• TRANG CHỦ
  • NGƯỜI GIẢNG VÀ VIỆC GIẢNG LUẬN
  • THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH
  • THƯ VIỆN
    • THƯ VIỆN BÀI GIẢNG
  • GIỚI THIỆU
  • LIÊN HỆ
  • BLOG
  • PODCAST
  • Search
  • Menu
  • TRANG CHỦ
  • NGƯỜI GIẢNG VÀ VIỆC GIẢNG LUẬN
  • THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH
  • THƯ VIỆN
    • THƯ VIỆN BÀI GIẢNG
  • GIỚI THIỆU
  • LIÊN HỆ
  • BLOG
  • PODCAST
Giảng Luận Kinh Thánh

Bài viết

admin

4 LÝ DO TẤT CẢ CÁC MỤC SƯ ĐỀU NÊN DẪN DẮT MỘT NHÓM NHỎ

Tháng mười một 1, 2025/0 Comments/in THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH, Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh /by admin

Tôi đã phục vụ trong chức vụ toàn thời gian hơn 35 năm. Trong suốt thời gian đó, tôi từng đảm nhiệm nhiều vai trò khác nhau như Giáo sĩ, Mục sư quản nhiệm, Mục sư phụ tá và Mục sư truyền giáo. Dù ở vai trò nào, tôi gần như luôn dẫn dắt một nhóm nhỏ—thậm chí đôi khi là nhiều nhóm cùng lúc. Tôi tin rằng tất cả các mục sư đều nên dẫn dắt một nhóm nhỏ. Dưới đây là lý do tại sao:

1. Nhóm nhỏ là trung tâm của sức khỏe

Hội Thánh Những người từ tổ chức Natural Church Development [Phát Triển Hội Thánh Tự Nhiên] đã thực hiện nghiên cứu sâu rộng nhất từ trước đến nay về sức khỏe Hội Thánh, với dữ liệu từ hơn 50.000 Hội Thánh. Kết quả cho thấy những “nhóm nhỏ toàn diện” ảnh hưởng đến sự tăng trưởng về số lượng và chất lượng của Hội Thánh nhiều hơn bất kỳ yếu tố nào khác (Natural Church Development, tr. 33). Điều này đúng với mọi quy mô Hội Thánh, nhưng phân tích còn cho thấy rằng hội thánh lớn thì các nhóm nhỏ càng trở nên thiết yếu cho sức khỏe và sự phát triển.

2. Sự tham gia của mục sư vào nhóm nhỏ giúp nhân rộng nền tảng lãnh đạo của Hội Thánh

Như John Maxwell đã truyền đạt mạnh mẽ trong cuốn sách bán chạy 21 Nguyên Tắc Bất Biến Trong Lãnh Đạo, “lãnh đạo thì thu hút lãnh đạo,” và cấp độ lãnh đạo càng cao thì càng thu hút những người lãnh đạo cấp cao khác. Khi mục sư dẫn dắt nhóm nhỏ, điều đó kéo những người lãnh đạo tiềm năng vào đời sống mối quan hệ trong Hội Thánh, khơi dậy sự nhân rộng lãnh đạo mà Hội Thánh rất cần.

3. Chúa Giê-su đã dẫn dắt một nhóm nhỏ

Nghe có vẻ sáo rỗng, nhưng điều này hoàn toàn đúng. Nếu bạn là Mục sư, bạn nên làm điều mà Chúa Giê-su đã làm—dẫn dắt một nhóm nhỏ. Nhóm nhỏ của Ngài là trung tâm trong chức vụ của Ngài, giúp Ngài đào tạo môn đồ để họ tiếp tục đào tạo môn đồ, đặt nền móng cho phong trào đang phát triển mà Ngài thiết lập. Khi tôi làm luận văn thạc sĩ về phương pháp phát triển lãnh đạo của Chúa Giê-su, tôi tò mò muốn biết Ngài dành bao nhiêu thời gian cho việc huấn luyện lãnh đạo. Không thể dùng đồng hồ bấm giờ theo dõi Chúa, tôi đã tra cứu các phân đoạn trong sách Mác ghi lại chức vụ của Ngài và đếm xem bao nhiêu lần Ngài ở cùng nhóm nhỏ—tức là mười hai môn đồ. Kết quả là 49%! Rõ ràng, việc đầu tư vào người khác qua nêu gương, giảng dạy, cầu nguyện và tương tác là trọng tâm trong chức vụ của Ngài. Và điều đó cũng nên là trọng tâm trong chức vụ của chúng ta.

4. Để có đời sống thuộc linh khỏe mạnh, bạn cần ở trong một nhóm nhỏ

Tân Ước đầy rẫy những mạng lệnh “lẫn nhau” như: “hãy yêu thương nhau”, “hãy tận tâm với nhau”, “hãy khích lệ nhau”, “hãy mang gánh nặng cho nhau”, “hãy xưng tội cùng nhau và cầu nguyện cho nhau”. Những điều này không thể thực hiện được chỉ trong buổi nhóm sáng Chúa Nhật; chúng xảy ra trong bối cảnh của các nhóm nhỏ đầy yêu thương. Mỗi tín hữu cần một cộng đồng như vậy. Và nếu bạn muốn phát triển trong vai trò lãnh đạo, bạn cũng cần cộng đồng đó. Đó là lý do tôi tin rằng mọi mục sư nên dẫn dắt một nhóm nhỏ.

Tác giả: Jim Egli

Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc.

Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc. 

Link bài viết gốc: 4 Reasons Why Every Pastor Should Lead a Small Group

admin

LIỆU CÓ THỂ VỪA LÃNH ĐẠO VỪA ĐƯỢC YÊU MẾN?

Tháng 10 28, 2025/0 Comments/in THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH, Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh /by admin

Có lẽ bạn cũng muốn được mọi người yêu mến. Ai mà không muốn cơ chứ? Thường thì, khi ai đó nói rằng họ không quan tâm người khác có thích mình hay không, ấy là bởi vì họ đã từng rất quan tâm, nhưng rồi lại bị tổn thương, và kết quả là họ trở nên có chút chai sạn, khép kín và thậm chí là hoài nghi. Nếu chúng ta thật lòng với nhau, hầu hết chúng ta đều muốn được yêu mến hơn là bị ghét bỏ. Sự trỗi dậy của mạng xã hội càng khiến cho sự giằng co này hiện hữu rõ rệt hơn mỗi ngày. Có ai từng đăng một tấm ảnh hay một dòng trạng thái mà lại không mong nó được thích hay chia sẻ không? Tồn tại một thế giằng co giữa năng lực lãnh đạo và sự được yêu mến. Mạng xã hội đang biến những nhà lãnh đạo vốn đã thiếu tự tin, dễ bị tổn thương trở thành những “con nghiện” của những cái bấm “thích”.

Điều này đặt ra một thách thức cho tất cả chúng ta, những người đang làm lãnh đạo.

Chúng ta có nên lãnh đạo không? Hay chúng ta nên cố sao để được yêu mến?

Liệu có thể vừa lãnh đạo, vừa được yêu mến không?

Và điều gì sẽ xảy ra nếu bạn chọn một trong hai?

Đây là một sự giằng co làm thui chột rất nhiều tiềm năng lãnh đạo. Nhưng nó hoàn toàn có thể được quản lý. Và đây là cách thực hiện.

3 Sự Thật Phũ Phàng Nhưng Đầy Sức Mạnh Về Việc Được Yêu Mến và Năng Lực Lãnh Đạo

Sự giằng co giữa việc được yêu mến và việc lãnh đạo đã có từ rất lâu trước khi mạng xã hội ra đời. Mọi nhà lãnh đạo ở mọi thế hệ đều đã phải vật lộn với nó ở một mức độ nào đó.

Dù bạn có thể không bao giờ giải quyết triệt để được sự giằng co này, việc hiểu và luôn lưu tâm về nó sẽ giúp bạn điều hướng tốt hơn.

Dưới đây là 3 sự thật phũ phàng nhưng đầy sức mạnh về thế giằng co này.

1. Nếu bạn chỉ tập trung vào việc được yêu mến, bạn sẽ không thể lãnh đạo

Lãnh đạo đòi hỏi bạn phải đưa người ta đến những đích đến mà họ sẽ không tự đi nếu không có sự lãnh đạo của bạn.

Hãy dừng lại một chút và đọc lại câu vừa rồi.

Bạn có thấy thách thức ở đây không?

Lãnh đạo vốn dĩ là khó bởi nó yêu cầu người lãnh đạo phải đưa người ta đến nơi mà họ không tự nhiên muốn đến.

Vì vậy, với tư cách là một nhà lãnh đạo, bạn có một sự lựa chọn.

Bạn có thể tập trung vào việc lãnh đạo người ta, hoặc tập trung vào việc làm sao để được yêu quý.

Khi bạn tập trung vào việc làm sao để được yêu quý, bạn sẽ theo bản năng cố gắng làm hài lòng những người bạn đang dẫn dắt. Và khi đó, bạn sẽ bị bối rối.

Việc làm hài lòng con người vốn dĩ gây bối rối vì người ta mỗi người một ý. Người này muốn thế này. Người kia lại muốn thế khác.

Và chẳng mấy chốc, bạn sẽ phải oằn mình để làm tất cả mọi người vui vẻ, điều này dĩ nhiên có nghĩa là cuối cùng, bạn sẽ chẳng làm ai vui vẻ cả, kể cả chính bạn. Thực tế, đó là công thức dẫn đến sự khốn khổ cho tất cả mọi người.

Đó cũng là công thức cho sự trì trệ.

Nếu bạn chỉ tập trung vào việc được yêu mến, bạn sẽ không thể lãnh đạo. Bạn sẽ không bao giờ có đủ can đảm để làm những việc cần phải làm.

2. Bạn sẽ phải chịu đựng những giai đoạn bị hiểu lầm

Những nhà lãnh đạo hiệu quả luôn chuẩn bị sẵn sàng cho việc bị hiểu lầm.

Sẽ có những giai đoạn trong sự nghiệp lãnh đạo mà bạn sẽ bị hiểu lầm.

Động cơ, chiến lược và năng lực của bạn sẽ bị chất vấn.

Điều đó đã xảy ra với Môi-se. Đã xảy ra với Chúa Giê-xu. Đã xảy ra với Phao-lô. Và nếu bạn là người lãnh đạo, bạn cũng sẽ phải đối mặt với điều đó.

Có hai thái cực thường xảy ra khi các nhà lãnh đạo bị hiểu lầm.

Một số nhà lãnh đạo nghĩ rằng mọi người khác đều sai và chỉ có họ là hoàn toàn đúng.

Một số nhà lãnh đạo khác lại tin rằng những người chỉ trích họ hẳn phải đúng và bắt đầu nghi ngờ bản thân… đến mức không dám tiến hành thay đổi nữa hoặc bỏ cuộc hoàn toàn.

Chúng ta đều đã thấy những nhà lãnh đạo luôn tin rằng mình đúng và mọi người khác đều sai. Chẳng vui vẻ gì.

Vậy làm thế nào để bạn đảm bảo rằng mình không phải là người đó, mà cũng không trở thành người dễ dàng khuất phục hay tê liệt trước sự chống đối?

Đơn giản thôi. Hãy kiểm chứng động cơ của bạn. Hãy tự hỏi mình:

Sự thay đổi này có thực sự giúp ích cho mọi người không? Hay tôi đang làm điều đó vì một lý do ích kỷ hoặc đáng ngờ?

