

Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.

Link gốc bài viết: Revival History in America: 10 Awakenings That Shaped a Nation

admin

10 BÀI HỌC VỀ VIỆC NUÔI DẠY CON NHỎ

Tháng 6 11, 2026/0 Comments/in THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH, Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh /by admin

Con út của tôi sắp lên 10 và sẽ sớm bước vào độ tuổi ‘hai chữ số” cùng hai cô chị của nó. Điều này có nghĩa là Aileen, vợ tôi, và tôi đã “tốt nghiệp” – chuyển từ giai đoạn làm cha mẹ của những đứa trẻ nhỏ sang làm cha mẹ của những đứa trẻ lớn. Dĩ nhiên, việc nuôi dạy con vẫn còn nhiều phía trước, nhưng những năm tháng “con mọn” nay đã thuộc về quá khứ. Đó là những năm tháng vừa tuyệt vời vừa khó khăn, vừa dễ dàng vừa gian nan. Chúng đầy ắp niềm vui xen lẫn thử thách. Có lúc chúng tôi làm tốt, có lúc chúng tôi thất bại, chắc chắn là vậy. Và giờ thì tất cả đã ở phía sau. Trước khi ký ức trở nên mờ nhạt theo dòng thời gian, chúng tôi quyết định ghi lại vài bài học đã rút ra trong những năm tháng nuôi dạy con nhỏ. Có lẽ bạn sẽ thấy hữu ích.

1. Hãy nhớ rằng sự nổi loạn của con trước hết là chống lại Đức Chúa Trời, không phải chống lại bạn.

Trẻ em sinh ra vốn là tội nhân và cần một Đấng Cứu Rỗi. Gần như trước khi chúng có thể bày tỏ điều gì khác, chúng đã có thể bày tỏ sự nổi loạn chống lại cha mẹ. Càng lớn, sự nổi loạn ấy chỉ gia tăng – khi ồn ào, công khai; lúc lại âm thầm, lặng lẽ. Chúng tôi thường phải tự nhắc mình rằng sự nổi loạn ấy không phải chống lại chúng tôi trướ hết, mà là chống lại Đức Chúa Trời. Chúng chống đối chúng tôi, chống đối thẩm quyền và luật lệ của chúng tôi, nhưng tận cùng chúng đang chống nghịch với Đức Chúa Trời. Nhận thức đơn giản này giúp chúng tôi biết thương xót, cầu nguyện cho chúng, và một lần nữa nói với chúng về Chúa Giê-su.

2. Hãy cầu nguyện. Cầu nguyện, cầu nguyện và cầu nguyện!

Hãy cầu nguyện cho con cái bạn. Cầu nguyện cách kiên định, bền bỉ, tha thiết, chân thành và liên tục. Cầu nguyện cho thân thể, linh hồn và cuộc đời chúng. Cầu nguyện cho tình bạn và các mối quan hệ của chúng. Cầu nguyện cho việc học hành và người bạn đời tương lai. Hãy cầu nguyện cho chúng, cầu nguyện cùng chúng, cầu nguyện cho chúng, trước mặt chúng. Cầu nguyện cho chúng với hội thánh. Cầu nguyện cho chúng với người phối ngẫu. Cầu nguyện với niềm vui và cả trong nước mắt. Cầu nguyện như thể lời cầu nguyện thật sự quan trọng. Trên hết, hãy cầu nguyện. Bạn cần điều đó, chúng cần điều đó, và Đức Chúa Trời tôn trọng điều đó.

3. Trông đợi rằng Đức Chúa Trời sẽ cứu chúng.

Là cha mẹ Cơ Đốc, bạn có thể có niềm tin cậy lớn lao rằng Đức Chúa Trời sẽ cứu con cái bạn. Sự tin cậy này không dựa trên việc chúng là ai, sinh ra trong gia đình nào, hay dựa trên bất cứ điều gì đã làm cho chúng. Thay vào đó, nó dựa trên bản tính của Đức Chúa Trời (Đấng yêu thích cứu kẻ lạc mất) và phương tiện Ngài dùng (Phúc âm). Nếu bạn nuôi dạy con cái trong bầu khí thấm đẫm Phúc âm, bạn có thể tin chắc rằng chúng sẽ đáp ứng với Tin Lành. Tuy nhiên, cũng phải nói thêm điều này: Dù con bạn có thể thật sự được cứu khi còn rất nhỏ, đừng ngạc nhiên nếu cả bạn lẫn chúng chưa có sự xác quyết mạnh mẽ về sự cứu rỗi cho đến khi chúng trưởng thành và chín chắn hơn. Điều đó không sao, bởi vì dù đã tin hay chưa, nhu cầu của chúng vẫn giống nhau – vẫn là Tin Lành thôi.

4. Hãy coi trọng hội thánh (và nếu có thể, gắn bó với một hội thánh).

Hãy đặt việc thờ phượng và phục vụ tại hội thánh lên hàng đầu, và bất cứ khi nào có thể, hãy gắn bó với một hội thánh duy nhất. Không có kỷ luật gia đình nào tốt hơn việc cam kết với một hội thánh địa phương như môi trường để thờ phượng Đức Chúa Trời và phục vụ dân sự Ngài. Bạn chỉ có thể dạy điều này cho con bằng cách làm gương, bằng cách ưu tiên cho việc đó. Và có điều gì đó thật tốt lành, thật trong sáng khi trẻ em lớn lên trong một hội thánh, giữa một nhóm người duy nhất. Thật vui mừng khi được ở cùng những tín hữu đã biết và yêu thương con bạn từ khi chúng chào đời, và tiếp tục biết và yêu thương chúng khi bước vào tuổi trưởng thành.

5. Dạy con biết cách giao tiếp với người lớn.

Liên quan đến hội thánh, hãy tạo cơ hội cho con bạn được ở gần những người lớn khác. Chúng ta thường chú trọng xây dựng tình bạn giữa trẻ với trẻ, nhưng lại dễ bỏ qua việc giúp con xây dựng mối quan hệ với người lớn – những người có thể yêu thương, cầu nguyện, hướng dẫn và dìu dắt chúng khi trưởng thành. Bạn bè của bạn cũng có thể (và nên!) trở thành bạn của con bạn. Đừng ngại để người lớn khác có ảnh hưởng đến chúng. Đừng ngại, ngay cả khi chúng còn nhỏ, gợi ý: “Sao con không thử nói chuyện với _____ về điều đó.” Để nuôi dạy một đứa trẻ cần cả hội thánh.

6. Tự tin nhưng khiêm nhường trong việc làm cha mẹ.

Có những cặp vợ chồng đọc đủ loại sách, biết rõ trước khi sinh con đầu lòng rằng họ sẽ nuôi dạy thế nào, và theo chương trình đó đến cùng. Những cặp khác thì bỏ sách lại, chỉ đọc Kinh Thánh, cầu nguyện và đơn giản làm theo bản năng. Bằng cách nào đó, cả hai cách đều có thể hiệu quả, và chúng ta đều có thể nghĩ đến những đứa trẻ tin kính Chúa được nuôi dạy theo cả hai cách. Aileen và tôi học được rằng chúng tôi cần vừa tự tin vừa khiêm nhường trong cách nuôi dạy con – tự tin đủ để không liên tục thay đổi mô hình nuôi dạy, nhưng khiêm nhường đủ để học hỏi từ người khác, và nhất là luôn để Lời Chúa thách thức và sửa dạy mình.

7. Ưu tiên giờ tĩnh nguyện gia đình.

Ngoài việc đi nhà thờ, giờ tĩnh nguyện gia đình là kỷ luật quan trọng nhất mà gia đình bạn có thể thực hiện. Đây là điều cần bắt đầu và nhấn mạnh trong những năm con còn nhỏ, bởi vì bạn có tin hay không thì cuộc sống vẫn càng thêm bận rộn khi chúng lớn lên. Giờ là lúc để hình thành thói quen đó. Hãy bắt đầu ngay để con bạn không bao giờ phải nhớ đến giai đoạn mà gia đình của bạn không có thời gian thờ phượng cùng nhau. Aileen và tôi đã được khích lệ lạ lùng khi con trai chúng tôi kể lại với hội thánh cách Chúa cứu nó, và nhắc đến “sự cam kết như các chiến binh Spartan” trong gia đình tôi đối với giờ tĩnh nguyện.” Cháu nó nói vui thôi, nhưng thật là phước hạnh khi nghe thấy tầm quan trọng của điều đó trong đời sống cháu (nhất là khi chúng tôi rất ý thức về những lần bỏ lỡ, thất bại hay quên mất). Chúng tôi luôn tin rằng việc đơn giản mở Kinh Thánh và cầu nguyện chung vài phút mỗi ngày có tầm quan trọng vượt trội. Chúng tôi tin chắc rằng Đức Chúa Trời dùng điều đó để củng cố gia đình và cứu linh hồn.

