TỔNG QUAN CỰU ƯỚC – David Pawson
Tháng 4 1, 2024

TỔNG QUAN CỰU ƯỚC – David Pawson

TỔNG QUAN CỰU ƯỚC

Trước hết tôi muốn cho bạn một bức tranh chung về toàn bộ Cựu Ước. Ở đây chúng ta có tập hợp của các sách trong giai đoạn khoảng 1.000 năm được viết bởi nhiều tác giả khác nhau và có nhiều thể loại sách khác nhau, lịch sử, luật pháp, thi ca. 39 sách này có liên hệ với nhau như thế nào? Tôi nghĩ rằng một điều rất quan trọng là chúng ta cần phải có một bức tranh chung về cách các cái sách này liên hệ với nhau. Đức Chúa Trời không bao giờ ban cho chúng ta một Kinh Thánh theo chủ đề. Nếu như Ngài cho chúng ta như vậy thì Sáng Thế Ký là toàn bộ về Đức Chúa Trời, Xuất Ê-díp-tô Ký là về Chúa Giê-su, Lê-vi là về Đức Thánh Linh. Nếu như Ngài sắp xếp tất cả các câu đoạn với nhau theo cùng một chủ đề, thì chúng ta đỡ tốn tiền mua Kinh Thánh phù dẫn và khỏi phải tra cứu khắp nơi.
Tuy nhiên, Ngài đã cố tình không cho chúng ta một Kinh Thánh như thế. Nên một người giáo viên dạy về bất kỳ chủ đề nào thì phải tra xem những câu Kinh Thánh về chủ đề đó được rải rác ở khắp mọi nơi. Ngài không cho chúng ta một cái hộp chứa đầy các câu hay đoạn, mặc dù số chương và câu đã được thêm vào Kinh Thánh. Đó là cách chúng ta đối xử với Kinh Thánh, chúng ta lấy một câu chỗ này, một đoạn chỗ kia, và thường thì bỏ qua bối cảnh của chúng. Thực ra Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta một thư viện, bao gồm nhiều sách. Từ Kinh Thánh là từ số nhiều trong tiếng Latin, Biblia nghĩa là các sách, không phải là một sách mà là một thư viện, nhiều sách. Mỗi sách là một thực thể riêng biệt. Đức Chúa Trời muốn bạn học lời của Ngài theo từng sách một, bởi vì đó là cách Ngài đã chọn để cho chúng ta Kinh Thánh. Nếu như Ngài chỉ muốn cho chúng ta thật nhiều những câu hay đoạn về các chủ đề, thì Ngài đã làm điều đó. Nhưng điều mà Ngài đã làm, đó là cho chúng ta những sách này, và mỗi một bản văn hay là mỗi một câu đoạn đều có bối cảnh trong các sách của nó. Bản thân cuốn sách đó thì lại là trong bối cảnh của lịch sử.
Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta lời của Ngài trong thời gian và không gian. Một điều rất quan trọng là chúng ta cần phải ghi nhớ tất cả hai diều kích này, nên để chúng ta hiểu rằng Ngài nói điều đó trong thời gian nào và Ngài nói. Nên lời Ngài đã được ban cho trong những tình huống sống, và Ngài luôn luôn nói một điều gì đó với những tình huống cụ thể trong thời gian và không gian. Đó là hai bối cảnh mà chúng ta cần.

Địa lý

 