Nếu sự thay đổi đó không chính đáng, không hữu ích, hoặc sẽ không giúp ích cho mọi người về lâu dài, hãy từ bỏ nó.

Nếu nó chính đáng và sẽ giúp ích cho mọi người về lâu dài, hãy kiên trì với nó.

Lãnh đạo cũng có một chút giống như làm cha mẹ. Bạn làm những điều con cái không thích vì điều đó tốt cho chúng.

Và trong lãnh đạo, bạn dẫn dắt mọi người đi qua những giai đoạn họ không muốn trải qua, bởi vì cuối cùng, điều đó tốt cho họ.

Và nếu điều đó tốt cho họ, hầu hết họ sẽ cảm ơn bạn vào sau này. Công việc của bạn là đưa họ đến điểm mà họ được hưởng lợi từ sự thay đổi.

Đó là lý do tại sao bạn cần học cách chấp nhận bị hiểu lầm khi sự hiểu lầm đó nảy sinh từ một sự thay đổi hợp lý, để cuối cùng sẽ đưa sứ mệnh và tập thể đến một nơi tốt đẹp hơn.

3. Bạn có thể vừa lãnh đạo, vừa được yêu mến

Vậy, bạn có thể nghĩ rằng, về cơ bản tôi đang nói rằng phải trở thành một kẻ khó ưa hoặc một người lạnh lùng, chai sạn để lãnh đạo?

Hoàn toàn không.

Chỉ vì bạn đang dẫn dắt người ta đến một nơi họ không tự nhiên muốn đến không có nghĩa là bạn phải từ bỏ ân điển, sự khiêm nhường, lòng tốt, sự vị tha hay lòng trắc ẩn.

Thực tế, bạn càng trân trọng những đặc tính như lòng trắc ẩn, lòng tốt, sự vị tha, ân điển và sự khiêm nhường, bạn sẽ càng dẫn dắt đến sự thay đổi hiệu quả hơn.

Điểm mấu chốt là có thể sẽ không có sự đền đáp ngay lập tức.

Tất cả chúng ta đều có xu hướng khao khát một cơ chế “cho và nhận”.

Tôi trao cho bạn sự tha thứ, bạn chấp nhận.

Tôi trao cho bạn lòng trắc ẩn, bạn nói cảm ơn.

Tôi thể hiện lòng tốt, bạn đáp lại.

Sẽ có cả những giai đoạn trong sự nghiệp lãnh đạo mà bạn sẽ trao đi tất cả những điều trên và hơn thế nữa, nhưng mọi người sẽ không đáp lại.

Bạn phải học cách chấp nhận điều đó. Ngay cả khi bạn không thực sự ổn với nó.

Khi mọi người không đáp lại tương tự, bạn vẫn phải khoan dung, vẫn phải khiêm tốn, vẫn phải tử tế, vẫn phải vị tha, ngay cả khi điều đó làm bạn tổn thương. Và đúng là sẽ rất đau.

Nhưng cuối cùng, phẩm cách của bạn sẽ chiến thắng.

Thông thường, nếu sự thay đổi là tốt và bạn đã dẫn dắt một cách đúng đắn, mọi người cuối cùng sẽ thấy đó là một bước đi đúng đắn. Và họ sẽ biết ơn vì điều đó, và thường là biết ơn cả bạn nữa.

Đôi khi—ngay cả khi sự thay đổi là tốt—sẽ có một vài người không bao giờ cảm ơn bạn và vẫn không thích bạn. Điều đó cũng không sao cả, bởi vì bạn đã chọn đi con đường chính trực. Bạn có thể nhìn vào gương với một sự hài lòng nhất định, biết rằng bạn đã làm tất cả những gì có thể và đã làm điều đó với tất cả sự liêm chính. Bạn đã chiến đấu một cuộc chiến cao đẹp.

Và đôi khi, chỉ vậy thôi là đủ.

Vậy nên, hãy làm những điều khiến một người trở nên đáng mến mà không cần phải lo lắng liệu mọi người có yêu mến bạn hay không.

Bạn sẽ lãnh đạo tốt hơn.

Và mọi người sẽ được dẫn dắt một cách đúng đắn.

Tác giả: Carey Nieuwhof

Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc

Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.

Link bài viết gốc: https://churchleaders.com/pastors/477034-likeabililty.html/3

admin

CHÚA GIÊ-SU CÓ BỊ CÁM DỖ BỞI NHỮNG HAM MUỐN XẤU XA KHÔNG?

Tháng 10 24, 2025/0 Comments/in Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh, THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH /by admin

Chúa Giê-su đã bị cám dỗ trong mọi cách giống như chúng ta, nhưng Ngài không phạm tội — không một lần nào. Cả sự cứu rỗi của chúng ta phụ thuộc vào sự hoàn hảo của Ngài. Nhưng điều đó có nghĩa là Chúa Giê-su đã bị cám dỗ bởi những ham muốn xấu xa bên trong chính Ngài, giống như chúng ta sao? Đây là một câu hỏi sắc sảo, dù có phần khó chịu. Và đây là câu hỏi:

“Chào Mục sư John. Tên tôi là Sophie, tôi sống ở Sydney, Úc. Tôi đang vật lộn với một câu hỏi về sự cám dỗ và tội lỗi. Trong Gia-cơ 1:14, có nói rằng con người bị cám dỗ bởi chính những ham muốn xấu xa của mình, dẫn đến tội lỗi. Điều này dường như tạo ra sự phân biệt rõ ràng giữa sự cám dỗ, ham muốn xấu xa và tội lỗi thực sự. Tuy nhiên, tôi đang gặp khó khăn trong việc hòa giải điều này với Hê-bơ-rơ 4:15, nơi nói rằng Chúa Giê-su đã bị cám dỗ trong mọi cách như chúng ta, nhưng không phạm tội. Nếu Gia-cơ 1:14 liên kết sự cám dỗ với ham muốn xấu xa, thì tôi phải hiểu điều này như thế nào trong ánh sáng của Hê-bơ-rơ 4:15? Có vẻ không đúng khi nói rằng Chúa Giê-su có những ham muốn xấu xa, nhưng hai đoạn này dường như mâu thuẫn với nhau. Làm sao tôi có thể kết nối hai câu này và hiểu được cách Chúa Giê-su bị cám dỗ giống như chúng ta, nhưng vẫn không phạm tội?”

Năm sự thật

Dưới đây là những sự thật cơ bản từ Kinh Thánh cần được kết nối một cách mạch lạc:

1. Từ Hy Lạp được dịch là “thử thách” và từ được dịch là “cám dỗ” thực chất là cùng một từ: peirasmos là danh từ; peirazō là động từ. Đây là một quan sát rất quan trọng.

2. Đức Chúa Trời thử thách chúng ta. Ngài đã thử thách Áp-ra-ham (Hê-bơ-rơ 11:17), Ngài thử thách chúng ta, và Ngài mời gọi chúng ta thử Ngài bằng cách tin cậy Ngài: “và từ nay các ngươi khá lấy điều nầy mà thử ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán, xem ta có mở các cửa sổ trên trời cho các ngươi, đổ phước xuống cho các ngươi đến nỗi không chỗ chứa chăng!” (Ma-la-chi 3:10).

3. Đức Chúa Trời không thể bị cám dỗ, theo Gia-cơ 1:13, và Ngài cũng không cám dỗ ai: “Chớ có ai đương bị cám-dỗ mà nói rằng: Ấy là Đức Chúa Trời cám-dỗ tôi; vì Đức Chúa Trời chẳng bị sự ác nào cám-dỗ được, và chính Ngài cũng không cám-dỗ ai.”

4. Đấng Christ đã bị cám dỗ, theo Ma-thi-ơ 4:1: “Bấy giờ, Đức Thánh-Linh đưa Đức Chúa Jêsus đến nơi đồng-vắng, đặng chịu ma-quỉ cám-dỗ.” Và Hê-bơ-rơ 4:15: “Vì chúng ta không có thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thương sự yếu đuối chúng ta, bèn có một thầy tế lễ bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội.”

5. Gia-cơ định nghĩa sự cám dỗ như sau trong Gia-cơ 1:14: “Nhưng mỗi người bị cám-dỗ khi mắc tư-dục xui-giục mình.” Tức là, đó là ham muốn hợp pháp — như cảm giác đói sau khi nhịn ăn 40 ngày. Ham muốn hợp pháp không phải là cám dỗ, nhưng nó trở thành cám dỗ khi nó trở thành sự lôi kéo kiểm soát và dẫn người ta vào hành động phạm tội.

Định nghĩa hẹp

Để kết nối tất cả điều này một cách mạch lạc, điều quan trọng là phải nhận ra rằng định nghĩa về sự cám dỗ trong Gia-cơ 1:14 là hẹp và có thể là đặc trưng của Gia-cơ. Nó không giống cách hầu hết mọi người nghĩ về sự cám dỗ. Đa số nghĩ rằng cám dỗ là lời mời gọi bên ngoài đến điều ác mà bạn có thể chống lại và vẫn vô tội. Theo nghĩa đó, Chúa Giê-su đã bị cám dỗ — đúng vậy — trong đồng vắng. Có lời mời gọi bên ngoài đến tội lỗi, và Ngài đã không phạm tội.

Nhưng Gia-cơ định nghĩa sự cám dỗ hẹp hơn nhiều: “Bạn chưa bị cám dỗ cho đến khi lời mời gọi bên ngoài đó trở thành sự lôi kéo nội tâm và dẫn ý chí vào hành động phạm tội.”

Lý do Gia-cơ định nghĩa như vậy là vì ông muốn phân biệt giữa thử thách (do Đức Chúa Trời gửi đến) và cám dỗ (không do Ngài gửi đến). Gia-cơ nói trong 1:13: “Chớ có ai đương bị cám-dỗ mà nói rằng: Ấy là Đức Chúa Trời cám-dỗ tôi;” Hay có thể dịch là: “Đừng ai nói khi bị thử thách [điều mà họ đang trải qua] rằng: ‘Tôi bị Đức Chúa Trời cám dỗ’ [điều mà họ không bị].”

“Chúa Giê-su thực sự bị cám dỗ bên ngoài, nhưng Ngài không bao giờ bị cám dỗ bên trong bởi chính ham muốn của mình dẫn đến tội lỗi.”

Gia-cơ không bao giờ nói rằng Đức Chúa Trời không thử thách chúng ta — dù đó là cùng một từ Hy Lạp. Trong Gia-cơ 1:2–3, ông nói: “Thưa anh chị em, khi gặp những thử thách [peirasmos] khác nhau, anh chị em hãy xem tất cả là điều vui mừng, vì biết rằng đức tin anh chị em có bị thử nghiệm mới sinh ra kiên nhẫn.” Vậy nên ông muốn phân biệt rõ giữa thử thách (từ Đức Chúa Trời) và cám dỗ (không từ Đức Chúa Trời). Nhưng ông không có hai từ khác nhau để dùng — chỉ một từ Hy Lạp cho cả hai.

Vì vậy, ông làm rõ rằng có trải nghiệm tốt của peirasmos (thử thách) và trải nghiệm xấu của peirasmos (cám dỗ). Trong Gia-cơ 1:12, ông nói: “Phước cho người bị cám-dỗ; [peirasmos].” Và trong Gia-cơ 1:14, ông dùng cùng từ đó: “Nhưng mỗi người bị cám-dỗ khi mắc tư-dục xui-giục mình.”

Vậy nên, thử thách là tốt, còn cám dỗ là xấu — theo cách Gia-cơ định nghĩa. Nhưng đó là cùng một từ, như thể nói bằng tiếng Anh: “Bị cám dỗ là tốt và bị cám dỗ là xấu.” Ông phải cẩn thận, và chúng ta cũng cần đọc ông một cách cẩn trọng.