8. Hiểu rằng đôi khi làm cha mẹ chỉ là cố gắng “sống sót”.

Trong những năm con còn nhỏ, nhiều khi việc làm cha mẹ thực chất chỉ là cố gắng “sống sót” – sống sót qua việc cho con bú, mọc răng, sốt, ăn vạ; sống sót khi đã nhiều tuần không có một giấc ngủ ngon và bạn chắc chắn rằng mình không thể chịu thêm một đêm nào nữa. Chúng tôi học được rằng trong những lúc khó khăn này, có thể phá vỡ vài quy tắc hay sở thích trong nuôi dạy con để giữ sự sống còn và tỉnh táo. Em bé có ngủ trong phòng hay trên giường bạn vài đêm hay vài tuần thì bạn cũng không làm mất linh hồn nó đâu. Nếu bạn cho con ngậm núm vú giả thì cũng không phải vì thế mà nó trở thành tội phạm. Đôi khi bạn thua những trận chiến nhỏ, và phải chấp nhận điều đó.

9. Ưu tiên cho hôn nhân của bạn.

Nuôi dạy con là thử thách lớn nhất và khó nhất mà hôn nhân của bạn sẽ đối diện. Không thể nào thêm vài cá tính mới vào gia đình mà lại không gây áp lực lên hôn nhân. Dù hôn nhân và con cái được thiết kế để hòa hợp, bạn sẽ thấy chúng thường cạnh tranh nhau. Nhưng hôn nhân phải được đặt lên hàng đầu. Sự ổn định của một hôn nhân mạnh mẽ, yêu thương, trìu mến sẽ neo giữ con cái, cho chúng sự tự tin rằng bất cứ điều gì xảy ra trong đời, hôn nhân này vẫn vững chắc. Hãy tìm và tạo cơ hội để ưu tiên và củng cố hôn nhân theo cách con cái có thể thấy và cả theo cách chúng không thấy. Dù thế nào, chúng cũng sẽ được hưởng lợi.

10. Cho con ân điển.

Hãy ban ân điển cho con, không chỉ toàn sửa phạt. Hãy chúng rằng bất tuân sẽ có hậu quả và kỷ luật chúng với sự nhất quán và nhân từ. Nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Đôi khi hiệu quả hơn lại là bày tỏ lòng thương xót để phản ánh lòng thương xót mà Đức Chúa Trời đã dành cho bạn. Thậm chí đôi lúc bạn có thể quyết định bỏ qua một lỗi lầm để tập trung xử lý một loại tội lỗi khác. Hãy ban ân điển và bày tỏ lòng thương xót. Đừng chỉ kể cho chúng nghe Phúc âm, mà hãy làm gương trong cách bạn đối xử với chúng.

Ghi chú thêm về câu “Hãy trông đợi Đức Chúa Trời sẽ cứu con cái mình”:

Tất nhiên, Đức Chúa Trời không có nghĩa vụ phải ban sự cứu rỗi cho con cái bạn. Theo ý muốn tể trị và tốt lành của Ngài, Ngài có thể không cứu chúng, hoặc chỉ dẫn chúng đến sự cứu rỗi khi chúng đã trưởng thành hay ở một giai đoạn rất muộn trong đời. Tuy vậy, điều đó không nên làm bạn mất niềm tin rằng những đứa trẻ được nuôi dưỡng trong môi trường thấm nhuần Phúc Âm ngay từ nhỏ thường có nhiều khả năng tiếp nhận và đáp lại sứ điệp Phúc Âm.

Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc

Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.

Link gốc bài viết: https://www.challies.com/articles/10-lessons-on-parenting-little-ones/

admin

CHUYỂN GIAO CHỨC VỤ: ĐỂ HỘI THÁNH TIẾP TỤC THÀNH CÔNG KHI BẠN ĐÃ RỜI ĐI

Tháng 5 30, 2026/0 Comments/in THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH, Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh /by admin

Hội thánh được chuẩn bị tốt sẽ đủ mạnh để vượt qua những khó khăn trong chuyển giao chức vụ.

Kế nhiệm một chức vụ chăn bầy lâu dài và thành công là một trong những việc khó khăn nhất trong sự phục vụ Chúa. Đúng ra, điều đó cần phải là việc dễ dàng nhất. Bởi nếu chúng ta thi hành chức vụ đúng cách, chúng ta phải chuẩn bị cho vị mục sư kế tiếp đạt được thành công lớn hơn cả chúng ta.

Nhưng thực tế là việc chuyển giao chức vụ thường là thời điểm nguy hiểm nhất trong đời sống của nhiều hội thánh. Một mục sư phục vụ càng lâu, càng thành công thì sự ra đi của ông ấy càng khó khăn. Không còn vị mục sư được yêu mến tất nhiên khiến người ta cảm thấy buồn. Nhưng việc đó không nên gây tổn thương nặng nề như thường thấy. Vậy nên, mỗi mục sư cần làm hết sức để giúp người kế nhiệm và Hội thánh có thể tiếp tục chức vụ cách mạnh mẽ sau khi mình rời đi.

Dưới đây là năm điểm mà các mục sư có thể làm để được điều đó.

1. Suy nghĩ dài hạn – thật dài hạn.

Đối với nhiều mục sư, “dài hạn” nghĩa là tháng tới. Với một số người, đó là kế hoạch 5 hay 10 năm. Nhưng trên thực tế, chúng ta cần suy nghĩ xa hơn thế. Mọi điều mục sư chạm đến – từ cơ sở vật chất, chương trình, môn đồ hóa tín hữu, cho đến tài chính – đều phải tính đến hệ quả lâu dài. Hội thánh đã hiện hữu trước khi bạn đến, và (cần) tiếp tục sau khi bạn rời đi. Hãy chắc chắn rằng di sản chúng ta để lại sẽ là phước hạnh cho những thế hệ sau, dù họ chẳng bao giờ biết đến tên tuổi chúng ta.

2. Đảm bảo rằng người ta theo Chúa Giê-su, không phải theo bạn

Nhiều hội thánh ở phương Tây quá lệ thuộc vào mục sư. Thay vì than phiền, chúng ta cần giúp hội thánh mình bước đi ít phụ thuộc vào chúng ta hơn. Bằng cách nào? Bằng việc chắc chắn rằng mọi điều trong hội thánh đều mang dấu ấn rõ ràng của Chúa Giê-su – chứ không phải của Mục sư, giáo phái, trào lưu mới, truyền thống cũ hay bất cứ điều gì khác.

Điều đó bao gồm (nhưng không giới hạn):

  • Giảng dạy Lời Kinh Thánh, không phải quan điểm cá nhân hay chính trị.
  • Huấn luyện tín hữu biết tự đọc và dạy Kinh Thánh.
  • Ưu tiên chức vụ thực hành hơn là chỉ ngồi nghe.
  • Giúp tín hữu nhận biết và theo đuổi khải tượng của Đức Chúa Trời cho đời sống và hội thánh họ, chứ không chỉ là khải tượng của mục sư.
  • Sống giống Chúa Giê-su hơn, chứ không chỉ biết nhiều về Ngài.

3. Hãy là một trong số những người lãnh đạo, không phải người lãnh đạo duy nhất

Vai trò mục sư ngày nay thường bị nâng cao quá mức, nhưng điều đó không có nghĩa là sự lãnh đạo của con người không quan trọng. Nó vẫn quan trọng. Tuy nhiên, Mục sư nên là một trong những người lãnh đạo, chứ không phải người lãnh đạo duy nhất. Một lý do chính khiến sự chuyển giao mục vụ nguy hiểm là vì nó thường để lại khoảng trống lãnh đạo hoàn toàn khi mục sư rời đi. Nhà lãnh đạo vĩ đại không chỉ sản sinh ra những người đi theo. Nhà lãnh đạo vĩ đại cần sản sinh ra nhiều nhà lãnh đạo khác.