Nên trong bài nói chuyện này, tôi sẽ đề cập đến một số những vấn đề liên quan đến bối cảnh đó. Trước hết chúng ta sẽ bắt đầu nói về không gian. Để làm điều đó thì chắc chắn chúng ta cần bản đồ. Có bản đồ địa lý của Kinh Thánh, cũng như là lịch sử của Kinh Thánh, mà chúng ta cần phải ghi nhớ khi chúng ta đọc Kinh Thánh. Thật ra thì chỉ có hai bản đồ mà chúng ta cần, đó là bản đồ của toàn bộ vùng Trung Đông và bản đồ của Xứ Hứa. Tên quen thuộc được đặt cho cả vùng Trung Đông đó là vùng Lưỡi Liềm Màu Mỡ, đó là cùng từ mà các bạn được đọc trong rất là nhiều những sách về bối cảnh Kinh Thánh. Bạn có thể nhìn thấy tôi vẽ hình lưỡi liềm tại đây, theo dạng hình trăng non. Tôi đã vẽ nó trên bản đồ này. Lưỡi liềm này kết nối hai dòng sông lớn chính tại hai đầu của nó là sông Nin và sông Ti-gơ-rơ và Ơ-phơ-rát, hai lưu vực sông lớn này đã sinh ra màu mỡ, hai đồng bằng này rất là phí nhiêu, châu thổ sông Nin, và châu thổ của hai sông Ti-gơ-rơ và Ơ-phơ-rát, vùng này thường được gọi là vùng Lưỡng Hà, hay Mesopotamia. Meso nghĩa là giữa, potamia nghĩa là sông.
Như vậy, giữa hai con sông này, giữa hai khu vực phì nhiêu này là trung tâm. Đây là một vùng đồng bằng rất bằng phẳng, và hai khu vực phì nhiêu này là trung tâm của các cường quốc cổ đại phương Đông và phương Tây. Nên toàn bộ Cựu Ước là một cuộc vật lộn giữa hai thế lực này. Giữa Ai Cập và các đế quốc khác nhau được sinh ra tại Lưỡng Hà. Đó là A-si-ri rồi Ba-bi-lon, Saddam Hussein bây giờ ở tại đây. Đó, Iraq, Iran được chia bởi dòng sông này.
Như vậy, chúng ta có hai cường quốc thế giới ở vùng Trung Đông cổ, và giữa đó chính là Xứ Hứa. Sa mạc Ả Rập và sa mạc Sa-ra ở hai bên. Khi hai thế lực này đánh nhau hoặc cố gắng để chiến thắng lẫn nhau, thì họ bắt buộc phải đi qua mảnh đất hẹp tại Ca-na-an. Miếng màu hơi tím đó là vùng đá bazan màu đen, rất là sắt và cứng, thậm chí lạc đà cũng không đi qua được. Điều đó nghĩa là toàn bộ giao thông phải đi qua dải đất ven biển hẹp này nếu như không muốn vượt qua sa mạc, đa số đều không muốn vượt qua sa mạc, bởi vì muốn có thức ăn cho binh lính thì buộc phải vượt qua vùng đất lưỡi liềm màu mỡ này. Điều đó nghĩa là khu vực này thực chất là ngã tư của thế giới. Như ai đó đã nói rằng: nếu sẵn sàng sống ở vùng ngã tư thì phải sẵn sàng để bị cho người ta chà đạp lên. Đó chính xác là điều đã xảy ra trong lịch sử của Y-sơ-ra-ên. Họ đã liên tục bị chà đạp bởi những cường quốc khác nhau. Ở thời của Chúa Giê-su thì đó là người La Mã, nhưng trước đó thì là người Ai Cập, người Hy Lạp, và nhiều dân tộc khác nữa đã chà đạp trên người Do Thái.
Vậy ở đây chúng ta có hai thế lực của thế giới, và một hành lang hẹp ở giữa. Đức Chúa Trời đã ban cho họ một mảnh đất ở ngã tư của thế giới này. Đường từ châu Âu đi đến Ả-rập và đường từ Châu Phi đi đến châu Á cũng đi qua mảnh đất này. Đường từ châu Âu đi đến đồng bằng Ven Biển, phải đi ngang qua thung lũng Estrelaion. Đường từ châu Phi đi lên cũng phải qua thung lũng Jutren, rồi đi qua Ca-bê-na-um, rồi đi đến Đa-mách, rồi đến Ấn Độ và Trung Quốc. Như vậy, ngã tư thực sự của thế giới chính là ở chỗ này, là cái đồi nhỏ được gọi là Mê-gi-đô, và đồi Mê-gi-đô trong tiếng Hê-bơ-rơ là Armageddon. Đó là lý do vì sao đa số những trận tiến lớn trong lịch sử đều diễn ra ở tại đây, tại ngã tư của thế giới này. Từ đó nhìn xuống thì có một ngôi làng nhỏ, đó là làng Na-xa-rét, và các cậu bé làng Na-xa-rét có thể nhìn thấy cả thế giới đi ngang