Đấng Cứu Thế Đã Được Thử Luyện

Dưới đây là trọng tâm để trả lời câu hỏi của Sophie. Khi Ma-thi-ơ 4:1 và Hê-bơ-rơ 4:15 nói rằng Chúa Giê-su đã bị cám dỗ, họ đang sử dụng từ Hy Lạp mang nghĩa rộng (peirasmos, peirazō) — tức là bị thử thách bởi những sự lôi kéo bên ngoài, nhưng không bị thúc đẩy nội tâm đến chỗ phạm tội. Đó là cách Ma-thi-ơ và Hê-bơ-rơ hiểu về sự thử thách hay cám dỗ. Nhưng khi Gia-cơ nói rằng Đức Chúa Trời (và ngụ ý là Chúa Giê-su) không thể bị cám dỗ, ông không mâu thuẫn với điều đó, vì ông đang định nghĩa “cám dỗ” theo nghĩa hẹp — là bị lôi kéo bởi ham muốn tội lỗi đến hành động phạm tội.

Lý do ông định nghĩa như vậy là để làm rõ rằng, dù cùng một từ được dùng, Đức Chúa Trời có thử thách chúng ta — nhưng Ngài không lôi kéo chúng ta vào tội lỗi bởi ham muốn của chính mình. Trái tim tội lỗi của chúng ta không cần sự giúp đỡ từ Đức Chúa Trời để bị cám dỗ hay bị kéo vào tội lỗi. Ngược lại, chúng ta cần sự giúp đỡ từ Ngài để vượt qua những xung động tội lỗi vốn có. Thật vậy, chúng ta cần một phép lạ của sự tái sinh — điều mà Gia-cơ nói đến trong Gia-cơ 1:18: “Ngài đã dùng lời chân lý sinh chúng ta theo ý định của Ngài,” — tức là khiến chúng ta được tái sinh — “để chúng ta trở thành một loại trái đầu mùa trong các tạo vật của Ngài.” — tức là tạo vật mới của Ngài.

Nói cách khác, nếu chúng ta muốn thoát khỏi sự trói buộc của cám dỗ tội lỗi — theo cách Gia-cơ định nghĩa — thì chúng ta phải trở thành tạo vật mới (hoặc được tái sinh) bởi Đức Chúa Trời. Và Gia-cơ nói rằng điều này xảy ra “bởi lời chân lý.” Vậy nên, dù đó là phép lạ từ Đức Chúa Trời, chúng ta vẫn có thể theo đuổi nó bằng cách lắng nghe chân lý của Phúc Âm.

Và chúng ta có một Phúc Âm như thế, bởi vì Chúa Giê-su thực sự đã bị thử thách hoặc cám dỗ từ bên ngoài, bị ma quỷ lôi kéo, nhưng Ngài không bao giờ bị cám dỗ từ bên trong — không bị kéo bởi ham muốn của chính mình đến chỗ phạm tội. Ngài là một của lễ hoàn hảo, không tì vết. Và vì điều đó, chúng ta có thể mãi mãi biết ơn, bởi vì cho đến khi Chúa Giê-su trở lại hoặc cho đến khi chúng ta qua đời, chúng ta không chỉ bị lôi kéo từ bên ngoài bởi tội lỗi, mà còn bị ảnh hưởng từ bên trong bởi những ham muốn tội lỗi — điều mà Phao-lô đã kêu lên trong Rô-ma 7:24–25: “Ai sẽ giải cứu tôi khỏi thân thể hay chết nầy?” Và ông đã trả lời, cũng như chúng ta trả lời: “Cảm tạ Đức Chúa Trời, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta!”

Tác giả: John Piper

Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc

Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc. 

Link gốc bài viết: Was Jesus Tempted by Evil Desires? | Desiring God

admin

KHẢI HUYỀN CHỦ YẾU KHÔNG PHẢI LÀ ĐỂ CHO BIẾT BAO GIỜ THÌ TẬN THẾ

Tháng 10 21, 2025/0 Comments/in THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH, Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh /by admin

Eschatology (Thuyết Mạt Thế hay Cánh Chung Học) không nhằm tiên đoán ngày tận thế, mà dạy chúng ta sống đúng đắn trong ánh sáng của những điều sau rốt. Sách Khải Huyền không tiết lộ chính xác khi nào thế giới kết thúc, nhưng mặc khải điều gì sẽ xảy ra vào thời kỳ cuối cùng và mời gọi chúng ta chọn đứng về phía nào. Như nhiều học giả đã chỉ ra, những khải thị trong Sách Khải Huyền chủ yếu kêu gọi con người đáp ứng trước những đòi hỏi và lời hứa của Đức Chúa Trời, chứ không nhằm thỏa mãn trí tò mò của chúng ta về những tiểu tiết của thời kỳ cuối cùng. Vern Poythress diễn đạt điều này như sau: “Sách Khải Huyền đổi mới chúng ta, không phải bằng những hướng dẫn cụ thể về các sự kiện tương lai, mà bằng cách cho chúng ta thấy Đức Chúa Trời, Đấng sẽ thực hiện mọi sự kiện theo thời điểm và cách thức của Ngài.”

Điều thú vị là, “cứ bốn người Mỹ thì có một người tin rằng thế giới sẽ kết thúc trong đời này của họ.” Tuy nhiên, nước Mỹ không nên là lăng kính để chúng ta diễn giải và suy tư về Thuyết Mạt Thế. Như Craig S. Keener đã nói: “Nếu báo chí ngày nay là chìa khóa cần thiết để giải nghĩa sách này, thì không một thế hệ nào trước chúng ta có thể hiểu và vâng theo sách ấy. Họ đã không thể đọc sách Khải Huyền như Lời Kinh Thánh có ích cho sự dạy dỗ và sửa trị—một cách tiếp cận trái ngược với quan điểm đề cao thẩm quyền của Kinh Thánh (xem 2 Ti-mô-thê 3:16-17).”

Đã có rất nhiều lời tiên tri cụ thể về tận thế bị thất bại. Trên thực tế, “tỷ lệ sai lầm của các dự đoán về ngày tận thế hiện đang ở mức 100%.” Đáng buồn thay, đôi khi những gì ta tưởng có trong Kinh Thánh “thực ra chỉ phản chiếu thiên kiến và quan niệm sai lầm của chính chúng ta.” Hal Lindsey đã dự đoán ngày tận thế xảy ra vào năm 2000. Nhiều người tin rằng sự cố Y2K sẽ là đánh dấu chấm hết. Harold Camping nói rằng Sự cất lên sẽ xảy ra vào ngày 6 tháng 9 năm 1994. “Đài phát thanh của ông đã huy động hàng triệu đô la để truyền bá thông điệp về ngày tận thế trên các bảng quảng cáo, tờ rơi và sóng radio”. Một tờ báo “ước tính rằng trên toàn thế giới, Family Radio đã chi hơn 100 triệu đô la để quảng bá cho ngày này.” Đối với những người đã “đặt trọn niềm tin vào lời tiên đoán đó, sự thất bại của lời tiên tri Ngày tận thế của Camping đã khiến họ lạc lối, gần như mất hết niềm tin vào Đức Chúa Trời.” Họ “thất vọng và bơ vơ,” thậm chí là “sụp đổ về tài chính.” Thật đáng buồn – và hoàn toàn không cần thiết.

Khi nghiên cứu thuyết Mạt Thế, chúng ta nên giữ một tầm nhìn bao quát, hướng về toàn bộ nhân loại và dòng chảy lịch sử. Hãy nhớ rằng, những cơn hoạn nạn khốc liệt đã từng xảy ra trong nhiều thời kỳ khác nhau, với mức độ nghiêm trọng và phạm vi rộng lớn. Chúng ta đặc biệt nhớ đến cuộc xâm lược của người Hồi Giáo vào thế kỷ thứ 7 và thứ 8, tràn qua Cận Đông, lan lên châu Âu – từ Ý, Áo, băng qua toàn bộ Bắc Phi, qua Tây Ban Nha cho đến Pháp. The Black Plague (Cái Chết Đen) tàn phá châu Á và châu Âu vào thế kỷ 14. Chiến tranh Ba Mươi Năm đã tàn phá phần lớn Trung Âu vào thế kỷ mười bảy. Hai cuộc chiến thế giới trong thế kỷ 20 cũng đã để lại vết thương sâu đậm. Trong mỗi thời kỳ ấy, những biến cố này đều có vẻ đủ lớn để khiến người ta tưởng rằng Cơn Đại Nạn đã đến.

Ngoài ra, về “kẻ chống Đấng Christ,” (Antichrist), nhiều nhân vật trong lịch sử đã từng bị gán cho vai trò này: Attila người Hung vào thế kỷ thứ 5; giáo hoàng vào thời kỳ Cải cách Tin Lành; Napoleon vào thế kỷ 19; Mussolini, Hitler và Stalin vào thế kỷ 20″.

Là những Cơ Đốc Nhân trung tín, chúng ta nên “chuyên tâm cho được đẹp lòng Ðức Chúa Trời như người làm công không chỗ trách được, lấy lòng ngay thẳng giảng dạy lời của lẽ thật” (2 Ti-mô-thê 2:15). Chúng ta cần nhận biết các dấu hiệu của thời đại, trung tín và sẵn sàng cho sự tái lâm của Chúa Giê-su. Tuy nhiên, vì thời điểm chính xác khi nào Đấng Christ trở lại không ai biết trước, Hội Thánh phải sống trong tinh thần tỉnh thức và khẩn trương – luôn ý thức rằng sự kết thúc của lịch sử có thể đã rất gần. Đồng thời, Hội Thánh phải tiếp tục lập kế hoạch và làm việc cho tương lai trên đất này, một tương lai có thể còn kéo dài”.

Tác giả: Paul O’Brien

Chuyển ngữ: Đội ngũBa-rúc

Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.

Link bài viết gốc: https://newcreationinx.com/2025/10/15/revelation-is-not-mainly-about-when-the-world-will-end/

admin

10 CÁCH Ý NGHĨA ĐỂ BÀY TỎ LÒNG BIẾT ƠN MỤC SƯ

Tháng 10 17, 2025/0 Comments/in THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH, Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh /by admin

Mỗi hội thánh đều phát triển nhờ những hy sinh thầm lặng của người chăn bầy. Mục sư gánh vác trách nhiệm rao giảng lẽ thật, an ủi những tấm lòng tan vỡ và dẫn dắt hội chúng qua những mùa vui buồn. Việc bày tỏ lòng biết ơn mục sư không chỉ là hành động theo mùa—mà còn là cách khích lệ theo Kinh Thánh dành cho những người đã hiến dâng cuộc đời mình phục vụ Đấng Christ. Như Hê-bơ-rơ 13:7 nhắc nhở: “Hãy nhớ những người dắt dẫn mình, đã truyền đạo Đức Chúa Trời cho mình; hãy nghĩ xem sự cuối cùng đời họ là thể nào, và học đòi đức tin họ.”

Vì Sao Việc Biết Ơn Mục Sư Lại Quan Trọng

Mục sư thường âm thầm phục vụ phía sau hậu trường. Bài giảng chỉ là phần nổi của chức vụ; còn vô số giờ cầu nguyện, tư vấn, học hỏi và lãnh đạo không ai thấy được. Dành thời gian để tôn vinh chức vụ của họ là cách nhắc nhở rằng những nỗ lực ấy được ghi nhận và trân trọng sâu sắc.