4. Trang bị cho các thánh đồ

Sứ mạng chính của mục sư không phải là làm chức vụ thay cho tín hữu, mà là trang bị họ để làm chức vụ (Ê-phê-sô 4:11-12). Một hội thánh được trang bị sẽ đủ mạnh để vượt qua thử thách của sự chuyển giao mục vụ. Nếu Mục sư đã trung tín trong việc trang bị các thánh đồ, thì càng phục vụ lâu, hội thánh càng được chuẩn bị để tiếp tục chức vụ hiệu quả – dù Mục sư còn ở đó hay không.

5. Bắt đầu ngay hôm nay

Dù bạn đang ở năm cuối hay năm đầu trong chức vụ, không bao giờ là quá sớm hay quá muộn để chuẩn bị hội thánh cho ngày bạn rời đi. Vì thật ra, chẳng ai biết chắc ngày đó sẽ đến sớm thế nào. Thước đo thật sự của sự thành công trong chức vụ mục sư không phải là những việc lớn lao được thực hiện trong nhiệm kỳ, mà là nền tảng di sản để lại cho người khác xây dựng tiếp. Chúng ta cần có sự khiêm nhường để nhớ rằng hội thánh không phải của chúng ta. Dù chức vụ hay thời gian phục vụ có dài bao nhiêu. Hội thánh là của Đấng Christ. Hãy đặt Ngài lên hàng đầu, làm người quản gia trung tín, và trao lại cho thế hệ kế tiếp một hội thánh vững mạnh hơn khi chúng ta nhận nó.

Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc

Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.

Link bài viết gốc: https: Pastoral Transition: Setting Your Church Up For Ministry Success After You’re Gone – KarlVaters.com

admin

“Đề Xuất Dành Cho Bạn”: 5 Giá Trị Mà AI Đang Gợi Ý

Tháng 5 10, 2026/0 Comments/in THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH, Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh /by admin

Không có công nghệ nào là trung lập về mặt giá trị. Mỗi công nghệ đều đi kèm với những “gợi ý” riêng biệt. Công nghệ tránh thai gợi ý rằng tình dục và việc sinh sản không nhất thiết phải gắn liền với nhau. Công nghệ điện thoại thông minh và mạng xã hội gợi ý rằng mọi khía cạnh của đời sống đều có thể được ghi lại, tuyển chọn và phát sóng cho người khác xem. Công nghệ tai nghe chống ồn gợi ý rằng mọi sự gián đoạn đều có thể bị loại bỏ.

Cơ Đốc nhân cần sự khôn ngoan để phân định xem một công nghệ cụ thể đang gợi ý điều gì, đâu là mặt tốt và mặt xấu của những gợi ý ấy, và chúng ta có thể sử dụng công nghệ đó như thế nào để làm vinh hiển Đức Chúa Trời.

Một trong những công nghệ mạnh mẽ nhất mà loài người từng tạo ra là AI tạo sinh (generative AI). Vậy nó đang đưa ra những gợi ý nào?

1. Tốc độ

Các sản phẩm AI hứa hẹn: “Làm nhiều hơn và làm nhanh hơn.” Nhiều người ủng hộ AI nhiệt thành nhất cho rằng công nghệ này có thể thực hiện những điều trước đây dường như bất khả thi—chẳng hạn chữa khỏi ung thư—phần lớn nhờ vào tốc độ xử lý vượt trội của nó.

Các chương trình AI không bao giờ ngủ, không cần nghỉ ngơi, và có thể mở rộng năng lực tính toán đến mức khó tưởng tượng nổi. Ở mức độ ít nghiêm trọng hơn, tốc độ của AI hứa hẹn sẽ giảm tải công việc cho những lao động tri thức bằng cách giúp họ làm việc hiệu quả hơn.

Nhưng thực tế lại không diễn ra như vậy. Vào tháng Hai, tạp chí Harvard Business Review công bố một nghiên cứu theo dõi 200 nhân viên của một công ty Mỹ trong suốt tám tháng. Họ phát hiện rằng: “Các công cụ AI không làm giảm khối lượng công việc; trái lại, chúng liên tục khiến công việc trở nên căng thẳng hơn.” Các nhân viên “làm việc với tốc độ nhanh hơn, đảm nhận phạm vi nhiệm vụ rộng hơn, và kéo dài thời gian làm việc sang nhiều giờ hơn trong ngày, thường là ngay cả khi không được yêu cầu.” Theo thời gian, nhịp độ điên cuồng này có nguy cơ tạo ra “sự mệt mỏi nhận thức, kiệt sức, và suy giảm khả năng ra quyết định.”

Cơ Đốc nhân cần sự khôn ngoan để phân định xem một công nghệ cụ thể đang gợi ý điều gì và làm thế nào để sử dụng công nghệ ấy cho sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.

Trong cuốn sách nhỏ nhưng đầy tính thách thức The Burnout Society [Một Xã Hội Kiệt Sức], Byung-Chul Han cho rằng trước đây đời sống của chúng ta từng được định nghĩa bởi từ phải—như khi một thẩm quyền nào đó bảo chúng ta điều mình bắt buộc phải làm. Nhưng giờ đây, đời sống được định nghĩa bởi từ có thể. “Bạn có thể trở thành bất cứ ai bạn muốn!” Từ phải hàm ý giới hạn, còn từ có thể thì vô hạn, bởi vì bạn luôn có thể làm nhiều hơn nữa.

Nhưng theo Han, chính sự tự do không giới hạn ấy lại tạo ra một xã hội đầy trầm cảm và kiệt sức. Ông viết: “Lời than phiền của một người trầm cảm rằng ‘Không điều gì là khả thi’ chỉ có thể xuất hiện trong một xã hội tin rằng ‘Không điều gì là bất khả thi.’”

Gợi ý mà công nghệ AI mang đến gần như đang thì thầm với chúng ta rằng: “Không có gì là không thể; không tồn tại giới hạn.” Nhưng bản tính con người vốn có giới hạn.

Khi sử dụng AI, những Cơ Đốc nhân tìm kiếm sự khôn ngoan không nên hỏi: “Làm sao để tôi sản xuất được nhiều nhất có thể?” Thay vào đó, họ nên hỏi: “Tôi sẽ sử dụng điều này như thế nào để phù hợp với những giới hạn của thân phận tạo vật của mình?”

2. Mô phỏng

Năm ngoái, tờ Chicago Sun-Times đã đăng một danh sách sách đọc mùa hè. Nhưng người ta nhanh chóng phát hiện rằng nhiều cuốn sách trong danh sách ấy thực ra không hề tồn tại. Tác giả của bài viết đã dùng AI để tạo danh sách, và AI đã “ảo giác” ra những cuốn sách không có thật. Điều này giống như một lời cảnh báo đáng ngại: Có bao nhiêu nhà báo hiện nay thực chất chẳng viết gì ngoài một câu lệnh cho ChatGPT?

Đã từng có lúc hình ảnh do AI tạo ra rất dễ nhận biết, nhưng giờ đây không còn như vậy nữa. Video, âm thanh, hình ảnh và văn bản do AI dựng nên đang được cải thiện mỗi ngày. Một tương lai rất gần và hoàn toàn thực tế là phần lớn nội dung trên internet sẽ là những mô phỏng do AI tạo ra, thay vì tác phẩm của con người.

Một trong những gợi ý mà AI tạo sinh mang lại là một sự chấn động về nhận thức luận. Trong một thế giới mà gần như mọi thông tin đều đến với chúng ta qua truyền thông kỹ thuật số, làm sao chúng ta biết điều mình đang nhìn, nghe hay đọc là thật?

Một Cơ Đốc nhân tìm kiếm sự khôn ngoan trong thế giới đầy màn hình và hình ảnh do AI dựng nên sẽ phải trở nên hoài nghi hơn nhiều đối với các “bằng chứng” kỹ thuật số, đồng thời phụ thuộc nhiều hơn vào đời sống hữu hình và hiện thân thực tế.

3. “Rác nội dung” (Slop)

Hãy tưởng tượng rằng dù bạn ăn bao nhiêu bánh Doritos đi nữa, bạn vẫn không bao giờ thấy no. Và rồi hãy tưởng tượng rằng bạn có thể “ăn” Doritos chỉ bằng cách nhìn chúng. Sau đó, hãy tưởng tượng có một người luôn đi theo bạn khắp nơi với nguồn cung Doritos vô tận. Điều gì sẽ xảy ra với sức khỏe của bạn?