qua mình. Theo nghĩa đen, Chúa Giê-su có thể nằm trên đồi và nhìn thấy họ giống như là chúng ta đang ở sân bay quốc tế vậy, và chúng ta nhìn thấy tất cả mọi dân tộc đi ngang qua. Nên họ gọi vùng phía bắc này là vùng của Ga-li-lê, vùng của các dân ngoại, tại vì nó giống như là ngã tư của thế giới. Còn phía đồi cao bên miền Nam này thì khá là cách ly và rất là Do Thái. Như vậy, phần quốc tế, nơi tất cả các dân tộc đều có thể đi ngang qua, và phần mà rất mang tính Do Thái, được cô lập ở phía bên đồi núi này, tại Giê-ru-sa-lem.
Chúa muốn trồng dân của Ngài tại ngã tư của thế giới, tại mảnh đất này, để tất cả mọi người đều có thể nhìn thấy họ. Họ có thể trở thành kiểu mẫu của vương quốc Đức Chúa Trời trên đất, để cả thế giới có thể nhìn thấy là phước hạnh đến với dân sống dưới nguyên tắc luật lệ của Chúa là như thế nào. Nhưng họ cũng sẽ thấy rằng sự rủa xả sẽ giáng xuống như thế nào nếu như họ không vâng theo luật lệ của Chúa.
Đây là một dải đất cứng và sắc và không thể vượt qua được. Ở Ca-bê-na-um người ta dùng loại đá này để xây nhà. Có hàng rào bằng cát và đá Bazan ở phía đông và hàng rào bằng ba biển ở phía tây. Nên toàn bộ giao thông là phải đi ngang qua vết nứt lớn này, ngay trên bờ mặt đất kéo đến châu Phi, và tại đây là điểm sâu nhất của nó thấp hơn rất nhiều so với một nước biển, và Biển Chết còn thấp hơn thế nhiều. Sông Jordan chảy vào thung lũng này và không chảy tiếp đi đâu, chỉ bốc hơi do nóng. Nên trong khu vực nhỏ chỉ bằng xứ Wale này, chúng ta có cả thế giới thu nhỏ. Có đủ loại khí hậu và đủ loại phong cảnh ở tại đây.
Bạn sẽ tìm thấy đâu đó tại Y-sơ-ra-ên, một nơi như quê của mình. Nơi giống nước Anh nhất là Nam Tel Aviv, họ gọi Cạt-mên là Tiểu Thụy Sĩ, bạn có thể đi trượt tuyết bất cứ lúc nào trong năm tại vùng núi tuyết phủ Hẹt Môn. Cách đó 10 phút, bạn có thể đi giữa những cây cọ. Toàn bộ hệ động vật và thực vật của châu Phi cũng tìm thấy ở đây. Toàn bộ hệ động vật và thực vật của châu Âu cũng được tìm thấy ở đây. Toàn bộ hệ động vật và thực vật của châu Á cũng được tìm thấy tại đây. Nên bạn có thể thấy thông Scotland mọc cạnh cây cọ sa mạc ở Sarah. Trong thời Kinh Thánh, thì mọi loài thú hoang đều có tại đây, sư tử, gấu, cá sấu, lạc đà. Bạn có thể có cả thế giới được ép lại tại một điểm nhỏ này, và tất cả có thể kết nối với nhau. Thật là kỳ diệu!
Tôi có thể nói hàng tiếng về điều này, nhưng tôi phải dừng lại. Tuy nhiên bạn có thể cảm nhận được về địa lý rồi đó, đặc biệt là cảm nhận về hình dạng của mảnh đất này. Nếu bạn hiểu về địa lý thì bạn sẽ hiểu tại sao sự việc lại xảy ra như vậy, tại sao Sa-ma-ri lại ở giữa, tại sao mục vụ chủ yếu của Chúa Giê-su lại ở vùng Ga-li-lê, tại sao Ngài đã bị những người Giu-đa giết. Khi nói rằng những người Giu-đa thì không hẳn nói về tất cả những Y-sơ-ra-ên, mà chính là những người thuộc chi phái Giu-đa. Khi các bạn đọc tin lành Giăng, bạn thấy rằng những người Giu-đa giết Chúa Giê-su thì không phải là toàn bộ dân Y-sơ-ra-ên, mà đó là những người ở miền Nam, còn tất cả những người Ga-li-lê đều ủng hộ Chúa Giê-su, những người Giu-đa hay là những người xứ Judea là những người đã chống lại Ngài ở miền Nam.
Đó là về bối cảnh địa lý của Kinh Thánh. Trong Thời Cựu Ước, khi chúng ta đi khắp vùng lưỡi điểm màu mỡ này, đôi khi dân của Chúa bị nô lệ tại Ai Cập, đôi khi thì họ bị đi đầy đến tận A-si-ri hay là Ba-bi-lon, nhưng như chung thì họ ở vùng ở giữa này, giống như ở ngã thư của thế giới.