Nhiều tín hữu có thể nghĩ rằng Mục sư thường xuyên nhận được lời cảm ơn, nhưng thực tế, nhiều người trong họ phải đối mặt với sự cô đơn hoặc nản lòng. Việc bày tỏ lòng biết ơn là cách thể hiện tình yêu thương và nâng đỡ tâm hồn họ theo cách có thể tiếp thêm sức mạnh trong nhiều năm về sau.

10 Cách Thiết Thực Để Bày Tỏ Lòng Biết Ơn

1. Viết Những Lời Động Viên Cá Nhân: Những lá thư viết tay có thể để lại ảnh hưởng lâu dài. Hãy chia sẻ cách một bài giảng đã thay đổi cuộc sống bạn, hoặc nhắc lại thời điểm lời cầu nguyện của họ đã nâng đỡ bạn. Hãy viết bằng cả tấm lòng và cụ thể—những lời ấy có thể trở thành kho báu mà họ tìm về trong những ngày khó khăn.

2. Tổ Chức Ngày Tri Ân Mục Sư Của Toàn Hội Thánh: Dành một ngày Chủ Nhật để tôn vinh chức vụ của mục sư. Mời các tín hữu chia sẻ lời chứng, chuẩn bị bữa ăn đặc biệt hoặc tạo một trình chiếu những kỷ niệm. Lòng biết ơn tập thể sẽ để lại dấu ấn sâu sắc.

3. Tặng Một Kỳ Nghỉ Cho Gia Đình Mục Sư: Cuộc sống mục vụ có thể rất mệt mỏi. Hãy cùng nhau đóng góp để tặng mục sư và gia đình một chuyến nghỉ dưỡng cuối tuần hoặc kỳ nghỉ. Món quà nghỉ ngơi sẽ làm mới cả thân thể lẫn tâm linh.

4. Hỗ Trợ Việc Học Tập Tiếp Tục: Nhiều mục sư khao khát được học thêm nhưng thiếu điều kiện. Hãy cân nhắc tài trợ cho một hội nghị, kỳ tĩnh tâm hoặc khóa học. Đầu tư vào sự phát triển của họ chính là củng cố cả hội thánh.

5. Giúp Đỡ Thiết Thực Tại Nhà: Những hành động đơn giản—cắt cỏ, trông trẻ, hoặc mang bữa ăn đến—giúp giảm gánh nặng. Những việc tử tế nhỏ này thể hiện sự quan tâm vượt ra ngoài bức tường nhà thờ.

6. Kỷ Niệm Những Cột Mốc Quan Trọng: Hãy ghi nhớ ngày sinh nhật, lễ phong chức, hoặc số năm phục vụ của mục sư. Việc tri ân mục sư thể hiện rằng bạn trân trọng hành trình của họ.

7. Khích Lệ Bằng Lời Chúa và Sự Cầu Nguyện: Chia sẻ những câu Kinh Thánh khẳng định sự kêu gọi của họ, và cam kết cầu nguyện thường xuyên cho mục sư. Mời gọi hội thánh lập các nhóm cầu nguyện để nâng đỡ những nhu cầu mục vụ.

8. Tặng Những Món Quà Ý Nghĩa: Sách, sổ tay, hoặc thẻ quà tặng tại quán cà phê yêu thích có thể là phước lành cho Mục sư. Những món quà cá nhân hóa—như khung ảnh Kinh Thánh hoặc hình ảnh kỷ niệm—mang ý nghĩa đặc biệt hơn.

9. Tôn Trọng Thời Gian và Ranh Giới Cá Nhân: Một trong những món quà lớn nhất là không gian để nghỉ ngơi. Tránh gọi điện vào ngày nghỉ trừ khi thật sự cần thiết. Khuyến khích nhịp sống theo ngày Sa-bát là cách thể hiện tình yêu thương đối với sức khỏe của họ.

10. Bày Tỏ Lời Tôn Vinh Một Cách Công Khai: Khuyến khích hội thánh bày tỏ lòng biết ơn mục sư trong các thông báo, nhóm nhỏ, hoặc những cuộc trò chuyện thường ngày. Như Charles Spurgeon từng nói: “Một lời tốt đẹp dễ nói chẳng kém gì một lời xấu, nhưng giá trị thì hơn rất nhiều.”

Xây Dựng Văn Hóa Tôn Vinh

Một sự kiện đơn lẻ là điều tuyệt vời, nhưng một văn hóa tri ân liên tục còn mạnh mẽ hơn. Khi lòng biết ơn trở thành điều bình thường, mục sư sẽ cảm thấy được nâng đỡ quanh năm, không chỉ trong những tháng được chỉ định. Những hội thánh thực hành văn hóa này thường có sự hiệp nhất và niềm vui lớn hơn.

Sự khích lệ cũng là tấm gương cho thế hệ trẻ. Trẻ em và thanh thiếu niên học bằng cách quan sát người lớn. Nếu chúng thấy một hội thánh trân trọng người chăn bầy, chúng cũng sẽ lớn lên với lòng tôn kính dành cho người lãnh đạo thuộc linh.

Việc tri ân mục sư không chỉ là sự tôn vinh—mà là cách củng cố thân thể Đấng Christ. Hãy chọn một ý tưởng từ danh sách này và thực hiện trong tháng này. Hãy cùng gia đình hội thánh áp dụng thêm một ý tưởng khác trong mùa tới.

Như Sứ đồ Phao-lô đã viết trong I Tê-sa-lô-ni-ca 5:12–13: “Hỡi an hem, xin an hem kính trọng kẻ có công khó trong vòng an hem, là kẻ tuân theo Chúa mà chỉ dẫn và dạy bảo an hem. Hãy lấy long rất yêu thương đối với họ vì cớ công việc họ làm. Hãy ở cho hòa thận với nhau.”

Mục sư của bạn đã dâng hiến rất nhiều. Giờ là lúc chúng ta tôn vinh chức vụ của họ bằng lòng biết ơn chân thành.

Theo churchleaders.com

Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc

Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.

 

Link bài viết gốc: https://churchleaders.com/pastors/587096-10-meaningful-ways-to-show-pastor-appreciation-and-honor-their-ministry.html

admin

CHARLIE KIRK CÓ Ý NGHĨA GÌ ĐỐI VỚI GEN Z VÀ TÔI

Tháng 10 14, 2025/0 Comments/in THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH, Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh /by admin

Một số nhân vật văn hóa vượt lên trên sự nổi tiếng đơn thuần để trở thành những cái tên quen thuộc với nhiều thế hệ. Chúng ta đôi khi bắt gặp những ví dụ như vậy ở các vận động viên như Michael Jordan, các ngôi sao điện ảnh như John Wayne, hay các nhà lãnh đạo như George Washington. Charlie Kirk là một trong những nhân vật như thế – một tiếng nói của thế hệ đã tái định hình diễn ngôn chính trị bằng sự sắc sảo, dũng cảm và một đức tin không lay chuyển.

Những cuộc tranh luận của Charlie Kirk tại các khuôn viên trường đại học đã thu hút hàng triệu, hàng triệu lượt xem trên mạng xã hội. Tổ chức của anh, Turning Point USA, đã dốc toàn tâm toàn lực để thực hiện sứ mệnh thay đổi trái tim và tâm trí của một thế hệ, hướng họ đến tình yêu dành cho nước Mỹ và di sản phong phú của dân tộc. Anh đã tổ chức mít tinh, tham gia tranh luận, đối thoại, và thậm chí khiến cả Tổng thống Hoa Kỳ phải lắng nghe. Trên hết, anh là một tín hữu Cơ Đốc tận tụy, một người chồng và người cha tin kính.

Tôi chưa bao giờ có cơ hội gặp Charlie. Anh đã có lịch để phát biểu tại Đại học Liberty vào ngày 24 tháng 10 năm nay. Tôi đã rất háo hức mong chờ ngày đó, bởi tầm ảnh hưởng của anh với thế hệ Gen Z – thế hệ của tôi – là điều hiếm ai có thể làm được. Giống như nhiều bạn trẻ cùng lứa tuổi, Charlie là người đầu tiên tôi thấy trên mạng xã hội khi bắt đầu tìm hiểu chính trị. Anh hóm hỉnh, thông minh, thân thiện và lôi cuốn. Những video và cuộc tranh luận của anh đã khơi dậy trong thế hệ Gen Z sự suy ngẫm sâu sắc về các vấn đề như nạo phá thai, nhập cư, và chủ nghĩa chuyển giới, đồng thời truyền cảm hứng cho nhiều người cất tiếng ủng hộ Donald Trump vào năm 2024. Anh chỉ cho chúng tôi thấy rằngmỗi người trẻ đều có thể tạo nên sự thay đổi, đóng góp cho một lý tưởng, và tạo sự ảnh hưởng.

Với tôi – và những người giống tôi – được lắng nghe hay gặp gỡ Charlie là cơ hội của cả một đời. Anh mang lại hy vọng cho thế hệ Gen Z, đặc biệt là những Cơ Đốc Nhân, giúp chúng tôi trở nên dạn dĩ hơn trong niềm tin. Anh dạy chúng tôi cách tranh luận và, quan trọng hơn hết, cách trở thành những chiến binh hạnh phúc. Khác với một số người trong giới Bảo thủ chính thống, sân khấu của anh không phải thứ kế thừa. Từ khi còn rất trẻ, anh đã làm việc không ngừng để đạt được vị trí hôm nay. Anh là một tấm gương về nghị lực và sự quyết tâm, không bao giờ từ bỏ khát vọng, giá trị hay sự kêu gọi mà Chúa đặt để trong anh. Anh sẵn sàng làm mọi điều cần thiết để góp phần thay đổi hướng đi của quốc gia theo hướng tốt đẹp hơn. Anh truyền cho chúng tôi một tinh thần làm việc hăng say, sự lạc quan lan tỏa, cách xây dựng các liên minh chính trị – thậm chí cả những phong trào.

Charlie xem sự phục hưng đức tin Cơ Đốc trong đời sống công chúng là điều thiết yếu để cứu nước Mỹ, và tận dụng mọi cơ hội để tạo diễn đàn cho các mục sư, giáo sỹ, cùng các nhà thần học. Anh cũng đích thân rao giảng Phúc Âm tại mọi dịp – dù là một bài phát biểu, một cuộc tranh luận, hay một podcast – luôn nhấn mạnh về tội lỗi của con người, sự hy sinh và phục sinh của Đấng Christ, cùng sự cần thiết của việc ăn năn và tin cậy nơi Ngài như con đường cứu rỗi duy nhất.

Anh là một nhà thần học đại chúng hiếm hoi, trình bày những vấn đề sâu sắc bằng lối nói giản dị, gần gũi, dễ hiểu. Một đoạn video lan truyền rộng rãi trên mạng ghi lại khoảng khắc anh nói với phóng viên rằng mong muốn sâu thẳm nhất của anh là được nhớ đến vì sự công khai về đức tin của mình. Và anh đã làm được điều đó. Giờ đây, nhiều người khác cũng cảm thấy họ có thể làm được như anh.

Khi nghe tin về cái chết của anh, thế giới của tôi như khựng lại trong khoảnh khắc. Tôi đang đứng trong thư viện trường Luật của Đại học Liberty, bàng hoàng không tin nổi. Suy nghĩ đầu tiên thoáng qua trong đầu tôi là về vợ anh, Erika, và các con anh. Một người phụ nữ vừa mất đi người chồng. Hai đứa trẻ nhỏ vừa mất đi người cha. Lòng tôi trĩu nặng. Nhưng khi ngước lên, tôi thấy rõ tác động mà Charlie để lại với thế hệ của chúng tôi. Mọi người trong phòng đều điếng lặng: có người khóc, có người đi đi lại lại, tất cả đều bàng hoàng trước sự ra đi của một người đã chạm đến cốt lõi niềm tin và cuộc sống của họ.