May mắn thay, đồ ăn vặt không hoạt động như vậy—Hank Green và Cal Newport giải thích—nhưng “thông tin rác” thì có.

Sự chú ý của chúng ta rất quý giá nhưng cũng rất dễ bị chiếm đoạt bởi những điều gây sốc, kích động và kỳ quái. Tạ ơn Chúa vì đời sống thực chỉ có giới hạn những điều lạ lùng và ngoạn mục. Nhưng điều gì xảy ra nếu bạn không còn bị giới hạn bởi thực tại? Nếu bạn có thể tạo ra vô hạn bất cứ thứ gì tưởng tượng được chỉ bằng một cái búng tay?

Kết quả là một internet tràn ngập “rác nội dung”: những điều điên rồ, gây phẫn nộ, lệch lạc và như trong mơ—một chuỗi vô tận các “tai nạn tàu hỏa” để thu hút những ánh mắt tò mò. Chúng ta biết điều đó không tốt cho mình, nhưng “vị Doritos” lại quá hấp dẫn. Chúng ta trở nên giống điều mình chăm chú nhìn ngắm. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu phần lớn những gì chúng ta nhìn ngắm đều vô nghĩa?

Một Cơ Đốc nhân khôn ngoan khi sử dụng AI sẽ cố gắng phát triển khả năng thẩm định thẩm mỹ đủ sâu sắc để tránh xa những nội dung làm mục rữa tâm trí, và tập trung vào những điều nuôi dưỡng linh hồn và chân thật. Người ấy sẽ thiết lập những ranh giới để không cuộn xem vô tận cho đến kiệt quệ.

4. Sự xu nịnh

AI được thiết kế để hữu ích—hữu ích đến mức người dùng muốn quay lại sử dụng nó nhiều lần nữa. Chính vì định hướng “phục vụ” này mà AI thường quá mức trong việc khen ngợi, tâng bốc và đồng tình, ngay cả khi bạn sai.

AI quá muốn đưa ra câu trả lời cho yêu cầu của bạn đến nỗi nó sẵn sàng cung cấp những nửa sự thật hoặc các giải pháp mơ hồ thay vì đơn giản nói rằng: “Tôi không thể giúp bạn về việc này.” Điều này được gọi là “sự xu nịnh của AI” (AI sycophancy)—khi chatbot ưu tiên việc làm hài lòng người dùng hơn là tính chính xác của sự thật.

Khuynh hướng này thường củng cố những thiên kiến sai lầm của bạn. Ví dụ, nếu bạn đang bất hòa với một người bạn và tải toàn bộ email trao đổi lên ChatGPT để hỏi ai đúng, gần như chắc chắn AI sẽ đứng về phía bạn. AI sẽ đi theo định hướng, thành kiến và điều mà nó cho là ý định của bạn—đôi khi đến mức phi lý.

Theo thời gian, một số người dùng hình thành mối gắn bó cực đoan với những chatbot luôn khẳng định và đồng tình với họ. Hiện tượng này được gọi là “loạn thần do AI” (AI psychosis), khi con người tin rằng họ đang yêu chatbot của mình, đang giao tiếp với các thực thể tâm linh, hoặc cần làm hại người khác hay tự sát vì “người bạn AI” đã khuyến khích họ làm vậy.

Những Cơ Đốc nhân khôn ngoan khi sử dụng AI sẽ nhận thức được xu hướng xu nịnh này và sẽ không dùng AI như một nhà trị liệu hay một trọng tài khách quan của thực tại, mà đúng hơn như một chiếc máy tính với những ứng dụng kỹ thuật giới hạn.

5. Sự lười biếng

Phần lớn các sản phẩm AI quảng bá chính mình như một phương tiện giúp bạn thoát khỏi những điều mình không thích. Không thích viết email hàng tuần? Không thích sửa mã của một lập trình viên trẻ? Đang vật lộn với bí ý tưởng khi viết? AI có thể xử lý tất cả điều đó.

Nhưng Wyatt Graham đã rất hữu ích khi nhắc chúng ta về một châm ngôn cho thời đại AI: “Chỉ tự động hóa những kỹ năng mà bạn sẵn sàng đánh mất.”

Khi còn nhỏ, có lẽ bạn nhớ số điện thoại của tất cả bạn bè mình. Còn bây giờ thì sao? Có lẽ là không. Bạn có điện thoại ghi nhớ giúp mình. Đó là một kỹ năng mà hầu hết chúng ta xem là không còn quá quan trọng.

Chúng ta nên cẩn trọng với những gì mình tự động hóa. Kỹ năng nào không được sử dụng sẽ dần mai một. Nếu bạn dùng AI để viết bản thảo đầu tiên của một cuốn sách hoặc chuẩn bị một bài thuyết trình bán hàng, theo thời gian bạn có thể nhận ra mình không còn làm được những việc đó nếu thiếu AI hỗ trợ. Khi ấy, sự sáng tạo của bạn sẽ không bao giờ vượt cao hơn mức trung bình mang tính thuật toán mà các công cụ này cung cấp.

Những Cơ Đốc nhân khôn ngoan sử dụng AI sẽ cân nhắc cẩn thận xem kỹ năng nào họ sẵn sàng để mai một, kỹ năng nào là thiết yếu đối với nhân tính của mình, và kỹ năng nào khiến công việc cũng như đời sống trở nên phong phú—dù đôi lúc chúng có thể nhàm chán và khó nhọc.

Những Gợi Ý Tích Cực Cũng Có

Tôi đã nhấn mạnh những gợi ý tiêu cực mà AI mang lại, nhưng điều đó không có nghĩa là không tồn tại những gợi ý tích cực. AI mở ra những phương thức mới cho sự sáng tạo, thử nghiệm, cộng tác và khởi nghiệp—những điều có tiềm năng lớn để làm phong phú đời sống.

Những lợi ích tiềm năng ấy là có thật và không nên bị xem nhẹ, ngay cả bởi những người phê bình thận trọng nhất. Nhưng liệu những gợi ý tích cực của AI có vượt trội hoặc đủ để làm giảm nhẹ các tác động tiêu cực mà tôi đã đề cập ở trên hay không?

Đó là một câu hỏi của sự khôn ngoan—điều mà tất cả chúng ta sẽ cần nhiều hơn bao giờ hết khi cuộc cách mạng công nghệ đang tăng tốc này tiếp tục mở ra.

Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc

Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.

Link gốc bài viết: ‘Suggested for You’: 5 Values AI Suggests

admin

NGÀY CHỦ NHẬT CỦA CÁC MỤC SƯ

Tháng 4 17, 2026/0 Comments/in Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh, THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH /by admin

Buổi sáng Chúa Nhật.

Bạn đến sớm hôm nay. Có thể lúc 7 giờ sáng. Có thể sớm hơn. Trước khi bất kỳ ai bước qua cánh cửa, bạn đã có mặt. Bạn bật đèn. Bạn chỉnh nhiệt độ cho phù hợp. Bạn sắp xếp ghế ngay ngắn. Bạn kiểm tra phòng vệ sinh. Nếu có tuyết, bạn xúc tuyết. Nếu gió thổi rác vương vãi trên lối đi, bạn nhặt lên. Bạn rà soát kỹ lưỡng tòa nhà vì bạn quan tâm đến từng chi tiết.

Bạn xem lại bài giảng một lần nữa. Chỉnh sửa một câu. Bỏ đi một đoạn. Thêm một lời cầu nguyện. Bạn cầu xin Chúa thêm một lần nữa để giúp bạn rao truyền về Chúa Giê-su cách rõ ràng và trung tín.

Vợ bạn cũng gánh phần việc của mình. Chị đánh thức các con. Tìm chiếc giày bị mất. Điều chỉnh tâm trạng. Chải tóc. Vượt qua căng thẳng buổi sáng thường xuất hiện khi mọi người đều cố gắng “chuẩn bị” cho giờ nhóm. Chị gánh vác gánh nặng vô hình với sức mạnh và ân điển.

Cả hai bạn không bước vào ngày hôm nay với đôi tay trống rỗng. Bạn mang theo dư âm của một tuần làm việc dài. Bốn mươi giờ, Có thể nhiều hơn. Hạn chót, Các cuộc họp, Quản lý, Khách hàng. Những trách nhiệm không biến mất chỉ vì bạn cũng là mục sư. Thứ Bảy không phải là ngày nghỉ; nó là những việc vặt, bổn phận gia đình, và hoàn tất những gì còn dang dở.

Thế nhưng—bạn đã đến với đức tin. Bạn giảng một lần, có thể hai lần, bạn cầu nguyện với tín hữu, bạn lắng nghe những gánh nặng nơi tiền sảnh nhà thờ. Bạn bắt tay, bạn mỉm cười dù mệt mỏi. Bạn chịu đựng những lời phê bình không đáng, bạn khích lệ những tình nguyện viên đang kiệt sức. Bạn cố gắng nhớ tên mọi người. Bạn trao ra những gì mình có.

Bạn đã nỗ lực để đem Chúa Giê-su đến cho mọi người.

Và giờ là tối Chúa Nhật.

Các con đang chuẩn bị ba lô. Bài tập được kiểm tra lại. Quần áo được sắp sẵn cho ngày mai. Lịch trình mở ra trên bàn bếp. Bạn lặng lẽ suy ngẫm về ngày hôm nay—điều gì tốt, điều gì chưa, ai đã đáp ứng, ai còn xa cách, ai cần thêm thời gian. Bạn mệt mỏi.

Cảm Ơn Mục Sư

Sự mệt mỏi này khác biệt. Không chỉ là thể xác, nó là cảm xúc, là thuộc linh, là sự mệt mỏi của người lãnh đạo. Nó đến từ việc bạn dốc hết chính mình.

Vậy nên, xin hãy nghe rõ tối nay:

Cảm ơn bạn.

  • Cảm ơn vì đã ban ra vượt quá sự trao ban ra.
  • Cảm ơn vì đã yêu thương vượt quá sự yêu thương.
  • Cảm ơn vì đã đưa tay giúp đỡ khi tưởng chừng không còn sức để giúp.
  • Cảm ơn vì đã ở lại ngay cả khi mọi việc không diễn ra như bạn mong đợi.
  • Cảm ơn vì đã rao giảng lẽ thật mà không hối lỗi.
  • Cảm ơn vì đã mở cửa mỗi tuần, dù chỉ mười người hay cả trăm người đến.

Bạn đã có thể chọn một con đường dễ dàng hơn. Bạn hoàn toàn có thể quyết định rằng áp lực của việc làm hai công việc cùng lúc là không đáng. Bạn hoàn toàn có thể để sự nản chí lấn át mình. Bạn hoàn toàn có thể bảo vệ thời gian, năng lượng và sự thoải mái của bản thân.

Nhưng bạn đã không làm vậy. Bạn đã vâng theo tiếng gọi.

Tiếng Gọi

Ở mức căn bản nhất, đây chính là một tiếng gọi. Không phải sở thích, không phải dự án phụ. không phải nền tảng cá nhân. Một tiếng gọi, một điều được khắc sâu trong tâm linh bạn, không cho phép bạn quay lưng.

Nếu ai đó đưa cho bạn một con đường khác vào ngày mai – nhiều tiền hơn, ít áp lực hơn, ít cuộc họp muộn hơn – có lẽ bạn vẫn sẽ trăn trở. Bởi vì tiếng gọi không liên quan đến sự tiện lợi mà liên quan đến sự vâng phục.

Bạn có thể không thấy hết mọi kết quả. Bạn có thể không nghe hết mọi câu chuyện. Bạn có thể chẳng bao giờ biết một bài giảng, một lời cầu nguyện, một lần thăm bệnh, hay một cuộc trò chuyện đã âm thầm thay đổi cõi đời đời của ai đó.

Nhưng thiên đàng nhìn thấy điều đó.

Nước Đức Chúa Trời được xây dựng ở những nơi mà hầu hết người ta sẽ chẳng bao giờ viết sách về điều đó. Nó được xây dựng trong những phòng nhóm với ghế không đồng bộ. Trong những nhà thờ nơi hệ thống âm thanh đôi khi rè rẹt. Trong những thị trấn nơi ai cũng biết tên bạn—và cả điểm yếu của bạn. Nó được xây dựng bởi các mục sư và vợ họ, những người lặng lẽ tiếp tục nói “vâng”.

Bạn là một trong số đó. Và tối nay tôi tôn vinh bạn—không phải vì sự hoàn hảo, không phải vì thành tích, không phải vì giá trị sản xuất—mà vì sự trung tín.

Sự kiên định của bạn có giá trị. Sự vâng phục của bạn có giá trị. Những hy sinh thầm lặng của bạn có giá trị.

Hãy nghỉ ngơi tối nay với sự chắc chắn này: công khó của bạn trong Chúa không vô ích. Bạn không bị lãng quên. Bạn không vô nghĩa. Bạn không đơn độc. Bạn được gọi.

Và lời “vâng” của bạn vẫn đang vang xa hơn những gì bạn có thể thấy.

Tác giả: Kevin Wells

Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc

Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.

Link bài viết gốc: https://karlvaters.com/sunday-night-gratitude/

admin

13 NGUYÊN TẮC ĐẠO ĐỨC MỤC VỤ THIẾT YẾU

Tháng 4 6, 2026/0 Comments/in Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh, THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH /by admin

Các mục sư và người lãnh đạo hội thánh mang trọng trách lớn lao, vừa là người hướng dẫn thuộc linh vừa là tấm gương đạo đức cho hội chúng. Việc giữ vững đạo đức mục vụ và sự liêm chính là điều thiết yếu để duy trì sự tin cậy, lãnh đạo cách hiệu quả và hoàn thành sự kêu gọi của Đức Chúa Trời. Cam kết với đạo đức mục vụ bảo đảm rằng người lãnh đạo hội thánh phản chiếu bản tính của Đấng Christ trong mọi khía cạnh của chức vụ.

Tầm Quan Trọng Của Đạo Đức Mục Vụ Và Sự Liêm Chính

Đạo đức mục vụ và sự liêm chính là nền tảng cho một chức vụ phát triển. Người lãnh đạo Hội thánh được giao phó trách nhiệm hướng dẫn người khác trong đức tin, khuyên bảo, và đại diện cho các giá trị Kinh Thánh trong đời sống cá nhân cũng như chức vụ. Những sai phạm đạo đức có thể dẫn đến mất lòng tin, rạn nứt mối quan hệ, và gây tổn hại cho cộng đồng Hội thánh. Vì vậy, Mục sư phải kiên định trong việc giữ gìn nhân cách thánh khiết, minh bạch và chịu trách nhiệm.

1. Cam Kết Với Lẽ Thật Kinh Thánh

    Trách nhiệm đạo đức đầu tiên của mục sư là giữ vững lẽ thật của Lời Đức Chúa Trời: giảng dạy giáo lý vững chắc, tránh sự sai lạc, và để nguyên tắc Kinh Thánh hướng dẫn mọi quyết định và hành động. Cam kết với lẽ thật bảo vệ sự liêm chính của Hội thánh và củng cố đức tin của tín hữu.

    2. Liêm Chính Trong Lời Nói Và Hành Vi

    Người lãnh đạo hội thánh phải làm gương về sự chân thật và liêm chính trong lời nói cũng như hành động. Dù trong trò chuyện riêng tư, giảng dạy công khai, hay giao tiếp xã hội, cách cư xử của mục sư phải phản ánh sự chân thành, khiêm nhường và trung thực. Liêm chính xây dựng sự tin cậy và uy tín trong hội chúng.

    3. Minh Bạch Trong Quản Lý Tài Chính

    Quản lý tài chính hội thánh cách trung thực và có trách nhiệm là một bổn phận đạo đức quan trọng. Mục sư phải bảo đảm rằng các khoản dâng hiến, tiền một phần mười và đóng góp được sử dụng khôn ngoan, với sổ sách rõ ràng và quyết định đúng đắn. Minh bạch ngăn ngừa tai tiếng tài chính và củng cố niềm tin nơi sự lãnh đạo.

    4. Tôn Trọng Sự Bảo Mật

    Mục sư thường khuyên bảo những người đang đối diện khó khăn cá nhân và thuộc linh. Giữ kín thông tin là điều cần thiết để tạo không gian an toàn, nơi tín hữu có thể tìm kiếm sự hướng dẫn mà không sợ bị lộ. Dù có những ngoại lệ pháp lý và đạo đức, sự thận trọng luôn phải được ưu tiên.

    5. Trung Tín Trong Hôn Nhân Và Gia Đình

    Đời sống cá nhân của mục sư ảnh hưởng trực tiếp đến chức vụ. Lãnh đạo đạo đức bao gồm việc giữ gìn hôn nhân, ưu tiên mối quan hệ gia đình, và làm gương thánh khiết cho hội chúng. Giá trị gia đình vững chắc củng cố uy tín và minh chứng tầm quan trọng của nguyên tắc Kinh Thánh trong đời sống hằng ngày.

    6. Chịu Trách Nhiệm Trước Lãnh Đạo Hội Thánh Và ĐồngNghiệp

    Mục sư không nên phục vụ trong sự cô lập. Tìm kiếm lời khuyên từ trưởng lão, người cố vấn và những người đồng công giúp mục sư đi đúng đường. Sự chịu trách nhiệm giữ cho mục sư khiêm nhường, sẵn sàng sửa đổi và cam kết tăng trưởng thuộc linh liên tục.

    7. Lãnh Đạo Cách Nhân Từ Và Công Chính

    Đạo đức mục vụ đòi hỏi đối xử với mọi người bằng phẩm giá, công bằng và tôn trọng. Điều này bao gồm giải quyết xung đột cách khôn ngoan, tránh thiên vị, và bảo đảm rằng chính sách hội thánh phản ánh tình yêu của Đấng Christ dành cho mọi người. Lãnh đạo đạo đức nuôi dưỡng văn hóa hiệp nhất và ân điển.

    8. Tránh Lạm Dụng Quyền Lực

    Trách nhiệm lớn đi kèm với cám dỗ lạm dụng quyền lực. Mục sư phải cảnh giác trước sự thao túng, ép buộc, hay bất kỳ hình thức lạm dụng thuộc linh, cảm xúc hoặc thể chất. Lãnh đạo thật sự bắt nguồn từ tinh thần phục vụ, theo gương khiêm nhường và yêu thương của Đấng Christ.

    9. Khích Lệ Sự Thánh Khiết Và Tăng Trưởng Cá Nhân

    Mục sư phải theo đuổi sự thánh khiết cá nhân qua cầu nguyện, học Lời Chúa và kỷ luật thuộc linh. Khích lệ hội chúng tăng trưởng trong đức tin đòi hỏi phải làm gương. Đời sống thuộc linh của mục sư ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chăn dắt người khác cách hiệu quả.

    10. Cam Kết Với Công Lý Chủng Tộc Và Xã Hội

    Hội thánh được kêu gọi phản chiếu tấm lòng công chính và hiệp nhất của Đức Chúa Trời. Mục sư phải đứng lên chống lại sự phân biệt, bênh vực người yếu thế, và thúc đẩy văn hóa bao dung trong Hội thánh. Lãnh đạo đạo đức ôm lấy sự đa dạng và giữ vững công lý Kinh Thánh.

    11. Quyết Định Khôn Ngoan Và Đạo Đức

    Mọi quyết định của Mục sư phải phù hợp với nguyên tắc Kinh Thánh và tiêu chuẩn đạo đức. Dù là chính sách hội thánh, xử lý xung đột, hay chọn lựa lãnh đạo, sự khôn ngoan và liêm chính phải hướng dẫn hành động. Tìm kiếm sự dẫn dắt qua cầu nguyện và lời khuyên giúp bảo đảm phán đoán đúng đắn.

    12. Giữ Gìn Trước Cám Dỗ

    Mục sư, cũng như mọi tín hữu, đối diện với cám dỗ. Lãnh đạo đạo đức bao gồm việc chủ động đặt ranh giới để tránh tình huống dễ sa ngã, như chịu trách nhiệm trong các mối quan hệ, sử dụng mạng xã hội cách khôn ngoan, và tự chủ trong thói quen cá nhân. Nhận biết và xử lý điểm yếu giúp duy trì sự liêm chính.

    13. Tấm Lòng Tôi Tớ

    Trên hết, mục sư phải lãnh đạo với tấm lòng phục vụ. Lãnh đạo đạo đức thật sự không phải về quyền lực hay danh vọng, mà là khiêm nhường phục vụ Đức Chúa Trời và người khác. Chúa Giê-su đã nêu gương tối thượng về lãnh đạo phục vụ, và mọi người lãnh đạo hội thánh được kêu gọi bước theo dấu chân Ngài.

    Giữ vững đạo đức mục vụ và sự liêm chính là điều thiết yếu cho một chức vụ trung tín và hiệu quả. Người lãnh đạo hội thánh phải kiên định với lẽ thật Kinh Thánh, sự thánh khiết cá nhân, minh bạch tài chính và lãnh đạo đầy nhân ái. Bằng đời sống liêm chính, mục sư xây dựng sự tin cậy trong hội chúng, tôn vinh sự kêu gọi, và làm sáng danh Đức Chúa Trời qua sự phục vụ. Lãnh đạo đạo đức không phải là tùy chọn—đó là nền tảng của một chức vụ mạnh mẽ, đặt trọng tâm nơi Đấng Christ.

    Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc

    Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.

    Link gốc bài viết: 13 Pastoral Ethics That Every Church Leader Must Uphold

    admin

    THU HÚT ĐÁM ĐÔNG CÓ KHIẾN VIỆC MÔN ĐỒ HÓA TRỞ NÊN KHÓ HƠN KHÔNG?

    Tháng 3 27, 2026/0 Comments/in THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH, Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh /by admin

    Chạy theo đám đông chưa bao giờ là cách của Chúa Giê-su. Đứng riêng ra khỏi đám đông? Đó mới thật là Giê-su.

    Thu hút một đám đông đến nhà thờ có thể không phải là cách tốt nhất để khởi đầu hành trình môn đồ hóa. Thực tế, điều đó có thể làm tổn hại nỗ lực môn đồ hóa nhiều hơn là giúp ích.

    Khi một người lần đầu (và lần thứ hai, thậm chí lần thứ một trăm) tiếp xúc với Phúc Âm trong tư cách là một thành viên của đám đông, họ dễ có nhận thức lệch lạc về công tác môn đồ hóa. Họ bắt đầu nghĩ rằng Cơ Đốc giáo chỉ là việc làm khán giả thụ động, tiêu thụ và phán xét nội dung tôn giáo. Khi chúng ta cố gắng chuyển từ điều đó sang môn đồ hóa, người ta có thể cảm thấy như chúng ta đang chơi trò “treo đầu dê, bán thịt chó.”

    Cách Tôi Được Dạy

    Trong hầu hết các khóa huấn luyện mục vụ mà tôi từng tham gia, tư duy chủ đạo thường như sau:

    • Làm bất cứ điều gì cần thiết để thu hút một đám đông
    • Nhân cơ hội đó để rao giảng Phúc Âm một cách thuyết phục
    • Biết rằng một tỷ lệ lớn trong đám đông sẽ không quay lại, nhưng…
    • Nếu đám đông đủ lớn, phần trăm nhỏ ở lại cũng đủ để phát triển hội thánh
    • Những người ở lại có thể được môn đồ hóa

    Nhưng cách này không chỉ không phải là phương pháp tốt nhất để tạo môn đồ, mà còn dễ đẩy người ta xa môn đồ hóa hơn là đưa họ đến gần.

    Chúa Giê-su Và Đám Đông

    Dựa vào đám đông để tuyển chọn một vài người tin và môn đồ có quá nhiều vấn đề. Nhưng có lẽ vấn đề lớn nhất là: cách làm đó thực sự ngược lại với cách Chúa Giê-su đã làm.

    Chúa Giê-su đã không bắt đầu với đám đông rồi lọc ra một nhóm cốt lõi. Ngài gọi một nhóm nhỏ, môn đồ hóa họ, rồi sai họ ra đi khắp thế gian.

    Đúng là sự giảng dạy của Chúa Giê-su thu hút đám đông. Nhưng không phải vì Ngài cố tình làm vậy. Bằng chứng cho thấy Ngài thậm chí còn tránh điều đó.

    Ví dụ, như tôi đã viết trong cuốn The Grasshopper Myth [Thần Thoại Châu Chấu]: “Lý do Chúa Giê-su phải làm phép lạ để nuôi 5.000 người là vì họ đang ở nơi hoang vắng (Mác 6:30-40), nơi Ngài đã đến để tránh đám đông.”

    Nếu sứ mạng của Chúa Giê-su là tìm và cứu kẻ lạc mất, chẳng lẽ Ngài không muốn thu hút càng nhiều người càng tốt sao? Và chẳng phải càng đông thì càng tốt sao? Nghe có vẻ hợp lý, phải không? Nhưng thực tế thì không.

    Chúa Giê-su dường như xem đám đông là trở ngại cho môn đồ hóa, chứ không phải điểm khởi đầu mong muốn.

    Vấn Đề Không Phải ở Quy Mô, Mà Là Thứ Tự Ưu Tiên

    Điều này không liên quan đến kích cỡ của đám đông, mà liên quan đến lối tư duy đặt việc tụ tập đám đông thành ưu tiên hàng đầu.

    Chúa Giê-su không ưu tiên đám đông, Ngài ưu tiên những con người trong đó. Đó là hai điều khác nhau.

    Vậy tại sao chúng ta lại rơi vào cái bẫy nghĩ rằng thu hút đám đông là cách tốt nhất để bắt đầu quá trình môn đồ hóa? Đây là bởi:

    • Thói quen?
    • Truyền thống?
    • Thói thích trình diễn?
    • Cái tôi?

    Có lẽ là sự kết hợp của tất cả, cộng thêm vài yếu tố khác nữa.

    Đám Đông Không Đáng Tin

    Chúa Giê-su biết rõ con người. Và Ngài yêu họ. Ngài cũng biết rõ đám đông. Và Ngài không tin vào đám đông (Giăng 2:23-24).

    Rất dễ dàng để tụ tập và mua vui cho một đám đông, nhưng người ta cũng có thể quay lưng lại với bạn trong chớp mắt.

    Chúa Giê-su không tin tưởng đám đông đến mức bất cứ khi nào các môn đồ, thậm chí anh em Ngài, gợi ý Ngài tận dụng đám đông để có quyền lực, Ngài đều từ chối (Giăng 7:1-10).

    Ngài không xem đám đông là khối người để khai thác. Ngài nhìn thấy từng cá nhân trong đó như “chiên không có người chăn” (Ma-thi-ơ 9:36).

    Đám đông thường khiến Chúa Giê-su khóc hơn là vui mừng.

    Ngài giảng dạy cho đám đông. Nhưng Ngài môn đồ hóa từng người. Theo nhóm nhỏ, chứ không phải tập thể đông người. Bởi vì đó mới là cách công tác môn đồ hóa hoạt động.

    Môn Đồ Hóa cách Chậm Rãi, Nhỏ Bé

    Chúng ta không được gọi để tụ tập đám đông, mà được gọi để môn đồ hóa con người.

    Môn đồ hóa là chậm rãi. Và nhỏ bé. Đó là việc thu hẹp trọng tâm, chứ không phải mở rộng thương hiệu. Là xây dựng mối quan hệ, chứ không phải giải trí cho đám đông.

    Tác giả: Karl Vaters.

    Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc

    Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.

    Link gốc bài viết: Does Attracting A Crowd Make Discipleship Harder? – KarlVaters.com

    admin

    CÓ NÊN KÊU GỌI NGƯỜI TA TIẾP NHẬN CHÚA TRONG BUỔI NHÓM TRUYỀN GIẢNG?

    Tháng 3 20, 2026/0 Comments/in Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh, THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH /by admin

    Ưu điểm của thực hành kêu gọi tiếp nhận Chúa.

    Khi được thực hiện đúng cách, lời kêu gọi thân hữu tiến lên tiếp nhận Chúa chắc chắn có nhiều ưu điểm. Trước hết, chúng nhắc nhở người nghe rằng Tin Lành đòi hỏi một sự đáp ứng. Như Billy Graham từng nói: “Bạn không thể trả lời Đức Chúa Trời rằng “có thể”. Phải là ‘có’ dứt khoát hoặc ‘không’ dứt khoát.” Khi lời kêu gọi được thực hiện đúng cách, người chưa tin được mời gọi đặt lòng tin nơi Đấng Christ là con đường duy nhất để vào thiên đàng. Vấn đề là đáp ứng với Đấng Christ, chứ không phải với người giảng. Người nghe hiểu rằng tin nhận Ngài là nhận lấy sự ban cho miễn phí về sự sống đời đời, còn từ chối Ngài là từ chối món quà ấy.

    Ngoài ra, khi một người đáp ứng lời kêu gọi, họ đứng ngay trước mặt bạn. Trong tất cả các phương pháp mời gọi, đây là cách dễ nhất để tiếp xúc trực tiếp một-một. Bạn không yêu cầu họ gặp bạn ở phòng khác sau buổi nhóm (mà họ có thể không tìm thấy), cũng không hẹn vào lúc khác (mà họ có thể quên). Thay vào đó, bạn nói: “Hãy đến gặp tôi ngay bây giờ.” Nhờ vậy, bạn có thể trò chuyện trực tiếp với họ ngay lập tức hoặc sau khi họ được hướng dẫn sang phòng bên cạnh.

    Một lợi ích khác là tác động đến những người nghe khác. Khi một người chưa tin thấy ai đó bước lên, bày tỏ nhu cầu tiếp nhận Đấng Christ, họ có thể nghĩ: “Nếu người kia không ngại thừa nhận nhu cầu của mình, thì tại sao tôi lại phải ngại?” Người đáp ứng sẽ khích lệ những người khác cũng bước lên.

    Vấn đề với lời kêu gọi tiếp nhận Chúa

    Tuy nhiên, có những tình huống và lý do khiến việc thực hiện lời kêu gọi người ta tiếp nhận Chúa không chỉ sai lầm mà còn là xúc phạm Đức Chúa Trời.

    1. Khi lời kêu gọi được xem là điều kiện để được cứu: Đây là lý do nghiêm trọng nhất. Một nhà truyền giảng trên truyền hình từng tuyên bố: “Có hai điều kiện để được cứu—một là đến với Đấng Christ, hai là bước lên phía trước.” Ông còn nhấn mạnh rằng nếu ai không bước lên thì không thể đến với Đấng Christ.

    Nguyện Đức Chúa Trời thương xót người ấy—ông đã thay đổi điều kiện của Tin Lành. Chúa Giê-xu phán rất đơn giản: “Quả thật, quả thật, Ta nói cùng các ngươi, ai tin Ta thì được sự sống đời đời.” (Giăng 6:47). Không hề có một lời nào về việc phải bước lên phía trước. Nếu lời kêu gọi là điều kiện thiết yếu để được cứu, chúng ta sẽ gặp hai vấn đề lớn:

    • Thứ nhất, điều đó có nghĩa là tên trộm trên thập tự giá, trái với lời tuyên bố của Chúa, đã xuống địa ngục. Ông không thể “bước lên phía trước”; nhưng ngay trên thập tự, ông đã thừa nhận Chúa Giê-xu là Đấng Ngài phán. Chúa Giê-xu đã yêu thương đảm bảo với ông: “Hôm nay ngươi sẽ ở với Ta trong nơi Thiên Đàng.” (Lu-ca 23:43).

    Trong Giăng 12:42, Kinh Thánh chép: “Tuy nhiên, có nhiều người trong hàng lãnh đạo tin Ngài, nhưng vì người Pha-ri-si, nên họ không dám xưng nhận Ngài, sợ bị đuổi khỏi nhà hội.” Cụm từ “tin Ngài” là cách Giăng mô tả sự cứu rỗi trong suốt sách Tin Lành Giăng (xem Giăng 3:16, 3:18, 3:36, 5:24, 6:35, 6:40, 6:47). Những nhà lãnh đạo Do Thái này đã thật sự tin cậy Đấng Christ, nhưng họ sợ bị khai trừ khỏi nhà hội nên không công khai xưng nhận Ngài. Điều này cho thấy tin cậy Đấng Christ (tin Ngài) là vấn đề riêng biệt với việc công khai xưng nhận Ngài.

    Có người hỏi: “Thế còn Rô-ma 10:9-10 thì sao?” Ở đó chép: “Vậy nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Giê -xu ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu; vì tin bởi trong lòng mà được sự công-bình, còn bởi miệng làm chứng mà được sự cứu-rỗi.” Văn mạch cho thấy “được cứu” ở đây không phải là cứu khỏi sự hư mất đời đời, mà là cứu khỏi hậu quả của tội lỗi trong đời sống hiện tại. Sự công chính đến từ việc tin trong lòng (Rô-ma 5:1), còn sự xưng nhận bằng miệng liên quan đến việc sống đời sống Cơ Đốc đắc thắng.

    Điểm mấu chốt: Một người trở thành Cơ Đốc nhân chỉ bằng cách tin cậy Đấng Christ. Nhưng để kinh nghiệm sự đắc thắng trước tội lỗi, người ấy cần sẵn sàng công khai xưng nhận Ngài. Việc xưng nhận không phải là điều kiện để được xưng công chính, mà là điều kiện để sống đời sống Cơ Đốc đắc thắng.

    2. Khi lời kêu gọi tạo điều kiện cho thói thiếu trung thực và thao túng: Ví dụ, một mục sư khích lệ hội chúng bằng cách nói: “Chúng ta sẽ hát thêm hai câu nữa của bài ‘Just as I Am’ (hoặc một bài thánh ca mời gọi khác).” Nhưng thực tế lại hát thêm năm câu. Hoặc mục sư nói: “Nếu hôm nay bạn muốn tin cậy Đấng Christ, chỉ cần giơ tay lên. Đó là tất cả điều tôi sẽ yêu cầu bạn làm.” Sau đó, những người giơ tay lại được thúc giục: “Bây giờ tôi mời bạn bước ra lối đi và tiến lên phía trước. Tôi sẽ chờ bạn ở đây.” Khoan đã, chẳng phải mục sư vừa nói chỉ cần giơ tay thôi sao? Lời kêu gọi theo cách này trở thành dịp cho sự thiếu trung thực và thao túng.

    Gia-cơ 5:12 khuyên: “ Hỡi anh em, trước hết chớ có thề, chớ chỉ trời, chỉ đất, cũng chớ chỉ vật khác mà thề; nhưng phải thì nói phải, không thì nói không, hầu cho khỏi bị xét-đoán..” Nghĩa là hãy nói đúng điều mình muốn nói và giữ đúng lời mình nói. Đừng để một điều có thể hữu ích như lời kêu gọi trở thành nơi thiếu sự chân thật. Nếu bạn nói: “Chúng ta sẽ hát thêm một câu nữa,” thì chỉ hát một câu. Nếu bạn chỉ yêu cầu một điều, thì đừng yêu cầu thêm điều thứ hai.

    3. Khi lời kêu gọi được xem là cách duy nhất

    Lời kêu gọi chỉ là một cách để biết ai quan tâm đến việc tin cậy Đấng Christ; vấn đề là nó không phải là cách duy nhất. Một Hội thánh không đa dạng trong cách mời gọi người ta bày tỏ đức tin nơi Đấng Christ là một Hội thánh quá nặng về truyền thống.

    Là một nhà truyền giảng, tôi đã chia sẻ trong hơn 1.000 sự kiện truyền giảng suốt hơn 30 năm. Tôi đã dùng lời kêu gọi, nhưng cũng dùng nhiều phương pháp khác. Một tấm thẻ ghi danh, nơi người tin Chúa đánh dấu vào góc phải, đã là phương pháp rất hiệu quả. Tôi cũng mời những người quan tâm gặp tôi và các lãnh đạo khác ở phòng bên cạnh ngay sau buổi nhóm. Tôi đã mời người ta tin cậy Đấng Christ ngay tại chỗ ngồi, rồi tiến lên sau buổi nhóm để nhận thông tin về cách tăng trưởng. Điều gì khích lệ sự đa dạng trong phương pháp? Đó là thực tế rằng lời kêu gọi không phải là vấn đề Kinh Thánh. Vấn đề là liệu người ta có tin cậy Đấng Christ để được cứu hay không, chứ không phải cách chúng ta xác định họ là ai.

    Thực tế, lời kêu gọi không bắt nguồn từ Kinh Thánh mà từ thực hành của hội thánh. Trước thế kỷ 19, chưa từng có điều này. Charles Finney là người khởi xướng, và D.L. Moody phổ biến nó. Thực ra, khi mới được dùng, nó bị chỉ trích mạnh mẽ, bị xem là nhân tạo và mang tính thao túng. Sau đó, qua các chiến dịch truyền giảng nổi tiếng của Billy Graham, thực hành này trở nên phổ biến rộng rãi. Nhưng vì đây không phải là điều được nhắc tới trong Kinh Thánh, chúng ta có thể tự do dùng bất kỳ phương pháp nào hợp đạo đức và hiệu quả để khích lệ người chưa tin đáp ứng Tin Lành.

    4. Khi lời kêu gọi được dùng để tự đề cao: Mọi người giảng đều thích thấy kết quả từ bài giảng của mình, nhưng sự kêu gọi của chúng ta là phải trung tín (1 Cô-rinh-tô 4:2). Chỉ Đức Chúa Trời mới khiến chúng ta kết quả. Vì vậy, khi giảng Tin Lành, chúng ta mong mọi người chưa tin đều đến với Đấng Christ. Nhưng ai đến và ai không đến là trong tay Đức Chúa Trời. Công việc của chúng ta là đem Đấng Christ đến với người hư mất—chỉ Đức Chúa Trời mới có thể đem người hư mất đến với Đấng Christ.

    Tôi thường nói: “Thước đo thực sự của một người giảng Tin Lành không phải là điều xảy ra khi có nhiều người đáp ứng, mà là điều xảy ra khi không ai đáp ứng.”

    Đây là một phần vấn đề với lời kêu gọi tiếp nhận Chúa. Nếu thực hiện lời kêu gọi, thì người giảng tuyệt đối không được dùng nó để khoe khoang hiệu quả của bài giảng, nhằm gây ấn tượng với người khác. Nếu sự tự cao và vinh hiển bản thân chen vào là chúng ta đã xúc phạm Đức Chúa Trời. Phương pháp chỉ đúng khi được dùng với động cơ đúng.

    Có chỗ cho lời kêu gọi được thực hiện đúng cách, nhưng chúng ta phải hiểu rõ cách, thời điểm và nơi nào nên dùng. Lời kêu gọi đúng cách sẽ không làm rối loạn Tin Lành, không trở thành cơ sở cho sự thiếu trung thực và thao túng, không bị xem là “cách duy nhất,” và không bị dùng để tự đề cao. Thay vào đó, lời kêu gọi đúng cách sẽ bày tỏ một cách ấm áp và quan tâm với người chưa tin rằng: “Nếu bạn muốn đến với Đấng Christ, chúng tôi rất mong được chia sẻ với bạn ngay bây giờ.” Hãy tôn vinh Đức Chúa Trời bằng cách trình bày Tin Lành cách rõ ràng. Hãy cũng tôn vinh Ngài bằng cách tránh những vấn đề liên quan đến lời kêu gọi.

    Tác giả: Larry Moyer

    Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc

    Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.

    Link gốc bài viết: The Problem With Altar Calls – 4 Reasons NOT to Give Them

    Page 1 of 22123›»

    Đọc nhiều

    • ĐÔI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI VÀ THÀNH TỰU CỦA BLAISE PASCAL
    • Mười Lời Cầu Nguyện Cho Năm Mới 2022
    • CHÂN DUNG NGƯỜI NỮ THEO KINH THÁNH
    • “Vết Xe Đổ” Của Các Mục Sư Sa Ngã
    • 14 Sự Thật Đáng Kinh Ngạc Về Các Mục Sư

    Mới nhất

    • GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT MÀ KHÔNG LÀM CHIA RẼ HỘI THÁNHTháng 7 10, 2026 - 8:02 sáng
    • 5 DẤU HIỆU CHO THẤY BẠN CHƯA TRƯỞNG THÀNH THUỘC LINHTháng 6 30, 2026 - 9:08 sáng
    • 10 CUỘC THỨC TỈNHĐÃ ĐỊNH HÌNH MỘT QUỐC GIA – LỊCH SỬ PHẤN HƯNG TẠI MỸTháng 6 25, 2026 - 10:32 sáng
    • 10 BÀI HỌC VỀ VIỆC NUÔI DẠY CON NHỎTháng 6 11, 2026 - 2:00 chiều
    • CHUYỂN GIAO CHỨC VỤ: ĐỂ HỘI THÁNH TIẾP TỤC THÀNH CÔNG KHI BẠN ĐÃ RỜI ĐITháng 5 30, 2026 - 2:22 chiều
    Tháng 7 2026
    H B T N S B C
     12345
    6789101112
    13141516171819
    20212223242526
    2728293031  
    « Th6    
    © Copyright - Giảng Luận Kinh Thánh - Enfold Theme by Kriesi
    • Facebook
    • Youtube
    Scroll to top