Thời gian

Một chiều kích khác nữa mà bạn cần phải nắm đó là chiều kích thời gian. Tôi cố gắng để giảm chiều kích thời gian này thành một biểu đồ trông có thể rất là khủng khiếp đối với bạn, tuy nhiên khi chúng ta trình bày qua rồi, thì có lẽ bạn sẽ thấy nó khá là dễ nhớ, hấp dẫn và đơn giản. Về cơ bản thì Cựu Ước đề cập đến khoảng 2000 năm lịch sử, trước Đấng Christ. Nhưng trong Sáng Thế Ký từ chương 1 đến 11, chúng ta gọi đây là thời kỳ tiền sử của dân tộc Y-sơ-ra-ên, đó là về sự sáng tạo trời đất, sự sa ngã của loài người, rồi cơn nước lụt và tháp Ba-bên. Tất cả là về nhân loại nói chung, không phải là về tuyển dân của Chúa. Đó là lịch sử tiền sử của Y-sơ-ra-ên, trước khi lịch sử của người Y-sơ-ra-ên thực sự bắt đầu vào khoảng năm 2000 TCN. Như vậy, giống như chúng ta là 2000 năm SCN, thì lịch sử của Y-sơ-ra-ên bắt đầu là khoảng 2000 năm TCN. Đó là ngày khai trương của lịch sử của Y-sơ-ra-ên.
Tôi chia thành bốn phần bằng nhau, mỗi phần là 500 năm như là một giai đoạn riêng biệt, được đánh dấu bằng những sự kiện và nhân vật. Tôi muốn đặt tên những con người và những sự kiện: Được lựa chọn, Đi khỏi Ai Cập, Đế quốc và Lưu đày, đó là bốn sự kiện đánh dấu bốn phần tư trong lịch sử của Y-sơ-ra-ên. Lựa chọn là lúc Đức Chúa Trời lựa chọn Áp-ra-ham để trở thành tổ phụ của dân của Ngài. Ra khỏi Ai Cập là lúc mà họ có được toàn bộ vùng đất mà Chúa đã ban cho họ, họ sống trong sự thịnh vượng và bình an. Đế quốc là lúc họ không chỉ có xứ sở của mình, mà bây giờ còn nhiều dân tộc khác bị họ kiểm soát. Điểm thấp nhất trong lịch sử của họ chính là việc họ bị lưu đầy.
Tôi chọn 4 người đại diện cho 4 giai đoạn này. Áp-ra-ham vào khoảng năm 2000, Môi-se vào khoảng năm 1500, Đa-vít trị vì vào khoảng năm 1000 TCN, và Ê-sai lài người liên quan nhiều nhất đến việc bị lưu đầy.
Vậy chúng ta có bốn sự kiện và bốn nhân vật, nhưng đồng thời sự lãnh đạo trong mỗi giai đoạn này là khác nhau. Trong giai đoạn thứ nhất, họ được lãnh đạo bởi các tổ phụ từ Áp-ra-ham cho tới Giô-sép. Trong giai đoạn thứ hai, họ được lãnh đạo bởi các tiên tri từ Môi-se cho đến Sa-mu-ên. Trong giai đoạn thứ ba, họ được lãnh đạo bởi các vua, từ Sau-lơ cho đến Sê-đê-kia. Trong giai đoạn thứ tư, họ được lãnh đạo bởi các thầy tế lễ, từ Giê-hô-sua, người về cùng với Sô-rô-ba-bên ra khỏi lưu đầy, cho đến Cai-phe, vào thời của Chúa Giê-su. Như vậy, các bạn thấy rằng là thực sự lãnh đạo cũng thay đổi từ các tổ phụ đến các tiên tri, đến các vua, và đến các thầy tế lễ. Điều này không nghĩa là không có các tiên tri, hay các thầy tế lễ ở những giai đoạn khác, nhưng sự lãnh đạo của dân tộc đó được chuyển từ nhóm này đến nhóm khác, cho đến khi Chúa Giê-su đến, là đấng vừa là tiên tri, vừa là thầy tế lễ, vừa là vua, cả ba trong một. Họ đã thử ba loại hình lãnh đạo khác nhau trong lịch sử, nhưng họ thực sự đang tìm kiếm một ai đó có thể kết hợp tất cả ba điều này trong một.
Khi bạn có bốn giai đoạn cân bản này thì điều tiếp theo đó là điền thêm vào hai khoảng trống, mỗi một khoảng trống như vậy là 400 năm, khoảng trống thứ nhất là 400 năm làm nô lệ tại Ai Cập. Thứ 2 là 400 năm sau lưu đày, trong cả hai trường hợp, Đức Chúa Trời đã không nói điều gì, và Ngài đã không làm điều gì. Tức là không có gì trong Kinh Thánh được ghi lại về hai giai đoạn này. Tất nhiên là có những sách được viết trong dạng những giai đoạn này, nhưng không có trong Kinh Thánh của chúng ta, vì những sách đó không đề cập đến lúc Chúa đang nói hay Chúa đang làm điều gì đó. Khi đọc cụm từ Đức Chúa Trời Hằng Sống trong Kinh Thánh, bạn có hiểu nó nghĩa là gì không? Cách đây vài năm, có một số nhà thần học nói rằng Đức Chúa Trời không còn tồn tại nữa, bạn có hiểu hàm ý của họ là gì không? Họ không có ý nói là Đức Chúa Trời không còn tồn tại nữa. Nhưng điều mà họ hàm ý đó là Đức Chúa Trời không còn hoạt động tích cực trong thế giới này, trong giai đoạn đó, nhưng Đức Chúa Trời vẫn tồn tại ở đâu đó.