Đối với nhiều người ở độ tuổi của tôi, mất Charlie giống như mất đi một người anh lớn. Không phải lúc nào thế hệ chúng tôi cũng có một người thể hiện những giá trị mà họ khao khát, nên họ đã tìm đến Charlie. Dù là một câu hỏi về chính sách, thần học, hay lời khuyên cho cuộc sống, nhiều người vẫn tìm đến anh. Trong một thế hệ lạc lối và cô đơn, Charlie trở thành một “kênh dẫn” chân lý và ánh sáng.

Khi buổi tối trôi qua, tôi thấy hàng ngàn thông điệp tưởng nhớ và ủng hộ lan toả khắp mạng xã hội. Tôi thấy những người mà trước đó tôi không biết là thuộc phe bảo thủ hoặc thậm chí có quan tâm đến chính trị, vẫn đang nói về tác động mà Charlie đã để lại với cuộc sống của họ. Tầm ảnh hưởng của anh thực sự khó có thể thể diễn tả hết. Anh xứng đáng được ghi công vì đã vận động thế hệ Gen Z đi bỏ phiếu ủng hộ Trump vào năm 2024. Anh là một người tiên phong không ai sánh bằng, tận dụng các nền tảng mới như TikTok và X để kết nối với khán giả trẻ, giáo dục họ về thời sự, và truyền cảm hứng qua những cuộc tranh luận sôi nổi tại các trường đại học trên khắp nước Mỹ. Các chuyến đi tour “Prove Me Wrong” (Hãy Chứng Minh Tôi Sai) của anh thu hút hàng ngàn người tham dự trên toàn quốc và ảnh hưởng của anh chắc chắn sẽ còn vang vọng trong nhiều thập kỷ tới.

Charlie Kirk là chuẩn mực vàng của công việc vận động và hành động chính trị trong thế kỷ 21. Cuộc đời, đức tin và sự kiên định của anh là nguồn cảm hứng cho các mục sư, các nhà chính trị, và tất cả những ai khao khát tạo nên sự khác biệt tại nước Mỹ. Anh không chỉ là một hình mẫu trong hoạt động chính trị, mà còn là hình mẫu của một người Cơ Đốc sống giữa đời công chúng – mạnh mẽ đứng lên vì lẽ thật của Kinh Thánh, và là tấm gương về một người đàn ông, một người làm chồng. Sự ra đi của anh để lại một khoảng trống lớn trong công luận, nhưng cũng mở ra một cơ hội.

Khi nghe tin về cái chết của anh, lòng tôi tràn ngập nỗi buồn, sự tức giận và hoang mang. Nhưng hôm nay, tôi tràn đầy sự quyết tâm và kiên định. Một ngọn lửa đang bùng cháy trong tim, thôi thúc tôi làm việc chăm chỉ gấp mười lần những gì Charlie đã làm và cầu xin Chúa sẽ sử dụng công việc của tôi để mang lại ít nhất một phần mười tác động mà Charlie đã đạt được.

Sự ra đi của Charlie Kirk sẽ là một bước ngoặt trong lịch sử của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ vĩ đại này. Anh đã cống hiến cả cuộc đời mình để bảo vệ tự do ngôn luận và quyền được tranh luận công khai, và vì sự cống hiến ấy, anh đã phải nhận lấy viên đạn từ một kẻ ám sát. Thông điệp hắn gửi đến phe Cánh Hữu rất rõ ràng: hãy lên tiếng và ngươi sẽ bị hạ bệ. Nhưng để vinh danh và tưởng nhớ Charlie, chúng ta phải bác bỏ thông điệp đó. Chúng ta không được lùi bước. Chúng ta không được bỏ cuộc. Chúng ta phải lên tiếng mạnh mẽ hơn và đấu tranh kiên cường hơn để hoàn thành những gì Charlie đã bắt đầu. Hôm qua, chúng ta đã tiếc thương và than khóc. Hôm nay, chúng ta đứng lên và hành động.

Charlie Kirk đã chiến đấu một trận chiến cao đẹp, giữ vững đức tin, và hoàn tất cuộc đua của mình. Giờ đây, trong ký ức và niềm tưởng nhớ về anh, chúng ta tiếp nối sứ mệnh, hiệp nhất trong mục đích, được tiếp sức bởi di sản anh để lại, và cam kết đẩy mạnh lý tưởng mà anh đã kiên cường theo đuổi – vì vinh quang của Đức Chúa Trời.

Cảm ơn anh vì tất cả, Charlie Kirk. Chúng tôi sẽ không bao giờ quên!

– Jesse Hughes – September 12, 2025

Link bài viết gốc: https://americanreformer.org/2025/09/what-charlie-kirk-meant-to-gen-z-and-me/

admin

7 DẤU HIỆU CẢNH BÁO BẠN ĐANG RỜI XA CHÚA

Tháng 10 10, 2025/0 Comments/in Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh, THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH /by admin

Hầu hết các Cơ Đốc nhân đều dần dần rời xa Đức Chúa Trời, chứ không phải bỗng nhiên sa ngã vào tội lỗi khủng khiếp. Một người đàn ông không đơn giản thức dậy vào một ngày và tự nói: “Hôm nay là ngày tuyệt vời để bắt đầu thói nghiện ma túy nặng,” hoặc “ hôm nay mình muốn ngoại tình quá.” Chuyện thường không xảy ra như thế.

Tội lỗi lớn luôn là kết quả của hàng ngàn lựa chọn nhỏ. Đó là lý do tác giả sách Hê-bơ-rơ đã viết:

“Cho nên, chúng ta càng phải chú ý kỹ hơn về điều mình đã nghe, kẻo bị trôi lạc chăng.” (Hê-bơ-rơ 2:1)

Một trong những cám dỗ lớn nhất của người tin Chúa là từ từ rời xa, hay “trôi lạc” khỏi Đấng Christ. Chúng ta không chủ động chạy trốn, chỉ đơn giản là trôi theo dòng chảy ấm áp, lười biếng và dễ chịu của thế gian. Điều đáng sợ nhất là chúng ta thường không nhận ra mình đang bị trôi đi. Chúng ta ngẩng đầu lên và bất ngờ thấy mình đã cách xa bờ cả dặm.

7 dấu hiệu cảnh báo bạn đang rời xa hay bị “lạc trôi” khỏi Đức Chúa Trời:

1. Bạn hầu như không dành thời gian đọc Lời Chúa và cầu nguyện: “Hiện giờ tôi đang bận quá để đọc Kinh Thánh và cầu nguyện.”

2. Phúc âm không còn tác động đến bạn như trước: “Tôi đã nghe điều đó cả ngàn lần rồi… giờ thấy hơi nhàm.”

3. Bạn không dành nhiều thời gian thông công với các tín hữu khác: “Tôi làm việc mệt mỏi lắm rồi, chẳng muốn gặp gỡ ai hết nữa.”

4. Những tội lỗi từng khiến bạn day dứt giờ không còn làm bạn bận tâm: “Chương trình này cũng không tệ lắm. Nó không cám dỗ tôi nhiều đâu.”

5. Bạn thường xuyên dập tắt tiếng nói của lương tâm: “Tôi biết chuyện đó sai, nhưng để tối nay tôi sẽ cầu nguyện thêm.”

6. Bạn cứ hứa với chính mình rằng rồi sẽ dừng lại: “Được rồi, đây là lần cuối tôi xem nội dung khiêu dâm.”

7. Bạn bắt đầu đưa ra lý do biện hộ cho hành vi của mình: “Tôi chỉ trò chuyện trên Facebook với anh ta thôi mà; đâu phải chúng tôi ngủ với nhau.”

Tin mừng là: nếu bạn nhận ra mình đang “lạc trôi”, bạn có thể dừng lại!

Đức Chúa Trời rất vui lòng giúp bạn quay trở lại. Ngài ưa thích việc thêm sức cho bạn để bạn thay đổi.

Nếu bạn cảm thấy mình đang xa cách Đức Chúa Trời, hãy làm ba điều sau:

1. Ăn năn tội lỗi và tiếp nhận sự tha thứ tuyệt vời, trọn vẹn và miễn phí từ Đấng Christ. Ngài vui mừng tha thứ cho những người đang bị “lạc trôi.

2. Tâm sự với một người bạn thân thiết về những gì bạn đang trải qua.

3. Quay lại với những điều bạn từng làm, và đừng để sự cáo trách ngăn cản bạn. Hãy trở lại với Lời Chúa, cầu nguyện, thông công, chống lại cám dỗ và lắng nghe tiếng lương tâm.

Tác giả: Stephen Altrogge

Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc

Quan điểm của bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.

admin

FOXNEWS: NAM GEN Z ĐANG TRỞ LẠI HỘI THÁNH VỚI SỐ LƯỢNG ĐÁNG KINH NGẠC TRONG LÀN SÓNG PHỤC HƯNG ĐỨC TIN

Tháng 10 8, 2025/0 Comments/in THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH, Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh /by admin

Nghiên cứu của Tổ chức Barna Group hé lộ một đảo nghịch thế hệ giữa vòng Gen Z và thế hệ thiên niên kỷ (Gen Y, 8X-9X; Gen Z, 1997-2012) trong khi tỉ lệ giới nữ trẻ tuổi bỏ nhà thờ đang ngày càng gi tăng cao.

Giữa lúc nước Mỹ đang vật lộn với tình trạng sụt giảm số người đi nhà thờ, một bước ngoặt bất ngờ đã khiến giới mục sư và các nhà nghiên cứu đang nói về khả năng của một cuộc phục hưng mới.

Thế hệ Gen Z từ lâu đã bị gán cho danh hiệu “thế hệ ít quan tâm đến tôn giáo nhất”, nhưng những con số mới đây cho thấy nam giới trẻ đang đi ngược lại xu hướng này.

Một nghiên cứu gần đây của Tổ chức Barna Group chỉ ra rằng tỷ lệ đi nhà thờ đã gia tăng trong nhóm nam giới thuộc Thế hệ Gen Z và Thiên niên kỷ, cho thấy những dấu hiệu của một sự quay trở lại nhà thờ còn vượt trội hơn cả các thế hệ đi trước.

Nam giới Gen Z có tần suất tham dự nhà thờ nhỉnh hơn một chút so với nam giới thế hệ thiên niên kỷ, đánh dấu một sự đảo ngược mang tính thế hệ.

Theo Daniel Copeland, phó chủ tịch nghiên cứu của Tổ chức Barna Group, trong khi những người trưởng thành nhìn chung chỉ đi nhà thờ khoảng hai trong năm ngày cuối tuần, thì thế hệ Gen Z lại đang đảo ngược dòng chảy này.

“Dữ liệu này là một tin tốt lành cho các nhà lãnh đạo giáo hội và góp phần làm rõ hơn bức tranh rằng một sự đổi mới về tâm linh đang định hình thế hệ Gen Z và Thiên niên kỷ ngày nay,” Copeland nói.

“Những chàng trai thế hệ Gen Z đang trở nên chán ngấy với một thế giới ảo được vận hành bởi thuật toán và các ứng dụng hẹn hò… và họ đang tìm kiếm một điều gì đó đích thực,” Tiến sĩ Cory Marsh, giáo sư Tân Ước tại Chủng viện Thần học Nam California, nhận định. “Các nhà thờ nên đáp lại xu hướng hiện tại bằng cách làm gương về ân điển và lẽ thật, mà không đề cao cái này hơn cái kia.”