Vợ chồng tôi tháng 7 năm ngoái đã mất đứa con gái 36 tuổi của mình. Cô ấy đã chết rồi. Nhưng điều đó không nghĩa là cô ấy không tồn tại. Cô ấy vẫn sống, vẫn đang ý thức, vẫn đang giao tiếp, nhưng không thể giao tiếp cùng với chúng tôi bây giờ. Con gái chúng tôi bây giờ đang không còn sống nữa, nhưng không nghĩa là nó không còn nói hay hành động. Đúng là trong thế giới này thì nó không nói hoặc hành động nữa, nhưng vẫn hoàn toàn ý thức, vẫn hoàn toàn giao tiếp được, đang ở cùng với Chúa. Con gái tôi vẫn sống, nhưng không còn sống trong thế giới này. Đối với thế giới này thì nó đang chết. Nên Đức Chúa Trời hằng sống là hàm ý như vậy.
Nên những sách được viết trong những giai đoạn này được gọi là các sách ngụy kinh, bạn không tìm thấy những sách này trong Kinh Thánh của chúng ta. Người Công giáo có xếp những sách đó trong Kinh Thánh của họ, bởi vì tại đó họ tìm thấy những lời cầu nguyện với các thánh hoặc ngục luyện tội, nhưng thực tế thì những sách đó không thuộc về Kinh Thánh, vì những sách đó được viết trong những lúc Đức Chúa Trời không phán. Nhưng trong những giai đoạn của Kinh Thánh thì Đức Chúa Trời phán, Ngài nói, Ngài tích cực trong thế giới của chúng ta.
Có khoảng 400 năm im lặng từ Ma-la-chi vị thiên tri cuối cùng, bởi vì Đức Chúa Trời không hành động, không nói gì cả. Nên chúng ta không chỉ quan tâm đến lịch sử nói chung như bất kỳ một lịch sử nào. Cũng tương tự như, chúng ta không có điều gì trong khoảng 400 năm, từ Sáng Thế Ký đến Xuất Ê-díp-tô Ký. Đôi khi, chúng ta đọc liền Xuất Ê-díp-tô Ký sau Sáng Thế Ký, nhưng thực ra là có khoảng 400 năm im lặng giữa hai giai đoạn đó. Điều thú vị đó là trong giai đoạn mà Chúa im lặng đó thì người Ai Cập, người Ấn Độ và người Trung Quốc đã nổi lên. Còn trong giai đoạn 400 năm sau này thì có những nhân vật như là Socrates, Plato, Aristotle, những nhà triết học Hy Lạp, rồi Đức Phật, Khổng Tử, và những người như Alexander Đại Đế, Julius Caésar đã nổi lên. Như vậy khi Đức Chúa Trời không bận rộn thì con người đã rất bận rộn. Nên có rất nhiều điều đã xảy ra trong lịch sử của nhân loại trong giai đoạn này, nhưng lại không liên quan đến lịch sử của Đức Chúa Trời. Bởi vì Kinh Thánh đề cập đến lịch sử của Đức Chúa Trời và những điều quan trọng đối với chúng ta.
Bây giờ chúng ta đề cập đến một số chi tiết của Sáng Thế Ký từ chương 12 đến 50, là giai đoạn khi Y-sơ-ra-ên được lãnh đạo bởi các tổ phụ. Sách Gióp có thể được viết trong giai đoạn này, bởi vì những điều trong sách Gióp rất giống với cuộc sống thời Áp-ra-ham cho đến Gia-cóp, khi họ là những dân du mục.
Sau đó chúng ta đến phần tư thứ hai, ở đây cũng có rất ít sách. Đó là Xuất Ê-díp-tô Ký, Lê-vi, Dân Số và Phục Truyền, tất cả vào thời của Môi-se và sau đó là Giô-suê, Các Quan Xét, Ru-tơ. Giai đoạn thứ 3, thời kỳ Đế quốc, chúng ta có nhiều sách hơn, chúng ta có các sách lịch sử và một số những sách thi ca nữa, Đa-vít với sách Thi Thiên, Sa-lô-môn và sách Nhã Ca, Châm Ngôn và Truyền Đạo. Sau Sa-lô-môn thì có cuộc nội chiến và 12 chi phái đã bị chia thành 2, 10 ở bên vương quốc phía bắc được gọi là Y-sơ-ra-ên và 2 ở vương quốc phía nam được gọi là Giu-đa. Từ đó trở đi họ không còn có một vương quốc thống nhất nữa. Có các tiên tri xuất hiện vào thời kỳ này, Ê-li và Ê-li-sê nhưng họ đã không viết sách lại cho các thế hệ kế tiếp nên chúng ta không có sách theo tên của họ.
Sau đó, một cách rất bất ngờ, chúng ta có một loạt rất nhiều sách xuất hiện, tất cả các tiên tri, và tất cả đều có liên hệ với cuộc lưu đẩy. Đây chính là các sách tiên tri chính được viết ra trong giai đoạn này. Một số họ nói lời tiên tri trước lưu đầy, một số người nói tiên tri trong thời kỳ lưu đầy, và một số là sau hay là hậu lưu đầy. Nó cho chúng ta thấy rằng là tầm quan trọng của sự kiện này quan trọng như nào trong lịch sử của họ. Việc mất đất hứa mà Chúa đã hứa cho họ. Những tiên tri này đã cảnh báo họ rằng họ có thể mất sự hứa. Những tiên tri này cũng đã an ủi họ khi họ thực sự đã mất đất hứa, và những tiên tri này cũng đề cập cũng liên quan đến việc xây dựng lại vùng đất đó khi họ quay trở lại sau 70 năm lưu đày. Chúng ta có hai sách lịch sử trong giai đoạn này, Đa-ni-ên và Ê-xơ-tê, cả hai đều đề cập về những người Giu-đa ở tại Ba-bi-lôn khi họ không còn ở xứ sở của họ nữa. Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi là những người đã giúp để xây lại Giê-ru-sa-lem, và cho dân Chúa được thiết lập tại tại xứ sở của họ.
Rất không may là các sách Cựu Ước không phải lúc nào cũng được xếp trong trình tự lịch sử, đặc biệt là các sách tiên tri. Các sách lịch sử thì có vẻ như được sắp theo trình tự lịch sử, nhưng khi nói về các sách tiên tri thì người ta đơn giản là xếp các sách dài về trước các sách ngắn hơn về sau, và khiến chúng ta đôi khi bối rối. Bạn cũng cần phải đặt câu hỏi là sách đó được viết lúc nào, trước, sau hay là giữa lưu đầy, nó giúp chúng ta có những sự gợi ý để chúng ta hiểu được các sách đó.
Nếu như bạn có thể nhớ được những biến cố căn bản của lịch sử 2000 năm của họ đó, những nét cơ bản, thì bạn thực sự là sẽ nắm bắt được và sẽ hiểu rằng là các sách nào được sắp xếp vào giai đoạn nào. Khi các dân tộc giàu có và hòa bình, thì đó là lúc mà những thứ như là văn thơ sẽ được viết ra. Nó giống như là đồ xa xỉ, nghệ thuật, và văn hóa, nó được nở rộ trong thời kỳ đỉnh cao của một dân tộc.
Có một điểm nữa trên bản đồ này đó chính là đường kẻ chấm màu xanh. Cao trào trong cơ đồ của họ chính là Đế quốc dưới sự trị vì của Đa-vít, nhưng sau cao trào đó, mọi thứ đều đi xuống. Đó thực sự là một bi kịch, đó là lý do vì sao tất cả mọi người Giu-đa đều nhìn lại giai đoạn này, và mong ước được quay trở lại và cầu nguyện, Chúa ơi, xin hãy sai cho chúng con một Đa-vít khác. Hãy sai đến cho chúng con một Đấng Mê-si giống như Đa-vít. Thậm chí ngày nay, người Giu-đa vẫn mong thời kỳ mà con vua Đa-vít sẽ đến và khôi phục lại sự thịnh vượng cho họ.
Câu hỏi cuối cùng của các môn đồ đã đặt ra cho Chúa Giê-su trước khi Ngài thăng thiên. Đó là khi nào thì Ngài sẽ phục hồi lại Vương quốc cho Y-sơ-ra-ên. Bây giờ sau 2000 năm họ vẫn đang đặt ra câu hỏi đó.
Cơ đồ của họ, nhìn chung là đi lên nhưng sau đó, chỉ là đi xuống, nội chiến, chia ra thành mười chi phái phía Bắc, 2 chi phái phía Nam, đến tất cả các vua, đó là một câu chuyện rất buồn và nhơ nhớp. Trong tất cả các vua, đa số đều là những vị vua xấu. Một số bị ám sát. Họ có một nữ hoàng rất là khủng khiếp. Bởi vì ý muốn của Chúa là họ chỉ có vua thôi, chứ không có nữ hoàng.
Như vậy, sau 400 năm im lặng, không có lời nào từ Đức Chúa Trời, và chúng ta không nhìn thấy bất kì một phép lạ nào. Sau đó, một cách bất ngờ, mọi thứ lại bắt đầu lại, Giăng Báp-tít xuất hiện, bắt đầu rao giảng, vị thiên tri đầu tiên sau một khoảng thời gian rất lâu. Sau đó, Chúa Giê-su xuất hiện, và chúng ta có sự sinh ra, sự chết, sự phục sinh, sự thăng thiên của Ngài. Tân Ước bắt đầu, bao trùm giai đoạn chỉ khoảng 100 năm thậm chí ít hơn. Như vậy, toàn bộ Tân Ước được viết trong khoảng 100 năm, trong khi toàn bộ Cựu Ước là được viết về một giai đoạn đến 2000 năm. Nếu quay trở lại đến Sáng Thế Ký nữa thì còn là bao lâu?
Một người bạn của tôi, là giáo sư Lagard Smith, ông là giáo sư luật ở trường đại học Pepperdine, Malibu, California. Ông đã biên soạn một cuốn Kinh Thánh mà không có số chương và số câu được sắp xét theo trình tự lịch sử. Để bạn có thể đến với các tiên tri vào đúng thời điểm của họ và đọc câu chuyện của họ trong trình tự theo đúng như Đức Chúa Trời đã nói.