Có một sự phân hóa rõ rệt về giới tính. Một báo cáo năm 2024 cho thấy phụ nữ trẻ đang rời bỏ nhà thờ với tỷ lệ cao hơn đáng kể. Theo the Survey Center on American Life (Trung tâm Khảo sát Đời sống Mỹ), dữ liệu chỉ ra rằng 61% phụ nữ tự nhận mình là người theo chủ nghĩa nữ quyền và hoài nghi về bất kỳ thể chế nào duy trì các chuẩn mực xã hội truyền thống.

Tiến sĩ Corey Miller, chủ tịch và CEO (giám đốc điều hành) của Ratio Christi, cho rằng sự tương phản này phần lớn liên quan đến các hệ tư tưởng bị cực đoan hóa được giảng dạy tại các trường đại học.

“Các trường đại học đi đâu thì văn hoá sẽ theo đó,” Miller giải thích.

Tiến sĩ Douglas Groothuis, giáo sư hộ giáo học và thế giới quan Cơ Đốc tại Đại học Cornerstone, cho biết các nhà thờ phải coi sự rao giảng thông điệp của Kinh Thánh một cách yêu thương là một phần của sứ mệnh cốt lõi của mình.

Doanh số bán Kinh Thánh tăng vọt 22% vào năm ngoái, báo hiệu sự quan tâm trở lại đối với đời sống tâm linh trong giới trẻ Mỹ.

“Câu trả lời cho nhà thờ không phải là điều chỉnh thông điệp cho phù hợp với thời đại, mà là rao giảng, dạy dỗ và bảo vệ lẽ thật của Kinh Thánh một cách mạnh mẽ nhưng đầy yêu thương,” Groothuis nói.

Theo Circana BookScan, doanh số bán Kinh Thánh đã tăng vọt 22% vào năm 2024, so với mức tăng trưởng chưa đến 1% của thị trường sách in nói chung. Dữ liệu từ báo cáo “Tình hình Kinh Thánh tại Hoa Kỳ năm 2024” cho thấy hơn 20% người thuộc Thế hệ Gen Z nói rằng họ đã đọc Kinh Thánh nhiều hơn vào năm ngoái, một dấu hiệu nữa cho thấy một cuộc phục hưng mới có thể đã bắt đầu.

Tác giả: Mitch Picasso (Fox News)

Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc

Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.

Link bài viết gốc: https://www.foxnews.com/lifestyle/gen-z-men-returning-church-surprising-numbers-faith-resurgence

admin

CHARLIE KIRK, BIỂU TƯỢNG CỦA LÒNG CAN ĐẢM, SỰ TỂ TRỊ CỦA CHÚA VÀ NIỀM HY VỌNG VỮNG CHẮC CHO CHÚNG TA.

Tháng 9 24, 2025/0 Comments/in Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh, THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH /by admin

Giống như hàng triệu người khác, lòng tôi quặn thắt khi hay tin Charlie Kirk, nhà sáng lập và chủ tịch của tổ chức Turning Point USA, ra đi ở tuổi 31. Tôi góp lời cầu nguyện cùng gia đình và bạn bè anh. Rất nhiều người trong số chúng ta đã phải xót xa cho nỗi đau mà họ phải gánh chịu, cũng như cho sự mất mát của cả một đất nước.

Tôi rất trân trọng đức tin nơi Đấng Christ mà Charlie đã mạnh mẽ bày tỏ. Đây là một vài câu trích dẫn của anh:

Trên Instagram, anh viết: “Tôi tin vào Kinh thánh, và tôi tin rằng Đấng Christ đã sống lại từ cõi chết sau ba ngày. Đây là nền móng cho đức tin của tôi và là kim chỉ nam cho mỗi bước đi của tôi.”

Anh cũng từng chia sẻ trên tờ Charisma: “Chúa Giê-su chính là Đức Chúa Trời trong thân xác loài người, là Đấng đã dạy chúng ta cách sống, và chính Đấng ấy là một món quà cho chúng ta; rằng nếu chúng ta tiếp nhận Ngài là Cứu Chúa của đời mình, chúng ta sẽ có sự sống đời đời …”

Ví Dụ Về Những Tranh Luận Đầy Sự Tôn Trọng Của Charlie

Tôi muốn làm rõ rằng, vụ sát hại Charlie Kirk sẽ là một bi kịch lớn hơn nữa nếu Charlie không phải là Cơ Đốc Nhân (nếu cuối cùng anh không về với Chúa). Khoan nói đến đức tin và chính trị, vụ sát hại này vẫn sẽ là một hành động của tội ác. Thật vậy, trong lĩnh vực chống nạn phá thai, lĩnh vực mà cá nhân tôi luôn quan tâm, và tại sự kiện ủng hộ sự sống, Charlie đã chứng tỏ anh là một nhà hùng biện mạnh mẽ, người mà tôi luôn nói amen mỗi khi nghe anh chia sẻ về nạn phá thai.

Tôi không biết Charlie Kirk một cách cá nhân, nói cách khác, tôi chưa từng gặp anh, cũng chưa từng nghe anh chia sẻ ở đâu khác. Thỉnh thoảng, tôi bắt gặp clip về nhiều các chủ đề khác nhau mà anh có chia sẻ, và tôi phải thán phục khả năng tư duy logic của anh. Cũng có lúc anh nói những điều mà tôi không đồng tình. Nhưng vậy thì sao? Sự bất đồng là điều bình thường – Tôi cũng có lúc bất đồng với bạn bè và cả người dẫn dắt thuộc linh của tôi, và họ cũng có lúc bất đồng với tôi. Tôi cũng thích cách Charlie đôi lúc đã chỉ trích tổng thống Mỹ ở một số lĩnh vực, và những lúc đó, anh càng có sức thuyết phục hơn khi anh đồng tình với cách làm của tổng thống. Và, một lần nữa, vậy thì có sao?

Charlie Kirk là một quý ông tử tế với đức tin chân thành, người sẽ bảo vệ đức tin của mình với những logic không phổ quát. Anh là tấm gương cho các sinh viên khắp cả nước noi theo, không những kêu gọi họ lên tiếng, nhưng dạy họ cách lên nói ra lẽ thật trong tình yêu thương. Anh cũng là người anh em trong Chúa, cho dù nhiều Cơ Đốc Nhân có những bất đồng với anh, cũng như cách mà họ bất đồng với chính tôi. Đây là điều bình thường, tự do ngôn luận và tranh luận cởi mở là một phần của đất nước chúng ta, đồng thời chính là sức mạnh của chúng ta.

Charlie Kirk là minh chứng cho một chính trị gia không la hét, không ồn ào, không lăng mạ, những điều không chỉ gây khó chịu mà còn không hề hiệu quả. Tôi thực sự đánh gia cao điều đó. Trong cả hai vai trò, lãnh đạo chính trị và lãnh đạo hội thánh cũng như các tổ chức cơ đốc, tôi tin rằng các lãnh đạo phải luôn sẵn sàng đối đối với những thách thức từ bạn bè và đồng minh khi cần thiết, nhưng tất nhiên chỉ nói lẽ thật khi họ đón nhận điều đó trong tình yêu.

Dù sao đi nữa, phản ứng cho những xung đột chính trị không bao giờ nên là bạo lực. Giết người không bao giờ nên là sự đáp trả một ai đó đang dùng quyền tự do ngôn luận và công khai chia sẻ ý kiến của họ. Giết người, trong mọi trường hợp, đều độc ác bất kể chúng ta có bất đồng với ai đó trong bất kì lĩnh vực nào. Tôi tin vào quyền tự vệ, nhưng việc sát hại người khác không phải, và không bao giờ là biểu hiện của sự tự vệ.

Không ai trong chúng ta luôn đồng tình với người khác (và nếu có, thì điều đó có nghĩa là chúng ta vẫn chưa có suy nghĩ của riêng mình). Nhưng khi tôi xem đoạn clip mà Charlie cực kỳ tử tế với những người công khai và mạnh mẽ thách thức anh, thậm chí khuyến khích những ý kiến trái chiều. Anh tin vào một cuộc đối thoại cởi mở về những điểm bất đồng, vào việc nhất quán trong logic, nhưng không hề bảo thủ, và tôi thích điều đó ở anh. (chúng ta nên lắng nghe những ý kiến bất đồng, vì nếu không, chúng ta chỉ như những người điếc.) Charlie đã nói rõ với những người trẻ rằng họ nên yêu đất nước chưa hoàn hảo này, và hãy nỗ lực kiến thiết đất nước, khiến nó trở nên tốt đẹp hơn. Anh cũng cho họ thấy họ cần đứng lên bảo vệ niềm tin của mình với một tấm lòng mềm mại, không thù hằn, không đối kháng. Đó là điều mà tôi thiết nghĩ không chỉ người trẻ mà những người lớn tuổi cũng cần học hỏi. Cám ơn anh, Charlie Kirk. Và cám ơn Ngài, Chúa Giê-su.

Là tôi tớ của Chúa, chúng ta không bao giờ được mù quáng đi theo bất kì ai. Trên hết, chúng ta theo Vua Giê-su, và điều đó có nghĩa là chúng ta cần suy xét ý kiến của người khác, có lúc đồng tình nhưng chắc cũng có lúc không. Và điều đó cũng đòi hỏi sự lắng nghe, và nỗ lực tìm kiếm điểm chung; đó cũng là những gì mà Charlie Kirk đã làm trong nhiều cuộc đối thoại. Anh sẽ nói những câu như, “Hãy làm rõ những điều mà chúng ta cùng đồng thuận.” Tôi ước ao chúng ta đều có thể học theo anh như một tấm gương về cách giao tiếp trong vòng những người tin Chúa cũng như cộng đồng những người chưa tin, bởi vì giá trị đó quan trọng cho gia đình, hôn nhân, và trong cách nuôi dạy con cái.

Cái Chết Của Một Biểu Tượng Quốc Gia Thức Tỉnh Mỗi Chúng Ta

Khi nhắn tin cho một cháu trai về cái chết của Charlie vài giờ sau khi cái chết của anh, tôi đã nói rằng tôi lớn lên với những ký ức sống động về vụ sát hạt tổng thống Kennedy khi tôi mới học lớp ba. Tôi nhớ mình đã đứng trên một cầu thang trường tiểu học Orient khi nghe tin này. Tôi lúc đó đã ngồi với mẹ và anh trai trước chiếc TV đen trắng, xem tin tức hàng giờ, rồi hàng ngày. Thấm thoắt đã năm năm trôi qua cho đến mùa xuân năm tôi lên lớp chín ở Orient, khi một lần nữa một nhân vật đã bị sát hại: Martin Luther King.

Vài giờ sau cái chết của King, tổng thống Bobby Kennedy đã tạm hoãn bài phát biểu vận động tranh cử chuẩn bị cho một cuộc mít tinh chính trị. Micro đã thu được tiếng ông hỏi ai đó, “Họ đã biết tin về Martin Luther King chưa?” và khi được trả lời là chưa, ông đã yêu cầu tất cả mọi người hạ tấm bảng của mình xuống. Sau đó ông nói, “Tôi có một tin buồn cho các bạn, cho tất cả công dân đáng mến, và những người yêu hòa bình trên khắp thế giới, rằng Martin Luther King đã bị bắn và ra đi vào tối ngày hôm qua.”

Những tiếng kêu đầy kinh ngạc nối tiếp nhau, và nhiều người trong đám đông đã khóc. Ngày hôm đó, Kennedy không nói gì về chính trị, không nói gì về chiến dịch của mình, chỉ giữ im lặng cùng đám đông đang bàng hoàng và đau buồn, đơn giản là vị sự sống một con người quan trọng hơn chính trị rất nhiều.

Những lời tiếp đó của Kennedy là: “Ngày hôm nay là một thách thức cho nước Mỹ, và chúng ta hãy sớm trả lời câu hỏi quốc gia này cần phải trở nên như thế nào, và hướng đi nào của tương lai cho nước Mỹ.” Câu hỏi này, ngày hôm nay, cũng áp dụng cho bối cảnh cái chết của Charlie Kirk.

Trở lại thời thơ ấu, khi mới chỉ là một cậu thiếu niên mười bốn tuổi chưa bao giờ nghe về phúc âm, tôi đã khóc vì cái chết của Martin Luther King. Mùa xuân năm ấy, trước cuộc bầu cử sơ bộ ở bang Oregon, tôi đã tham gia vào chiến dịch tranh cử tổng thống của Bobby Kennedy, đi từng nhà để phát tờ rơi. Sau đó, chỉ hai tháng sau khi King bị sát hại, Bobby Kennedy cũng vậy. Tôi đã suy sụp, vì Bobby kennedy đối với tôi cũng giống như Charlie Kirk đối với nhiều người trẻ trên khắp đất nước, bao gồm cả những người đã bất đồng với anh nhưng với sự tôn trọng.

Là một thiếu niên không có đời sống thuộc linh, đầu óc tôi đã chứa đầy những ký ức sống động về những tin tức liên quan đến các vụ giết người, ám sát, đám tang của những người nổi tiếng. Tôi đã từng bị ám ảnh trong cảm giác tuyệt vọng, rằng thế giới suy cho cùng cũng chỉ là một mớ hỗn độn, và rồi vài năm sau, tôi nhận ra bản thân cũng là một mớ hỗn độn. Đó là khi tôi quay về với Chúa Giê-su.

Đó là lý do tại sao tôi đặc biệt cảm thấy tiếc cho những người trẻ, cả người tin và chưa tin Chúa, những người đã ủng hộ Charlie Kirk. Nhiều người trong số họ bây giờ đang cảm thấy chính xác những gì tôi đã trải qua những ngày đó. Khi bạn bắt đầu đặt niềm tin và yêu mến một người phát ngôn của công chúng, thì khi họ bị giết, cảm giác ấy như thể bạn cũng đã chết đi một phần.

Một trong những đứa cháu của tôi, 19 tuổi, đặc biệt trân trọng Charlie Kirk, đã nhắn tin cho tôi:

Những điều xảy ra thật quá khủng thiếp cho gia đình anh và cho đất nước chúng ta. Trong những khoảnh khắc đen tối này, cháu đã cầu nguyện để bạo lực không tiếp diễn nữa. Thật đáng hổ thẹn cho con người khi cháu nghĩ đến những sự giết chóc này; rằng quả thực nếu không có Chúa Giê-su, địa ngục mới là nơi mà loài người nên thuộc về.

Nguyện Chúng Ta Biết Đếm Các Ngày Của Mình

Khi hầu hết những ai viết về Charlie Kirk đều tập trung và sự bất công và bất hạnh, tôi muốn làm điều gì khác biệt: một lời nhắc nhở rằng không ai có thể chắc chắn mình còn sống đến ngày mai. (Ở trong sự tể trị của Đức Chúa Trời yêu thương, không phải do định mệnh)

“Không ai có quyền trên sinh khí để cầm giữ nó lại, Cũng không ai có quyền trên ngày chết.” (Truyền Đạo 8:8). Thật là kiêu ngạo nếu ai đó đang nghĩ theo hướng ngược lại. Chúng ta thường sống dưới ảo tưởng rằng cuộc sống của chúng ta đang nằm trong tay mình. Nhưng lời Chúa cảnh bảo điều ngược lại:

“Bây giờ, hỡi anh em là những người đang nói: “Hôm nay hoặc ngày mai chúng ta sẽ đến thành phố kia, ở đó một năm, buôn bán và kiếm lời”. Nhưng anh em không biết ngày mai sẽ thế nào, sự sống của anh em là gì? Vì anh em chỉ như hơi nước, xuất hiện trong giây lát rồi lại tan ngay. Đúng ra anh em phải nói: “Nếu Chúa muốn và chúng ta còn sống thì sẽ làm việc nọ việc kia.” Nhưng anh em lại kiêu căng tự phụ! Mọi thứ kiêu căng như thế đều là xấu.” (Gia-cơ 4:13-16)

Có tiếng nói: “Hãy kêu lên!”

Và có tiếng đáp: “Tôi phải kêu thế nào?”

“Loài người giống như cỏ,

Mọi vẻ đẹp của nó như cỏ hoa đồng nội.

Cỏ khô, hoa rụng,

Vì hơi thở của Đức Giê-hô-va thổi qua.

Thật vậy, loài người chỉ là cỏ:

Cỏ khô, hoa rụng,

Nhưng lời của Đức Chúa Trời chúng ta đứng vững đời đời!” (Ê-sai 40: 6-8)

Cầu xin Chúa dạy chúng con biết đếm các ngày chúng con Hầu cho chúng con được lòng khôn ngoan. (Thi Thiên 90:12)

Vì Đức Chúa Trời không ban cho chúng ta tinh thần nhút nhát, nhưng tinh thần mạnh mẽ, có tình yêu thương và tự chủ. (2 Ti-mô-thê 1:7)

Hy vọng nơi Chúa Giê-su không thể bị lay chuyển

Trong giai đoạn đen tối nhất của cuộc đời mình, đầy đau khổ và sợ hãi, vua Đa-vít vẫn khẳng định:

Đức Giê-hô-va là ánh sáng và là sự cứu rỗi của tôi,

Tôi sẽ sợ ai?

Đức Giê-hô-va là đồn lũy của mạng sống tôi,

Tôi sẽ hãi hùng ai? …

Dù một đạo binh đóng đối diện với tôi,

Lòng tôi sẽ chẳng sợ;

Dù giặc giã nổi lên chống lại tôi,

Khi ấy tôi vẫn vững tin nơi Chúa…

Khi cha mẹ từ bỏ con

Thì Đức Giê-hô-va sẽ tiếp nhận con…

Con tin chắc sẽ thấy sự tốt lành của

Đức Giê-hô-va Trong đất người sống.

Hãy trông đợi Đức Giê-hô-va;

Hãy mạnh mẽ và can đảm!

Phải, hãy trông đợi Đức Giê-hô-va! (Thi Thiên 27)

Hy vọng của con dân Chúa không phải là ảo tưởng rằng chúng ta sẽ không đau khổ. Hy vọng của chúng ta đặt trong Chúa Jesus là một ngày nào đó Đức Chúa Trời sẽ chấm dứt sự đau khổ của chúng ta (Khải Huyền 21:4). Hy vọng của chúng ta phải đặt trong sự thật rằng không có gì trong hay ngoài thế giới này – bi kịch, tai nạn, khủng bố, hay bất cứ điều gì – có thể phân rẽ chúng ta khỏi tình yêu của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ Jesus (Rô-ma 8:38-39)

Với nhiều người trong chúng ta, “hy vọng” nghe mơ hồ và ảo tưởng, nhưng hy vọng trong Kinh thánh có nghĩa là sự mong đợi với đức tin. Chúng ta mong đợi một điều chắc chắn, đã được mua bằng huyết Chúa trên thập tự, được hứa và sẽ được thực hiện bới một Đức Chúa Trời toàn tri.

Mười năm trước, Nanci vợ tôi (đã qua đời) đã đặt những lời này từ Ca Thương chương 3 lên tường phòng ngủ của chúng tôi. Tôi vẫn nhìn thấy những lời này mỗi ngày:

Nhưng khi nhớ lại điều đó Thì con có niềm hi vọng.”

Nhờ lòng nhân từ của Đức Giê-hô-va mà chúng ta không bị tiêu diệt,

Lòng thương xót của Ngài không bao giờ dứt.

Mỗi buổi sáng, lòng thương xót của Chúa tươi mới luôn,

Sự thành tín Ngài lớn biết bao.

Tôi tự nhủ: “Đức Giê-hô-va là sản nghiệp tôi,

Nên tôi hi vọng nơi Ngài.”

Đức Giê-hô-va nhân từ với những ai trông đợi Ngài,

Với linh hồn nào tìm kiếm Ngài.

Thật tốt cho người yên lặng trông chờ

Ơn cứu rỗi của Đức Giê-hô-va.

Niềm hy vọng hướng tới tới ánh sáng nơi cuối đường hầm của cuộc đời. Nó không chỉ cho chúng ta động lực đi tiếp đoạn đường ấy, mà còn lấp đầy trái tim chúng ta bằng sự mong đợi về một thế giới sống động, tươi mới, xinh đẹp, không còn đau đớn, không còn khổ đau, khủng bố và chiến tranh. Một thế giới mới được cai trị bởi Đấng duy nhất xứng đáng (Khải Huyền 5:12). Dù chúng ta không biết chính xác khi nào, nhưng chúng ta biết chắc rằng dù phải đi qua cái chết hay bằng sự trở lại của Đấng Christ, sự đau khổ của chúng ta sẽ đến hồi kết. Từ trước sáng thế, Đức Chúa Trời đã vạch ra một ranh giới ở cõi đời đời để nói với con cái của Ngài rằng: “tất cả đến đây kết thúc, và sau đó chỉ còn niềm vui bất tận”

Trong tác phẩm Sự Trở Lại Của Vua của Tolkian, Aragorn nói: “Bình minh mãi mãi là hy vọng của loài người.” Vua Đa-vít đã viết: “Sự khóc lóc đến trọ ban đêm, Nhưng buổi sáng liền có sự vui mừng.” (Thi Thiên 30:5)

Ban đêm có thể dài đối với con dân Chúa, nhưng sự thật là: buổi sáng sẽ đến và không bao giờ kết thúc.

Sự vui mừng cũng vậy!

Tác giả: Randy Alcorn – sáng lập và giám đốc của mục vụ Góc Nhìn Đời Đời

Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc

Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc

Link bài viết gốc: Charlie Kirk, the Brevity of Life, God’s Sovereignty, and Our Rock-Solid Hope – Eternal Perspective Ministries

admin

5 ĐIỀU LÀM TỔN HẠI UY TÍN CỦA MỘT MỤC SƯ

Tháng 8 15, 2025/0 Comments/in Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh, THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH /by admin

Một nghiên cứu được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu Barna vào năm 2020 cho thấy uy tín của các mục sư và nhà truyền giáo đang giảm dần trong những năm gần đây, cả trong cộng đồng Cơ đốc giáo lẫn ngoài cộng đồng Cơ đốc giáo.

Các yếu tố góp phần vào sự suy giảm này bao gồm những phản ứng khác nhau đối với đại dịch này (tất cả đều gây chia rẽ theo một cách nào đó), cũng như những bê bối nổi bật liên quan đến hành vi tình dục không đúng đắn, lạm dụng và việc sử dụng sai quỹ.

Đối với những người không tin, Mục sư không nhất thiết bị nhìn nhận hoàn toàn tiêu cực. Tuy nhiên, họ được xem là “lạc hậu” nếu không muốn nói là vô dụng, khi nền văn hóa hiện nay tiếp tục xa rời những chuẩn mực và giá trị Do Thái – Cơ đốc giáo.

Đối với nhiều Mục sư trong các Hội thánh địa phương, việc mất uy tín dường như là điều đang xảy đến với họ nhiều hơn là điều họ tự gây ra. Họ không thể kiểm soát các xu hướng lớn hơn đang góp phần làm thay đổi hình ảnh hội chúng của họ hoặc những hành vi lạm dụng và sai trái của các lãnh đạo Cơ đốc giáo khác mà họ không có mối quan hệ hay ảnh hưởng gì.

Tuy vậy, vẫn có những điều không liên quan đến lạm dụng hay biển thủ mà vẫn làm tổn hại uy tín của Mục sư với hội chúng của họ, cộng đồng xung quanh.

Dưới đây là năm điều làm tổn hại uy tín của một mục sư.

1. Phóng đại Con Số hoặc Tác Động

Mặc dù các mục sư nói và tin rằng việc phát triển hội thánh của họ là giúp người ta thực sự gặp gỡ Chúa Giê-su và biến đổi cuộc sống của họ hơn là lấp đầy phòng nhóm, nhưng hầu hết các mục sư vẫn rất hào hứng với các con số.

Khi các mục sư chưa có một ý thức lành mạnh về nhân dạng của mình không phụ thuộc vào những chỉ số này, họ bắt đầu xác định giá trị của mình bằng “số lượng người tham dự, ngân sách và tòa nhà.” Kết quả là, họ có thể bị cám dỗ để phóng đại những số liệu này hoặc đánh giá quá cao mức tác động của hội thánh của họ đối với cộng đồng.

Không chỉ không lành mạnh, mà theo thời gian, điều này trở thành một yếu tố gây tổn hại vô cùng lớn đến uy tín của mục sư.

Tôi đã từng làm việc trong một đội ngũ phục vụ Hội thánh với một lãnh đạo mục vụ, người luôn phóng đại số lượng người tham dự mỗi buổi lễ hay sự kiện. Sau một thời gian, điều này trở thành một trò đùa thường xuyên, khi những ước tính của họ luôn bị thổi phồng quá mức, ít nhất là vài chục người. Ngoài việc đùa giỡn, điều này còn khiến chúng tôi mất niềm tin vào đánh giá của họ về cách mọi thứ diễn ra với mục vụ.

Người ta rất khó tín nhiệm một người không sẵn sàng hoặc không thể đánh giá chính xác sự tăng trưởng và tác động của chức vụ mà họ đang lãnh đạo.

2. Không Nhận Ra Những Các Lĩnh Vực Cần Cải Thiện

Khi nói đến các vụ bê bối khác nhau giữa các nhà lãnh đạo hội thánh nổi tiếng một điều tôi nhận thấy là hành vi phạm tội thường có hai tầng. Tầng thứ nhất là chính bản thân vụ bê bối: sự lạm dụng, hành vi không đúng đắn, không biết bảo vệ người khác. Nhưng còn có một lỗi thứ hai, khi một hội thánh hoặc tổ chức Cơ đốc cố gắng bảo vệ chính mình bằng cách giảm nhẹ, phủ nhận hoặc nhận trách nhiệm đầy đủ về những gì đã xảy ra dưới sự quản lý của họ.

Chính vì xu hướng này mà nhiều người—bao gồm cả Cơ đốc nhân và không phải Cơ đốc nhân—đã trở nên nhạy cảm hơn nhiều đối với sự thiếu nhận thức hoặc trách nhiệm của lãnh đạo hay Hội thánh khi những quyết định của họ không mang lại kết quả như mong đợi.

Các mục sư quá hay đổ lỗi cho sự thất bại của một sáng kiến mục vụ là do sự thiếu thuộc linh trong hội chúng của họ, hoặc do văn hóa xung quanh. Điều này khiến các mục sư truyền tải một niềm tin rõ ràng rằng họ là những người không thể sai lầm và nếu một sáng kiến mục vụ không thành công như mong muốn thì đó là lỗi của người khác chứ không phải là kết quả của một quyết định thiếu khôn ngoan, thiếu thông tin hoặc đơn giản là không hiệu quả của lãnh đạo.

Có lẽ tồi tệ hơn nữa là khi các mục sư từ chối thừa nhận rằng hướng đi họ đã chọn không có hiệu quả. Họ hy vọng rằng nếu cứ tiếp tục với những gì họ đang làm, mọi chuyện sẽ khá hơn.

Sự kiên trì là cần có, và các mục sư cần luôn truyền tải một cảm giác hy vọng. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là họ trở nên cố chấp không nhận ra những thiếu sót hay các lĩnh vực cần cải thiện. Khi các mục sư không thể thừa nhận đúng đắn thực tế về tình hình, họ sẽ mất đi uy tín.

3. Phát Biểu Như Một Chuyên Gia Trong Những Lĩnh Vực Mà Không Được Đào Tạo

Trong thời đại truyền thông xã hội, một số người cảm thấy rằng trách nhiệm của các lãnh đạo là phản hồi công khai mọi vấn đề quan trọng trong ngày – Ngay lập tức. Nhưng thực tế không phải vậy.

Khi các mục sư bỏ qua điểm này, họ có thể thấy mình đang phát biểu một cách đầy thẩm quyền về những vấn đề mà họ thiếu kiến thức, chuyên môn hoặc bằng cấp. Khi họ làm vậy, và làm điều đó thường xuyên, nó có thể cực kỳ gây hại cho uy tín của họ.

Hầu hết các mục sư không phải là chuyên gia về lý thuyết phê phán (critical theory, một lý thuyết xã hội hướng tới việc phê bình và thay đổi toàn bộ xã hội – ND), dịch tễ học, tâm lý học hay lý thuyết kinh tế. Họ không nên làm ra vẻ như vậy.

Mối quan tâm chính của một mục sư nên là sức khỏe thuộc linh và sự phát triển của Hội thánh của chính mình. Đôi khi, điều đó có nghĩa là phải phát biểu về một vấn đề đang là chủ đề phổ biến trong các cuộc trò chuyện công khai. Tuy nhiên, các mục sư sẽ làm tốt nếu luôn nhớ rằng họ chủ yếu là người chăn chiên, không phải là những nhà bình luận tin tức.

4. Hành Động Trên Mạng Khác Ngoài Đời Thực

Cùng với việc cân nhắc về các chủ đề nằm ngoài chuyên môn hoặc thẩm quyền của họ, các mục sư nên cẩn thận về cách họ tham gia vào các cuộc trò chuyện trực tuyến. Các Mục sư xử lý kém trên mạng sẽ mất uy tín ngoài đời thực.

Đôi khi, tôi đã tương tác với một mục sư hay lãnh đạo hội thánh ngoài đời mà tôi thấy họ vô cùng nhẹ nhàng, tử tế và dễ mến. Tuy nhiên, tôi lại rất bất ngờ khi theo dõi họ trên mạng xã hội và thấy cách họ cư xử trên mạng gần như điên cuồng.

Quay lại với câu hỏi, đâu mới là “thật”—người có vẻ tử tế và tỉnh táo đứng trước mặt tôi, hay là kẻ điên cuồng mà tôi thấy trên mạng? Dù họ có thể hiện mình tốt thế nào ngoài đời, tôi có xu hướng không tin tưởng vào một người mà trên mạng cư xử khác với khi gặp mặt trực tiếp.

Mặc dù họ có thể không bao giờ thể hiện điều đó, nhưng những người trong Hội Thánh của bạn có thể cảm thấy tương tự.

5. Không Sẵn Sàng “Đi Trước”

Ngay cả khi các mục sư luôn thể hiện phẩm hạnh đạo đức cả trực tuyến và ngoài đời, họ vẫn có thể thấy uy tín của mình giảm sút trong Hội thánh và cộng đồng nếu họ không sẵn sàng “đi trước”.

Các người Truyền giảng thường nói về những mục tiêu cao cả. Đó là công việc của họ. Họ kêu gọi dân sự của mình trở thành môn đồ sâu sắc hơn và sống biệt riêng. Họ đưa ra một tầm nhìn lớn lao. Họ đưa ra những lời kêu gọi mạnh mẽ.

Vì họ là con người, các Mục sư không bao giờ có thể sống hoàn hảo theo những lời mình giảng. Tuy nhiên, càng có sự chênh lệch lớn giữa những gì mục sư giảng dạy và cách họ sống, uy tín của họ càng giảm sút. Nếu khoảng cách đó đủ rộng, mọi người sẽ ngừng nghe họ hoàn toàn.

Sự lãnh đạo đến từ việc bạn sẵn sàng đi trước. Nếu bạn kêu gọi dân sự truyền giáo, bạn nên tìm cách trở thành người truyền giáo đầu tiên. Nếu bạn kêu gọi mọi người dâng hiến rộng rãi, bạn phải là một trong những người dâng hiến nhiều nhất. Nếu bạn kêu gọi mọi người phục vụ không mệt mỏi, bạn không bao giờ được lạm dụng đặc quyền của vị trí của mình để tránh làm những công việc thấp hèn.

Uy Tín Là Cái Khó Có và Dễ Mất

Uy tín có thể rất khó xây dựng và rất dễ mất đi. Tuy nhiên, hầu hết người ta đều không quá khắt khe khi đi theo sự lãnh đạo của mục sư của họ. Các mục sư luôn nỗ lực hết mình để trở thành những con người, trung tín, công chính, không bao giờ ra vẻ là điều gì đó mà họ vốn không phải, và luôn chỉ dẫn dân sự của họ đến với Chúa Giê-su sẽ xây dựng uy tín của họ theo thời gian, cho phép họ chạm đến cuộc sống của mọi người trong hội thánh và trở thành một phần trong việc biến đổi cộng đồng của mình.

Tác giả: Dale Chamberlain

Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc

Quan điểm của bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc. 

Link bài viết gốc: https://churchleaders.com/pastors/434061-pastoral-credibility.html

Page 4 of 19«‹23456›»

Đọc nhiều

  • Mười Lời Cầu Nguyện Cho Năm Mới 2022
  • ĐÔI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI VÀ THÀNH TỰU CỦA BLAISE PASCAL
  • CHÂN DUNG NGƯỜI NỮ THEO KINH THÁNH
  • “Vết Xe Đổ” Của Các Mục Sư Sa Ngã
  • 14 Sự Thật Đáng Kinh Ngạc Về Các Mục Sư

Mới nhất

  • Tôi Là Con Mục Sư (3 Sai Lầm Mà Các Mục Sư Nên Tránh Khi Nuôi Dạy Con)Tháng 4 27, 2026 - 2:42 chiều
  • NGÀY CHỦ NHẬT CỦA CÁC MỤC SƯTháng 4 17, 2026 - 7:06 sáng
  • LÀM SAO ĐỂ BIẾT CẦN GIẢNG ĐIỀU GÌ THEO JOHN PIPERTháng 4 10, 2026 - 9:40 sáng
  • 13 NGUYÊN TẮC ĐẠO ĐỨC MỤC VỤ THIẾT YẾUTháng 4 6, 2026 - 11:31 chiều
  • THU HÚT ĐÁM ĐÔNG CÓ KHIẾN VIỆC MÔN ĐỒ HÓA TRỞ NÊN KHÓ HƠN KHÔNG?Tháng 3 27, 2026 - 8:53 sáng
Tháng 5 2026
H B T N S B C
 123
45678910
11121314151617
18192021222324
25262728293031
« Th4    
© Copyright - Giảng Luận Kinh Thánh - Enfold Theme by Kriesi
  • Facebook
  • Youtube
Scroll to top