Cách người Do Thái phân chia Cựu Ước

Tôi e rằng việc sắp xếp Kinh Thánh theo trật tự hiện nay, đã không giúp ích cho chúng ta lắm, bởi vì chúng ta vì thế có xu hướng hay nghĩ về từng sách, một cách hơi khác so với cách người Doi Thái nghĩ về từng sách của Kinh Thánh Cựu Ước. Chúng ta thường chia Cựu Ước thành ba nhóm. Chúng ta thường nghĩ về các sách lịch sử từ Sáng Thế đến Ê-xơ tê được xếp theo trình tự lịch sự, tất nhiên nó có ích lợi để biết được trình tự lịch sử, tuy nhiên nó không hữu ích từ góc nhìn khác. Còn nhóm thứ hai trong Kinh Thánh của chúng ta đó là các sách thi ca, Gióp, Thi Thiên, Châm Ngôn, Truyền Đạo, Nhã Ca. Nhóm này cũng rất hiếm có lời giới thiệu, nên chúng ta không hiểu rằng sách đó là đang ở trong nhóm khác, ở trong thể loại khác hoặc là trong giai đoạn lịch sử khác. Sau đó tất cả các sách tiên tri được xếp thành đại tiên tri và tiểu tiên tri, nghĩa là sách lớn và sách nhỏ, không phải là nhân vật lớn hay nhỏ, hay là sứ điệp lớn hay nhỏ, nhưng đơn giản là sách dài hay ngắn. Chúng ta có rất nhiều sứ điệp của Ê-sai, của Giê-rê-mi, của Ê-xê-chi-ên, nhưng rất ít của Giô-ên, hoặc của Áp-đia. Nên những sách lớn thì được gọi là đại tiên tri, và sách nhỏ được gọi là tiểu tiên tri. Cựu Ước của chúng ta được phân loại như vậy, và nói thẳng ra là không hữu ích lắm.
Còn khi bạn đọc Kinh Thánh trong tiếng Hê-bơ-rơ, thì họ lại được chia ra thành ba nhóm rất rõ ràng, và khác với chúng ta. Năm sách đầu tiên không được coi là sách lịch sử, mà được coi là sách luật pháp. Nên họ không gọi là Sáng, Xuất, Lê, Dân, Phục, nhưng tựa đề của các sách này là từ đầu tiên ở trong cuộn sách mà khi họ mở ra, để nhận ra ngay là đang đọc cuộn sách nào. Những sách này được đọc và hiện tại cũng vẫn đang đọc hàng năm ở trong nhà hội. Một điều đáng ngạc nhiên nữa, đó là nhóm thứ hai được gọi là sách tiên tri. Một số sách mà chúng ta xếp là sách lịch sử, ví dụ như là sách Joshua, Các Quan Xét, Sa-mu-ên và Các Vua, thì họ lại gọi là sách tiền tiên tri, hay là các tiên tri thời đầu. Sau đó họ gọi các tiên tri khác là hậu tiên tri, hay là các tiên tri thời sau. Vì có các tiên tri trong đó, Giô-suê là tiên tri, Sa-mu-ên là tiên tri, nhưng đó không phải là lý do. Lý do đó là vò lịch sử của họ là lịch sử mang tính tiên tri. Lịch sử mang tính tiên tri thì khác so với lịch sử thông thường. Các sách lịch sử này được dựa trên hai tiêu chí, thứ nhất là lựa chọn và thứ hai là sự kết nối. Bất kỳ ai viết một sách lịch sử, thì điều đầu tiên người đó phải làm đó là lựa chọn điều mà họ sẽ đưa vào trong sách của mình, điều gì phải bỏ ra, bởi vì không ai có thể viết tất cả những điều đã xảy ra, về bất kỳ ai đó hay bất kỳ điều gì đó. Giăng cũng nói rằng nếu tất cả mọi điều Chúa Giê-su đã nói và làm đều được viết lại thì cả thế gian này cũng không chứa nỗi sách. Nên bất kỳ một sử gia nào cũng phải lựa chọn một số những sự kiện mà mình cho là quan trọng.
Nguyên tắc thứ hai đó là nguyên tắc về sự kết nối, rằng cái này dẫn đến cái kia, cái kia dẫn đến cái nọ. Tất cả các sách lịch sử đều được dựa trên hai nguyên tắc đó. Phải lựa chọn điều gì và kết nối ra sao. Lịch sử có tính tiên tri thì có câu trả lời cho cả hai nguyên tắc đó, nó chỉ lựa chọn điều mà quan trọng đối với Đức Chúa Trời. Nên không có gì với Đức Phật hay là khổng tử ở trong Kinh Thánh cả, mà chỉ lựa chọn điều gì là quan trọng đối với Đức Chúa Trời, và sau đó nó kết nối điều đó với điều gì xảy ra với dân sự của Chúa. Đó chính là sự kết nối. Nên những sách này được viết từ góc nhìn tiên tri, họ chỉ lựa chọn và kết nối với Đức Chúa Trời.
Nên sách Ru-tơ cũng như Sử Ký không có trong danh mục này vì chúng không phải là lịch sử mang tính tiên tri. Tất nhiên, câu chuyện về Ru-tơ được xếp sau sách Các Quan Xét và trước Sa-mu-ên trong Kinh Thánh của chúng ta là theo bối cảnh nó xảy ra. Nhưng nếu như bạn đọc sách Ru-tơ, bạn thấy rằng Ru-tơ không có phán điều gì ở đây cả. Đây là một câu chuyện rất dễ thương về tổ phụ của Đa-vít, nhưng không có câu Đức Chúa Trời và phán trong sách này, cả sách Sử Ký cũng vậy.
Như vậy họ có tiền tiên tri và hậu tiên tri, và tất cả các sách còn lại họ xếp vào danh mục được gọi là những lời, như sách Ru-tơ, Thi Ca, Ca thương,… và có lý do cho điều này. Điều thú vị là trên đường đến làng Em-mau, sau khi Chúa Giê-su phục sinh, Chúa Giê-su đã dạy Kinh Thánh, Ngài đã không làm điều này trong lúc Ngài còn sống trên đất, nhưng sau khi Ngài phục sinh thì Ngài đã dạy Kinh Thánh cho hai môn đồ. Kinh Thánh nói, Ngài dạy cho họ dựa trên sách Luật Pháp, sách Tiên Tri và các Tác Phẩm, tất cả những điều chỉ cho Ngài, chỉ cho họ tất cả những điều chỉ về Ngài trong cả Kinh Thánh. Như vậy, đối với Chúa Giê-su thì Cựu Ước được sắp xếp như vậy. Cá nhân tôi tin rằng chúng ta cũng nên sắp xếp như vậy, bởi vì cho chúng ta hiểu rằng đây không phải là lịch sử đơn thuần, mà là lịch sử có tính tiên tri.
Các sách Ngụy Kinh cũng là sách lịch sử. Ví dụ, có câu chuyện rất là thú vị trong lịch sử người Giu-đa vào thời của Maccabee, khi họ nổi loạn chống lại người Hy Lạp, khi người Hy Lạp đang chiếm xứ. Sau đó câu chuyện này được biến thành kịch thanh xướng. Nó chỉ là lịch sử đơn thuần, bạn có thể đọc nếu như bạn quan tâm. Nhưng nó không nói với bạn như là lời của Chúa, bởi vì nó không mang tính tiên tri. Còn lịch sử mang tính tiên tri là nói với chúng ta ngày nay, nên Đức Chúa Trời có thể nói với các bạn qua các sách của Cựu Ước. Nhưng nếu như tôi dạy các bạn từ sách Maccabee, thì điều đó sẽ không xảy ra. Nó cũng sẽ rất thú vị. Nhưng chỉ thế thôi.
Như vậy bạn có thể nhìn thấy tầm quan trọng của việc đây không chỉ là lịch sử, mà đây như là lời của Chúa, lời mang tính tiên tri của Chúa. Có một nguyên tắc đằng sau việc lựa chọn nhưng sách này. Tại sao họ lại không đưa các sách ngụy kinh vào đây, đó là vì những sách này được viết trong giai đoạn Đức Chúa Trời đang thể hiện Ngài là Đức Chúa Trời Hằng Sống, nghĩa là Ngài đang hoạt động tích cực trong thế giới này. Nên tất cả những sách này được ra đời trong cùng giai đoạn có tính chất tiên tri này, khi Chúa đang bận rộn, hoạt động với con người. Không có sách nào được viết trong giai đoạn im lặng cả.
Bây giờ bạn đã nhìn thấy được hình dạng của Cựu Ước chưa? Tôi nghĩ rằng điều này rất hữu ích, nếu như Kinh Thánh của chúng ta được sắp xếp theo kiểu như thế này, và lúc bây giờ chúng ta sẽ nhận được thông điệp một cách rõ ràng hơn. Tuy nhiên sắp như của chúng ta thì cũng không quá tệ.
Bây giờ thì xin nhắc lại các bạn một chút về bản đồ mà chúng ta đã xem khi chúng ta xem Sáng Thế Ký. Năm sách đầu tiên của Kinh Thánh là rất đặc biệt, vì năm sách này là cơ sở cho cả Kinh Thánh. Đó là sách luật pháp của Môi-se hay là Kinh Tô-ra. Có một khuôn mẫu rất là thú vị tại đây.

Năm sách đầu tiên của Kinh Thánh. Sáng Thế Ký nghĩa là khởi đầu. Xuất Ê-díp-tô Ký nghĩa là ra khỏi, Lê-vi là về chi phái Lê-vi. Dân số. Phục truyền, nghĩa là truyền lại luật pháp lần thứ hai. Hãy nhìn vào khuôn mẫu rất là kỳ lạ này. Đặt câu hỏi ai? Sáng Thế Ký là đề cập đến toàn bộ nhân loại. Xuất Ê-díp-tô Ký là bắt đầu đến đời sống dân tộc Y-sơ-ra-ên. Lê-vi là nói đến một chi phái, chi phái Lê-vi. Dân số thì lại là cả dân tộc Y-sơ-ra-ên. Phục Truyền thì một lần nữa lại phổ quát toàn bộ nhân loại. Sau đó là nơi nào? Bắt đầu là tại Canh-đê hay Ca-na-an, rồi Ai Cập, rồi sau đó núi Sinai, và sau đó qua Nê-gép, đến Ê-đôm, đến Mô-áp, và quay lại với Xứ Hứa.
Đặt câu hỏi là khi nào? Sáng Thế Ký là các thế kỷ, Xuất Ê-díp-tô Ký chỉ nói đến năm, 300 năm. Lê-vi là một tháng, Dân Số đề cập đến năm, 40 năm, và Phục Truyền thì lại đến các thế kỷ. Một khuôn mẫu rất là kì diệu, rất là hay, nhưng năm sách đó là phần quan trọng nhất của Cựu Ước. Bạn càng biết về các sách này thì bạn càng hiểu những phần còn lại của Cựu ước và cả Tân Ước nữa.
Nên những người Do Thái đã đúng khi họ đặc biệt nhấn mạnh đến 5 sách này. Chúng là nền tảng của cả Kinh Thánh.

Topics:
0 replies

Leave a Reply

Want to join the discussion?
Feel free to contribute!

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *