• TRANG CHỦ
  • NGƯỜI GIẢNG VÀ VIỆC GIẢNG LUẬN
  • THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH
  • THƯ VIỆN
    • THƯ VIỆN BÀI GIẢNG
  • GIỚI THIỆU
  • LIÊN HỆ
  • BLOG
  • PODCAST
  • Search
  • Menu
  • TRANG CHỦ
  • NGƯỜI GIẢNG VÀ VIỆC GIẢNG LUẬN
  • THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH
  • THƯ VIỆN
    • THƯ VIỆN BÀI GIẢNG
  • GIỚI THIỆU
  • LIÊN HỆ
  • BLOG
  • PODCAST
Giảng Luận Kinh Thánh
admin

5 DẤU HIỆU CHO THẤY BẠN CHƯA TRƯỞNG THÀNH THUỘC LINH

Tháng 6 30, 2026/0 Comments/in THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH, Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh /by admin

Câu hỏi về những dấu hiệu của sự trưởng thành thuộc linh dường như đang tạo ra một trong những cuộc tranh luận kỳ lạ nhất trong Hội Thánh Bắc Mỹ và phương Tây ngày nay.

Điều kỳ lạ là thế này: một số Cơ Đốc nhân lại đi chỉ trích những Cơ Đốc nhân khác vì họ không đủ “sâu nhiệm” hoặc không đủ tận hiến để trở thành những Cơ Đốc nhân “thật sự”. (Điều này nghe có thể không hề kỳ lạ đối với bạn lại chính là bằng chứng cho thấy vấn đề này đã trở nên quen thuộc đến mức nào.) Dường như có một nhóm Cơ Đốc nhân nào đó cho rằng họ đã nắm được bí quyết của sự trưởng thành thuộc linh, còn phần lớn chúng ta thì không.

Thế nhưng, điều mà chúng ta thường gọi là sự trưởng thành thuộc linh… thực ra lại không phải vậy. Thật vậy, ít nhất năm biểu hiện thường được xem là dấu hiệu của sự trưởng thành thuộc linh thực chất lại cho thấy bạn đang thiếu nó.

Vậy vấn đề này thường xuất hiện trong các cuộc trò chuyện như thế nào?

Trong các vòng lãnh đạo Hội Thánh, cuộc đối thoại thường bắt đầu bằng những câu hỏi như:

“Anh đang làm gì để môn đồ hóa những người của mình vậy?” (chữ môn đồ hóa thường được nhấn mạnh và nói bằng một giọng trầm hơn bình thường). Hoặc bằng những lời nhận xét mang tính xem thường như: “Vậy là anh thu hút được nhiều người đến Hội Thánh đấy, nhưng rồi sao nữa?”

Và hầu như lúc nào những câu nói ấy cũng được thốt ra với thái độ bề trên, như thể một số người nào đó sở hữu độc quyền về sự trưởng thành thuộc linh và thích thú nhìn những người theo Chúa khác lúng túng tìm câu trả lời, chỉ để rồi càng bộc lộ sự non trẻ của mình.

Tôi đã nhiều lần ở vị trí phải nghe những lời như vậy, bởi vì Hội Thánh chúng tôi tiếp cận được rất nhiều người mà bình thường sẽ không bao giờ bước chân vào nhà thờ.

5 Dấu Hiệu Tiêu Cực Bị Nhầm Là Sự Trưởng Thành Thuộc Linh

Trước khi trình bày danh sách này, xin hiểu rằng tôi không tự nhận mình là người “trưởng thành thuộc linh”. Tôi cũng không khẳng định mình đã hiểu trọn vẹn vấn đề này.

Tôi chỉ cho rằng có điều gì đó đang bị lệch lạc trong cách chúng ta đối thoại và định nghĩa về sự trưởng thành thuộc linh. Về phần cá nhân, tôi hy vọng mình đang trưởng thành hơn mỗi ngày. Nhưng tôi đã đạt đến đích chưa? Chắc chắn là chưa.

Sự môn đồ hóa là một tiến trình tự nhiên và kéo dài suốt đời. Nó liên quan đến điều mà các tín hữu thời xưa gọi là sự thánh hóa. Đó là tiến trình trở nên ngày càng thánh khiết hơn. Nếu bỏ đi vẻ xa lạ của từ ngữ này, nó đơn giản có nghĩa là “được biệt riêng ra”. Nói cách khác, bạn không còn là con người như trước đây nữa. Và tiến trình ấy tiếp tục cho đến ngày bạn qua đời.

Trong khi đó, nếu bạn muốn tiếp tục tăng trưởng, dưới đây là năm điều thường được xem là biểu hiện của sự trưởng thành thuộc linh trong nền văn hóa của chúng ta, nhưng thực ra có thể đang cho thấy điều ngược lại.

1. Tự Hào Về Lượng Kiến Thức Kinh Thánh Mình Có

Từ khi nào việc tự hào về những điều mình biết trong Kinh Thánh và coi thường những người biết ít hơn lại trở thành một điều tốt đẹp? Như sứ đồ Phao-lô đã nói: “Sự tri thức sinh kiêu căng, còn tình yêu thương gây dựng.”

Phao-lô biết rõ mình đang nói gì. Một số Cơ Đốc nhân phô bày kiến thức Kinh Thánh của mình như thể đó là một thành tích đáng khoe khoang. Điều đó hoàn toàn sai.

Khi còn nhỏ, tôi từng thắng không ít cuộc thi tra câu gốc Kinh Thánh (còn ai nhớ những cuộc thi đó không?). Và cho đến nay, tôi vẫn dành thời gian đọc và nghiên cứu Kinh Thánh hầu như mỗi ngày. Nhưng theo những gì tôi hiểu, Đức Chúa Trời muốn tôi dùng kiến thức ấy để trở thành một cây cầu nối với con người, chứ không phải một hàng rào ngăn cách nhằm chứng minh mình công chính hơn người khác. Bởi vì, lần cuối tôi kiểm tra thì tôi cũng chẳng công chính đến thế.

Hãy dùng Kinh Thánh như một cây cầu nối với văn hóa đương đại, chứ đừng biến nó thành bức tường ngăn cách với thế giới. Làm khác đi chỉ khiến chúng ta đứng chung vị trí với một nhóm tôn giáo mà Chúa Giê-xu đã nhiều lần quở trách gay gắt: những người Pha-ri-si.

Rốt cuộc, vấn đề chưa bao giờ là bạn biết bao nhiêu hay biết ít thế nào. Vấn đề là Đức Chúa Trời biết điều gì và Ngài yêu ai.

2. Coi Trọng Lẽ Thật Nhưng Thiếu Ân Điển

Theo cùng một cách đó, việc chỉ tập trung vào lẽ thật cũng là một vấn đề.

Tôi rất thích cách Giăng mô tả sự đến của Chúa Giê-su: Ngài đầy dẫy ân điển và lẽ thật.

Một trong những điều tôi yêu quý nhất nơi Chúa Giê-su là lẽ thật không bao giờ bị tách rời khỏi ân điển, và ân điển cũng không bao giờ bị tách rời khỏi lẽ thật. Ngài luôn bày tỏ ân điển khi công bố lẽ thật, bởi vì lẽ thật luôn nhằm dẫn con người đến với ân điển.

Tuy nhiên, một số người được xem là “trưởng thành” lại nghĩ rằng có thể đứng hẳn về một phía.

Họ nói: “Tôi là người của lẽ thật.”

Không đâu. Có lẽ bạn chỉ đang cư xử thô lỗ mà thôi. (Tôi nói điều này với tư cách một người vốn có xu hướng nghiêng về phía bảo vệ lẽ thật.)

Mỗi khi bị thôi thúc phải nói ra sự thật, tôi luôn phải đến trước mặt Đức Chúa Trời để kiểm tra xem điều đó có được thúc đẩy bởi ân điển hay không. Hãy thử tưởng tượng nếu tất cả chúng ta đều làm như vậy.

3. Coi Trọng Ân Điển Mà Thiếu Lẽ Thật

Điều ngược lại cũng đúng. Giống như lẽ thật không còn là lẽ thật khi thiếu ân điển, thì ân điển cũng không còn là ân điển khi bị tách khỏi lẽ thật. Một số người “trưởng thành” ở phía đối lập của phổ thần học lại né tránh lẽ thật như thể tình yêu có thể tồn tại mà không cần lập trường hay nền tảng.

Không. Ân điển có bộ xương sống. Và chúng ta đã đóng bộ xương ấy trên thập tự giá.

Bạn không thể tách ân điển khỏi lẽ thật cũng như không thể tách lẽ thật khỏi ân điển. Đó là một ranh giới vô cùng khó để giữ được sự cân bằng, nhưng chúng ta phải tìm ra nó. Ân điển không có lẽ thật không phải là sự trưởng thành. Cũng như lẽ thật không có ân điển không thực sự là lẽ thật. Rõ ràng, tất cả chúng ta đều cần một Đấng Cứu Thế trong vấn đề này. Và thật cảm tạ Chúa vì Ngài là hiện thân trọn vẹn của cả ân điển lẫn lẽ thật.

4. Khắc Nghiệt Với Người Ngoài Nhưng Lại Dễ Dãi Với Người Trong

Nhiều người tự xem mình là trưởng thành thuộc linh rất thích nói về việc thế giới này tồi tệ đến mức nào. Và đúng là nó rất tồi tệ. Chỉ cần đọc các bản tin mỗi ngày là đủ thấy điều đó. Đức Chúa Trời đã nhận định như vậy từ rất sớm, ngay trong Sáng Thế Ký chương 6: Đức Giê-hô-va thấy sự gian ác của loài người trên đất thật nhiều, và mọi ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn. Bản văn tiếp tục cho biết điều đó khiến lòng Ngài đau đớn.

Vậy Đức Chúa Trời đã làm gì? Ngài bắt đầu lại. Sau đó là con tàu của Nô-ê và cầu vồng giao ước.

Cuối cùng, sự đáp ứng của Đức Chúa Trời đối với nỗi đau ấy được bày tỏ trọn vẹn trong Chúa Giê-su. Như câu Kinh Thánh quen thuộc nhưng thường bị hiểu sai đã nói: Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài… Không phải để đoán phạt thế gian, nhưng để cứu thế gian.

Vậy tại sao nhiều Cơ Đốc nhân lại cư xử như thể Đức Chúa Trời ghét thế gian?

Người ta trả lời: “Vì thế gian bại hoại và đầy tội lỗi.” Nhưng sự thật là, hỡi Cơ Đốc nhân, chính bạn cũng bại hoại và phạm tội. Thế nhưng chúng ta thường lớn tiếng lên án tội lỗi của thế gian như thể thế gian không được phép phạm tội, trong khi lại rất dễ dãi với những thất bại đạo đức của chính mình.

Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta nói về những tội lỗi trong Hội Thánh như chuyện nói hành, tham ăn, chia rẽ và bè phái với cùng một sự nghiêm túc như khi nói về tội lỗi tình dục?

Điều gì sẽ xảy ra nếu Hội Thánh nghiêm túc xử lý tội lỗi của chính mình hơn tội lỗi của thế gian? Tôi nghĩ đó mới là điều chúng ta được kêu gọi làm.

Nếu bạn vẫn chưa bị thuyết phục, hãy nghiên cứu đời sống Chúa Giê-su. Bạn sẽ thấy Ngài luôn mời gọi những người bị xem là tội nhân khét tiếng và những người bị xã hội loại trừ đến với mình. Trong khi đó, những lời quở trách nặng nề nhất của Ngài lại dành cho những người lãnh đạo tôn giáo thời bấy giờ.

Chúng ta đang làm ngược lại. Nếu Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến như vậy, ai đã quyết định rằng chúng ta không nên yêu thương thế gian?

Và nếu mục tiêu của bạn là giúp người khác mở lòng với một Đức Chúa Trời yêu thương, tại sao bạn lại nghĩ rằng bắt đầu bằng sự phán xét là một chiến lược hiệu quả? Rất ít người được thay đổi bởi sự kết án. Nhưng rất nhiều người được thay đổi bởi tình yêu thương.

5. Nói Với Người Khác Rằng Mình Trưởng Thành Thuộc Linh

Điều này luôn khiến tôi khó hiểu.

Trong nhiều năm qua, không ít người đã kéo tôi sang một bên và hỏi: “Vậy Hội Thánh anh có chương trình gì dành cho những người trưởng thành thuộc linh như tôi không?”

Có lẽ tôi nên lùi lại để những người như thế rẽ đôi Biển Đỏ chăng.

Việc nói với người khác rằng mình trưởng thành thuộc linh cũng giống như nói với người khác rằng mình khôn ngoan. Chính điều đó lại là bằng chứng cho thấy có lẽ bạn không phải như vậy. Theo quan điểm của tôi, những người trưởng thành thuộc linh nhất thường cũng là những người khiêm nhường nhất. Nếu bạn đang phô trương sự trưởng thành của mình, thì rất có thể bạn vẫn còn cần tăng trưởng nhiều.

Bạn Nghĩ Thế Nào?

Tôi hy vọng bạn hiểu rằng những điều này không chỉ xuất phát từ sự thất vọng, mà còn từ tình yêu dành cho Đức Chúa Trời, cho Hội Thánh và cho thế giới.

Tôi rất mong cuộc trò chuyện về sự trưởng thành thuộc linh sẽ trở nên lành mạnh hơn.

Tôi tin rằng ngày nay Hội Thánh đang hiểu sai khá nhiều về vấn đề môn đồ hóa. Và tôi cũng tin rằng Hội Thánh cần một kiểu trưởng thành thuộc linh khác — một sự trưởng thành được đánh dấu bởi sự khiêm nhường, ân điển, lẽ thật, sự ăn năn và tình yêu thương, thay vì bởi sự tự mãn hay cảm giác mình vượt trội hơn người khác.

Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc

Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.

Link gốc bài viết: Spiritual Maturity: 5 Signs You DON’T Have It

admin

10 CUỘC THỨC TỈNHĐÃ ĐỊNH HÌNH MỘT QUỐC GIA – LỊCH SỬ PHẤN HƯNG TẠI MỸ

Tháng 6 25, 2026/0 Comments/in Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh, THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH /by admin

Nước Mỹ đã nhiều lần được Đức Thánh Linh thăm viếng hơn những gì hầu hết tín hữu nhận ra. Từ một hội thánh nhỏ trong thung lũng Connecticut năm 1734 cho đến những sân vận động bóng đá chật kín người vào thập niên 1990, lịch sử phấn hưng của quốc gia này giống như một biên niên sử về việc Đức Chúa Trời biến điều tưởng chừng không thể thành điều bình thường. Đây không phải là những chương trình được dàn dựng hay chiến dịch quảng bá. Chúng là những hành động chủ quyền của Đức Chúa Trời, làm đảo lộn bức tranh thuộc linh của cả vùng, thậm chí cả một thế hệ.

Hiểu biết về lịch sử đó ngày nay lại càng quan trọng. Khi văn hóa dường như trôi dạt về mặt thuộc linh và ảnh hưởng của Hội thánh có vẻ đang thu hẹp, thì ký ức về những gì Đức Chúa Trời đã từng làm trở thành bằng chứng mạnh mẽ nhất cho những gì Ngài vẫn có thể làm lần nữa.

Phấn Hưng là gì?

Trước khi lần theo lịch sử, cần định nghĩa thuật ngữ này. Phấn hưng không phải là một chương trình tăng trưởng hội thánh hay một sự kiện cuối tuần đông người tham dự. Jonathan Edwards, người chứng kiến cuộc thức tỉnh lớn đầu tiên trong lịch sử Mỹ, đã mô tả đó là việc Đức Chúa Trời bày tỏ “lòng thương xót tự do và chủ quyền của Ngài trong việc cứu rỗi một số đông linh hồn trong một khoảng thời gian ngắn” và biến đổi con người “từ một sự xưng nhận Cơ Đốc giáo hình thức, lạnh lùng và hờ hững sang việc thực hành sống động mọi ân điển Cơ Đốc.”

Nói ngắn gọn, phấn hưng là khi Đức Chúa Trời tăng tốc tiến trình thuộc linh vốn dĩ phải mất hàng thập kỷ. Con người cảm nhận sự hiện diện của Ngài cách mãnh liệt. Sự cáo trách trở nên sâu sắc và thật. Lời cầu nguyện trở nên khẩn thiết. Nhiều người được cứu, và những kẻ sa ngã quay trở lại. Phạm vi càng rộng lớn thì các sử gia càng gọi đó là một “Cuộc Thức Tỉnh Lớn.”

1. Cuộc Đại Thức Tỉnh (1734–1743)

Tháng 12 năm 1734, Jonathan Edwards, một Mục sư trẻ tại Northampton, Massachusetts, ghi nhận điều lạ thường xảy ra trong hội thánh của ông. Chỉ trong thời gian ngắn, năm hoặc sáu người đã được cứu, trong đó có một phụ nữ trẻ vốn nổi tiếng là kẻ gây rối nhất trong thị trấn. Thay vì dập tắt ngọn lửa, sự hoán cải của cô lại thổi bùng nó lên. Trong vòng sáu tháng, ba trăm linh hồn được cứu trong một thị trấn chỉ có 1.100 người.

Tin tức lan rộng khắp New England và xa hơn nữa. Những cuộc phấn hưng tương tự bùng nổ tại hơn 100 thị trấn. Rồi năm 1739, George Whitefield từ Anh đến. Các sử gia ước tính rằng 80% trong số 900.000 dân thuộc địa đã trực tiếp nghe ông giảng. Những buổi nhóm ngoài trời của ông thu hút đám đông đông đảo đến mức vẫn gây ấn tượng ngay cả theo tiêu chuẩn hiện đại. Theo nhiều ghi nhận, Whitefield trở thành, “ngôi sao đại chúng” đầu tiên của nước Mỹ.

2. Cuộc Đại Thức Tỉnh Thứ Hai (1800–1840)

Đầu thế kỷ 19, chỉ có 1 trong 15 người Mỹ thuộc về một hội thánh Tin Lành. Tỷ lệ này sắp thay đổi mạnh mẽ. Mục sư Trưởng Lão James McGready tổ chức những buổi nhóm trại bùng nổ tại Logan County, Kentucky, thu hút hàng ngàn người từ tận Ohio. Các phong trào kế tiếp lan khắp vùng biên cương. Năm 1824, Charles Finney bắt đầu chức vụ, dẫn đến khoảng 500.000 người tin nhận Đấng Christ. Riêng tại Rochester, New York, năm 1831 có 100.000 người được cứu, và sự thức tỉnh lan ra 1.500 thị trấn xung quanh. Đến năm 1850, dân số Mỹ tăng gấp bốn, nhưng tỷ lệ người gắn bó với hội thánh Tin Lành gần như tăng gấp đôi.

3. Phấn Hưng Giới Doanh Nhân (1857–1858)

Jeremiah Lanphier, một giáo sĩ thường dân, mở cửa hội thánh Bắc Hà Lan tại New York vào buổi trưa để cầu nguyện. Buổi đầu tiên ngày 23/9/1857 chỉ có sáu người. Rồi 20, rồi 40. Các buổi nhóm chuyển sang hằng ngày, rồi nhiều địa điểm. Ba tuần sau, khủng hoảng ngân hàng 1857 làm Wall Street sụp đổ. Khi khủng hoảng tài chính lan rộng, các buổi cầu nguyện nhân lên. Ước tính một triệu người được thêm vào sổ hội thánh, và một triệu tín hữu khác kinh nghiệm sự hoán cải thật. Đây được gọi là “Phấn Hưng Cầu Nguyện Lớn.”

4. Phấn Hưng Thời Nội Chiến (1861–1865)

Nội chiến là cuộc xung đột đẫm máu nhất của Mỹ, với hơn 620.000 người chết. Ban đầu, binh lính hai bên dường như bỏ lại Đức tin ở nhà. Nhưng từ năm 1862, đặc biệt trong quân đội miền Nam, sự thay đổi xảy ra. Ước tính 300.000 binh sĩ được cứu trong suốt cuộc chiến, chia đều giữa hai phe.

5. Phấn Hưng Đô Thị (1875–1885)

Dwight L. Moody, từng tham gia Phấn Hưng1857 tại Chicago, sau đó giảng cho hơn 2,5 triệu người ở Anh trước khi trở về Mỹ năm 1875 để khởi động các chiến dịch Phấn Hưngtại những thành phố lớn. Hàng trăm ngàn người được cứu, hàng triệu người được khích lệ.

Moody là nhà truyền giảng đầu tiên đối diện sự chống đối mạnh mẽ từ văn hóa chính thống. Ông bị cáo buộc dùng tôn giáo như thuốc phiện, báo trước những tranh luận sẽ gia tăng trong thế kỷ 20 khi thuyết Darwin và thần học tự do lan rộng.

6. Cuộc Phấn Hưng 1904–1905

Tin tức về Phấn Hưng xứ Wales lan đến cộng đồng di dân nói tiếng Wales ở Pennsylvania, khởi đầu một chuỗi phản ứng. Đến năm 1905, các cuộc Phấn Hưng bùng cháy tại Brooklyn, Michigan, Denver, Nebraska, hai bang Carolina, Georgia, và nhiều trường đại học như Yale, Asbury. Billy Sunday nổi lên trong thời kỳ này, sau đó giảng cho hơn 100 triệu người, với hơn một triệu người được cứu.

7. Phấn Hưng Đường Azusa (1906)

William J. Seymour, một Mục sư người Mỹ gốc Phi, đến Los Angeles năm 1906. Sau khi bị ngăn cấm sự phục vụ thứ hai, ông bắt đầu cầu nguyện tại một ngôi nhà. Sau nhiều tháng cầu nguyện kiên trì, Đức Thánh Linh giáng xuống cách quyền năng, khiến đám đông vượt quá sức chứa.

Họ chuyển đến một nhà thờ cũ tại số 312 Azusa Street, nơi các buổi nhóm diễn ra hằng ngày suốt ba năm. Hội chúng đa sắc tộc là điều cực kỳ cấp tiến thời đó. Phong trào Ngũ Tuần và sau này là phong trào Ân Tứ đều bắt nguồn từ đây, trở thành những dòng chảy phát triển nhanh nhất toàn cầu trong thế kỷ 20.

8. Phấn Hưng Sau Thế Chiến II (1947–1950)

Sau Thế chiến II, các tín hữu Ngũ Tuần kinh nghiệm hai dòng phục hưng: “Cơn mưa cuối mùa” và “Phấn Hưng Chữa Lành.” Đồng thời, nhiều tín hữu Tin Lành cũng chứng kiến sự cứu rỗi lớn lao. Một thế hệ lãnh đạo mới xuất hiện: Bill Bright sáng lập Campus Crusade for Christ; Billy Graham bùng nổ tại chiến dịch Los Angeles năm 1949. Graham sau đó giảng cho khoảng 180 triệu người trong gần 400 chiến dịch suốt sáu thập kỷ. Các cuộc Phấn hưng lan rộng tại nhiều trường đại học, đặc biệt khi Phấn hung Wheaton College năm 1950 được báo chí đưa tin, tạo hiệu ứng lan tỏa khắp nước Mỹ.

9. Phong Trào Ân Tứ và Phong Trào Giê-su (Cuối 1960s–1970s)

Hai dòng chảy song song: Phong trào Ân Tứ lan rộng vào cả Giáo hội Công giáo, các hệ phái Tin Lành chính thống và trường đại học. Phong trào Giê-su thì hướng năng lượng “lối sống tha hóa đi ngược văn hóa” của giới trẻ về Đấng Christ, đưa họ rời bỏ ma túy, tình dục phóng túng và chính trị cực đoan để đến với Kinh Thánh và sự hoán cải cá nhân. Một minh chứng nổi bật là Phấn hung Asbury College năm 1970, bắt đầu từ một buổi nhóm nhà nguyện và kéo dài nhiều tuần. Chỉ trong vài ngày, các nhóm truyền đi khắp đất nước. Đến năm 1976, Mỹ bầu chọn vị tổng thống đầu tiên công khai là người “tái sinh,” và phong trào Tin Lành bước vào thời kỳ hiện diện văn hóa mạnh mẽ.

10. Các Cuộc Phấn Hưng Giữa Thập Niên 1990

Dù xã hội thế tục hóa mạnh sau thập niên 1960–1970, Đức Chúa Trời lại hành động trong thập niên 1990, chủ yếu qua cộng đồng Ân Tứ và Ngũ Tuần. “Phước Lành Toronto” (1994) thu hút người từ khắp thế giới. Phấn hưng Brownsville tại Florida ghi nhận hơn 100.000 người được cứu trong hai năm. Các trường đại học cũng chứng kiến phong trào mới. Phong trào Promise Keepers bắt đầu năm 1991 với 4.200 người, rồi tăng lên 50.000 vào năm 1993. Đỉnh điểm là ngày 4/10/1997, hơn một triệu người tập trung tại Washington, D.C. để cầu nguyện và ăn năn. Đến năm 2000, Promise Keepers báo cáo tổng cộng năm triệu người tham dự các hội nghị.

10 Đặc Điểm Chung Của Mọi Cuộc Phấn Hưng

Mỗi cuộc thức tỉnh đều mang dấu ấn riêng. Phấn hung năm 1740 do giới trẻ dẫn đầu. Phấn h ưng cầu nguyện 1857 tập trung vào giới doanh nhân. Phấn hung Azusa Street năm 1906 nổi bật bởi tính đa sắc tộc trong bối cảnh xã hội phân biệt. Tuy nhiên, xuyên suốt tất cả, có những mẫu số chung luôn xuất hiện:

  1. Suy thoái thuộc linh và đạo đức đi trước Phấn Hưng: Đức Chúa Trời thường hành động khi nhiệt độ thuộc linh xuống thấp nhất và dân sự Ngài cảm nhận rõ nhất.
  2. Sự cầu nguyện khác thường: Trong mọi cuộc phấn hưng, Đức Chúa Trời đặt gánh nặng cầu nguyện vào lòng những người bình thường trước khi có bất cứ điều gì xảy ra bên ngoài.
  3. Giảng dạy Lời Đức Chúa Trời: Việc tiếp nhận sâu sắc và trực diện với Kinh Thánh tạo ra sự cáo trách khiến con người quỳ gối.
  4. Công việc của Đức Thánh Linh: Không có nỗ lực nào của con người có thể giải thích những gì xảy ra trong một cuộc Phấn hung thật. Đức Thánh Linh đưa con người đến những chiều sâu mà họ không thể tự đạt được.
  5. Sự cáo trách sâu sắc về tội lỗi: Người được ảnh hưởng không chỉ buồn bã; họ bị tan vỡ và không tìm thấy sự nghỉ ngơi cho đến khi đến với Đấng Christ.
  6. Chỉ một mình Đức Chúa Trời nhận vinh hiển: Những cuộc Phấn hung bền vững luôn hướng con người ra khỏi cá nhân và quay về với Đức Chúa Trời.
  7. Sự hoán cải lâu dài: Các chức vụ mới được khai sinh. Tình trạng đạo đức trong cộng đồng thay đổi. Kết quả là thật và tồn tại vượt quá phong trào ban đầu.
  8. Biểu hiện thể chất và cảm xúc: Ngất xỉu, khóc lóc, cầu nguyện rên siết, và những biểu hiện khác thường luôn đi kèm với Phấn hưng trong mọi truyền thống, thường gây tranh cãi.
  9. Tranh luận và hỗn độn: Lạm dụng, tranh chấp thần học, và thái quá luôn xuất hiện trong mọi cuộc Phấn hưng thật. Đức Chúa Trời không chờ đợi một khí cụ hoàn hảo.
  10. Phấn hưng lên cao rồi lắng xuống: Không cuộc thức tỉnh nào trong lịch sử Mỹ duy trì cường độ đỉnh cao mãi mãi. Chúng trỗi dậy, đạt đỉnh, rồi dần lắng xuống, để lại một bức tranh thuộc linh đã thay đổi.

Nước Mỹ có sẵn sàng cho một cuộc Phấn Hưng nữa không?

Phần lớn người Mỹ thường xuyên nói với các nhà thăm dò rằng họ tin đất nước đang đi sai hướng. Tỷ lệ đi nhà thờ so với dân số nhìn chung giữ ổn định từ giữa thế kỷ 20, nhưng ảnh hưởng văn hóa và đạo đức của Cơ Đốc giáo đã suy giảm đáng kể. Số lượng “Cơ Đốc nhân trên danh nghĩa” thì lớn, trong khi số người thật sự được biến đổi thì dường như nhỏ hơn.

Chính sự căng thẳng đó lại là bối cảnh quen thuộc cho mọi cuộc Phấn hung lớn trong lịch sử. Cơ Đốc giáo hiện diện nhưng không có quyền năng. Phổ biến nhưng không sâu sắc. Tình hình không vô vọng. Nó trở lên quen thuộc.

Nước Mỹ đã không chứng kiến một cuộc thức tỉnh mang tầm vóc quốc gia trong cả một thế hệ. Với lịch sử Phấn Hưngphong phú, nền tảng tín hữu đông đảo, và một thời điểm văn hóa đang kêu gào cho điều gì đó vượt quá khả năng của chính trị hay công nghệ, các điều kiện hiện tại rất dễ nhận ra.

Lịch sử cũng cho thấy một điều rõ ràng: Phấn Hưngquốc gia không thể được sản xuất hay dàn dựng. Chúng là hành động chủ quyền của Đức Chúa Trời, không phải sản phẩm của chiến lược. Nhưng Đức Chúa Trời luôn đáp lời những lời cầu nguyện khiêm nhường, ăn năn của dân sự Ngài. Lời mời gọi trong 2 Sử Ký 7:14 vẫn chưa hề hết hạn.

Lịch sử phục hưng thuộc linh tại Hoa Kỳ là gì?

Lịch sử phục hưng tại Hoa Kỳ đề cập đến những giai đoạn được ghi nhận trong đó xảy ra sự thức tỉnh thuộc linh mạnh mẽ và lan rộng, khi số lượng lớn người dân tin nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu và những tín hữu đã tin Chúa cũng trải nghiệm sự đổi mới sâu sắc trong đời sống đức tin. Các phong trào phục hưng lớn tại Hoa Kỳ trải dài từ cuộc thức tỉnh ở Northampton năm 1734 dưới chức vụ của Jonathan Edwards cho đến các phong trào trong thập niên 1990, mỗi phong trào đều để lại những tác động rõ rệt đối với xã hội và Hội Thánh.

Điều gì đã khởi đầu cuộc Đại Tỉnh Thức (Great Awakening) tại Hoa Kỳ?

Cuộc Đại Tỉnh Thức bắt đầu vào tháng 12 năm 1734 tại Northampton, bang Massachusetts, dưới chức vụ của Jonathan Edwards. Một loạt những trường hợp quy đạo đầy bất ngờ trong hội chúng của ông, bao gồm cả một phụ nữ trẻ có ảnh hưởng trong cộng đồng, đã nhanh chóng lan truyền khắp địa phương và các vùng lân cận. Đến năm 1739, những chuyến truyền giảng lưu động của nhà truyền đạo người Anh George Whitefield trên khắp các thuộc địa đã thổi bùng phong trào này thành một cuộc thức tỉnh thuộc linh trên quy mô toàn lục địa.

Những đặc điểm của một cuộc phấn hưng thuộc linh là gì?

Các cuộc phấn hưng chân chính thường có những đặc điểm chung sau: chúng xuất hiện trong những giai đoạn suy thoái về đạo đức và thuộc linh; được chuẩn bị trước bởi sự cầu nguyện tha thiết và đặc biệt; đi kèm với sự cáo trách sâu sắc về tội lỗi; và tạo ra những thay đổi rõ rệt, lâu dài trong đời sống cá nhân cũng như cộng đồng. Những biểu hiện thể chất, các tranh luận hoặc ý kiến trái chiều, cùng với tính chu kỳ của các phong trào phục hưng cũng xuất hiện trong hầu như mọi cuộc phấn hưng được ghi nhận trong lịch sử.

Cuộc phục hưng thuộc linh lớn gần đây nhất tại Hoa Kỳ diễn ra khi nào?

Phong trào phấn hưng được ghi nhận trên quy mô toàn quốc gần đây nhất tại Hoa Kỳ là làn sóng phấn hưng vào giữa thập niên 1990, bao gồm Phước Hạnh Toronto (Toronto Blessing), Phục Hưng Brownsville tại Pensacola, Florida, và các kỳ nhóm Promise Keepers, thu hút hơn một triệu nam giới đến Washington, D.C. vào năm 1997. Những cuộc phục hưng mang tính địa phương và trong các khuôn viên trường đại học, bao gồm một cuộc thức tỉnh đáng chú ý tại Asbury, vẫn tiếp tục xuất hiện trong thập niên 2020.

Hoa Kỳ có đang tiến gần đến một cuộc phấn hưng thuộc linh khác không?

Nhiều nhà sử học và thần học gia nhận thấy rằng Hoa Kỳ đã trải qua các cuộc phục hưng lớn khoảng mỗi 50 đến 60 năm một lần. Những điều kiện từng xuất hiện trước các cuộc thức tỉnh trong quá khứ — sự suy thoái đạo đức trên diện rộng, đức tin mang tính hình thức, và sự khao khát ngày càng tăng đối với một điều gì đó chân thật — cũng đang hiện diện trong xã hội ngày nay. Tuy nhiên, việc liệu một cuộc thức tỉnh thuộc linh trên phạm vi quốc gia có sắp xảy ra hay không hoàn toàn thuộc về ý muốn và thời điểm của Đức Chúa Trời; dù vậy, lịch sử cho thấy những điều kiện tiền đề ấy là điều có thể nhận biết được.

Tác giả: Patrick Morley (Churchleaders.com)

Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc

Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.

Link gốc bài viết: Revival History in America: 10 Awakenings That Shaped a Nation

admin

10 BÀI HỌC VỀ VIỆC NUÔI DẠY CON NHỎ

Tháng 6 11, 2026/0 Comments/in Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh, THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH /by admin

Con út của tôi sắp lên 10 và sẽ sớm bước vào độ tuổi ‘hai chữ số” cùng hai cô chị của nó. Điều này có nghĩa là Aileen, vợ tôi, và tôi đã “tốt nghiệp” – chuyển từ giai đoạn làm cha mẹ của những đứa trẻ nhỏ sang làm cha mẹ của những đứa trẻ lớn. Dĩ nhiên, việc nuôi dạy con vẫn còn nhiều phía trước, nhưng những năm tháng “con mọn” nay đã thuộc về quá khứ. Đó là những năm tháng vừa tuyệt vời vừa khó khăn, vừa dễ dàng vừa gian nan. Chúng đầy ắp niềm vui xen lẫn thử thách. Có lúc chúng tôi làm tốt, có lúc chúng tôi thất bại, chắc chắn là vậy. Và giờ thì tất cả đã ở phía sau. Trước khi ký ức trở nên mờ nhạt theo dòng thời gian, chúng tôi quyết định ghi lại vài bài học đã rút ra trong những năm tháng nuôi dạy con nhỏ. Có lẽ bạn sẽ thấy hữu ích.

1. Hãy nhớ rằng sự nổi loạn của con trước hết là chống lại Đức Chúa Trời, không phải chống lại bạn.

Trẻ em sinh ra vốn là tội nhân và cần một Đấng Cứu Rỗi. Gần như trước khi chúng có thể bày tỏ điều gì khác, chúng đã có thể bày tỏ sự nổi loạn chống lại cha mẹ. Càng lớn, sự nổi loạn ấy chỉ gia tăng – khi ồn ào, công khai; lúc lại âm thầm, lặng lẽ. Chúng tôi thường phải tự nhắc mình rằng sự nổi loạn ấy không phải chống lại chúng tôi trướ hết, mà là chống lại Đức Chúa Trời. Chúng chống đối chúng tôi, chống đối thẩm quyền và luật lệ của chúng tôi, nhưng tận cùng chúng đang chống nghịch với Đức Chúa Trời. Nhận thức đơn giản này giúp chúng tôi biết thương xót, cầu nguyện cho chúng, và một lần nữa nói với chúng về Chúa Giê-su.

2. Hãy cầu nguyện. Cầu nguyện, cầu nguyện và cầu nguyện!

Hãy cầu nguyện cho con cái bạn. Cầu nguyện cách kiên định, bền bỉ, tha thiết, chân thành và liên tục. Cầu nguyện cho thân thể, linh hồn và cuộc đời chúng. Cầu nguyện cho tình bạn và các mối quan hệ của chúng. Cầu nguyện cho việc học hành và người bạn đời tương lai. Hãy cầu nguyện cho chúng, cầu nguyện cùng chúng, cầu nguyện cho chúng, trước mặt chúng. Cầu nguyện cho chúng với hội thánh. Cầu nguyện cho chúng với người phối ngẫu. Cầu nguyện với niềm vui và cả trong nước mắt. Cầu nguyện như thể lời cầu nguyện thật sự quan trọng. Trên hết, hãy cầu nguyện. Bạn cần điều đó, chúng cần điều đó, và Đức Chúa Trời tôn trọng điều đó.

3. Trông đợi rằng Đức Chúa Trời sẽ cứu chúng.

Là cha mẹ Cơ Đốc, bạn có thể có niềm tin cậy lớn lao rằng Đức Chúa Trời sẽ cứu con cái bạn. Sự tin cậy này không dựa trên việc chúng là ai, sinh ra trong gia đình nào, hay dựa trên bất cứ điều gì đã làm cho chúng. Thay vào đó, nó dựa trên bản tính của Đức Chúa Trời (Đấng yêu thích cứu kẻ lạc mất) và phương tiện Ngài dùng (Phúc âm). Nếu bạn nuôi dạy con cái trong bầu khí thấm đẫm Phúc âm, bạn có thể tin chắc rằng chúng sẽ đáp ứng với Tin Lành. Tuy nhiên, cũng phải nói thêm điều này: Dù con bạn có thể thật sự được cứu khi còn rất nhỏ, đừng ngạc nhiên nếu cả bạn lẫn chúng chưa có sự xác quyết mạnh mẽ về sự cứu rỗi cho đến khi chúng trưởng thành và chín chắn hơn. Điều đó không sao, bởi vì dù đã tin hay chưa, nhu cầu của chúng vẫn giống nhau – vẫn là Tin Lành thôi.

4. Hãy coi trọng hội thánh (và nếu có thể, gắn bó với một hội thánh).

Hãy đặt việc thờ phượng và phục vụ tại hội thánh lên hàng đầu, và bất cứ khi nào có thể, hãy gắn bó với một hội thánh duy nhất. Không có kỷ luật gia đình nào tốt hơn việc cam kết với một hội thánh địa phương như môi trường để thờ phượng Đức Chúa Trời và phục vụ dân sự Ngài. Bạn chỉ có thể dạy điều này cho con bằng cách làm gương, bằng cách ưu tiên cho việc đó. Và có điều gì đó thật tốt lành, thật trong sáng khi trẻ em lớn lên trong một hội thánh, giữa một nhóm người duy nhất. Thật vui mừng khi được ở cùng những tín hữu đã biết và yêu thương con bạn từ khi chúng chào đời, và tiếp tục biết và yêu thương chúng khi bước vào tuổi trưởng thành.

5. Dạy con biết cách giao tiếp với người lớn.

Liên quan đến hội thánh, hãy tạo cơ hội cho con bạn được ở gần những người lớn khác. Chúng ta thường chú trọng xây dựng tình bạn giữa trẻ với trẻ, nhưng lại dễ bỏ qua việc giúp con xây dựng mối quan hệ với người lớn – những người có thể yêu thương, cầu nguyện, hướng dẫn và dìu dắt chúng khi trưởng thành. Bạn bè của bạn cũng có thể (và nên!) trở thành bạn của con bạn. Đừng ngại để người lớn khác có ảnh hưởng đến chúng. Đừng ngại, ngay cả khi chúng còn nhỏ, gợi ý: “Sao con không thử nói chuyện với _____ về điều đó.” Để nuôi dạy một đứa trẻ cần cả hội thánh.

6. Tự tin nhưng khiêm nhường trong việc làm cha mẹ.

Có những cặp vợ chồng đọc đủ loại sách, biết rõ trước khi sinh con đầu lòng rằng họ sẽ nuôi dạy thế nào, và theo chương trình đó đến cùng. Những cặp khác thì bỏ sách lại, chỉ đọc Kinh Thánh, cầu nguyện và đơn giản làm theo bản năng. Bằng cách nào đó, cả hai cách đều có thể hiệu quả, và chúng ta đều có thể nghĩ đến những đứa trẻ tin kính Chúa được nuôi dạy theo cả hai cách. Aileen và tôi học được rằng chúng tôi cần vừa tự tin vừa khiêm nhường trong cách nuôi dạy con – tự tin đủ để không liên tục thay đổi mô hình nuôi dạy, nhưng khiêm nhường đủ để học hỏi từ người khác, và nhất là luôn để Lời Chúa thách thức và sửa dạy mình.

7. Ưu tiên giờ tĩnh nguyện gia đình.

Ngoài việc đi nhà thờ, giờ tĩnh nguyện gia đình là kỷ luật quan trọng nhất mà gia đình bạn có thể thực hiện. Đây là điều cần bắt đầu và nhấn mạnh trong những năm con còn nhỏ, bởi vì bạn có tin hay không thì cuộc sống vẫn càng thêm bận rộn khi chúng lớn lên. Giờ là lúc để hình thành thói quen đó. Hãy bắt đầu ngay để con bạn không bao giờ phải nhớ đến giai đoạn mà gia đình của bạn không có thời gian thờ phượng cùng nhau. Aileen và tôi đã được khích lệ lạ lùng khi con trai chúng tôi kể lại với hội thánh cách Chúa cứu nó, và nhắc đến “sự cam kết như các chiến binh Spartan” trong gia đình tôi đối với giờ tĩnh nguyện.” Cháu nó nói vui thôi, nhưng thật là phước hạnh khi nghe thấy tầm quan trọng của điều đó trong đời sống cháu (nhất là khi chúng tôi rất ý thức về những lần bỏ lỡ, thất bại hay quên mất). Chúng tôi luôn tin rằng việc đơn giản mở Kinh Thánh và cầu nguyện chung vài phút mỗi ngày có tầm quan trọng vượt trội. Chúng tôi tin chắc rằng Đức Chúa Trời dùng điều đó để củng cố gia đình và cứu linh hồn.

8. Hiểu rằng đôi khi làm cha mẹ chỉ là cố gắng “sống sót”.

Trong những năm con còn nhỏ, nhiều khi việc làm cha mẹ thực chất chỉ là cố gắng “sống sót” – sống sót qua việc cho con bú, mọc răng, sốt, ăn vạ; sống sót khi đã nhiều tuần không có một giấc ngủ ngon và bạn chắc chắn rằng mình không thể chịu thêm một đêm nào nữa. Chúng tôi học được rằng trong những lúc khó khăn này, có thể phá vỡ vài quy tắc hay sở thích trong nuôi dạy con để giữ sự sống còn và tỉnh táo. Em bé có ngủ trong phòng hay trên giường bạn vài đêm hay vài tuần thì bạn cũng không làm mất linh hồn nó đâu. Nếu bạn cho con ngậm núm vú giả thì cũng không phải vì thế mà nó trở thành tội phạm. Đôi khi bạn thua những trận chiến nhỏ, và phải chấp nhận điều đó.

9. Ưu tiên cho hôn nhân của bạn.

Nuôi dạy con là thử thách lớn nhất và khó nhất mà hôn nhân của bạn sẽ đối diện. Không thể nào thêm vài cá tính mới vào gia đình mà lại không gây áp lực lên hôn nhân. Dù hôn nhân và con cái được thiết kế để hòa hợp, bạn sẽ thấy chúng thường cạnh tranh nhau. Nhưng hôn nhân phải được đặt lên hàng đầu. Sự ổn định của một hôn nhân mạnh mẽ, yêu thương, trìu mến sẽ neo giữ con cái, cho chúng sự tự tin rằng bất cứ điều gì xảy ra trong đời, hôn nhân này vẫn vững chắc. Hãy tìm và tạo cơ hội để ưu tiên và củng cố hôn nhân theo cách con cái có thể thấy và cả theo cách chúng không thấy. Dù thế nào, chúng cũng sẽ được hưởng lợi.

10. Cho con ân điển.

Hãy ban ân điển cho con, không chỉ toàn sửa phạt. Hãy chúng rằng bất tuân sẽ có hậu quả và kỷ luật chúng với sự nhất quán và nhân từ. Nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Đôi khi hiệu quả hơn lại là bày tỏ lòng thương xót để phản ánh lòng thương xót mà Đức Chúa Trời đã dành cho bạn. Thậm chí đôi lúc bạn có thể quyết định bỏ qua một lỗi lầm để tập trung xử lý một loại tội lỗi khác. Hãy ban ân điển và bày tỏ lòng thương xót. Đừng chỉ kể cho chúng nghe Phúc âm, mà hãy làm gương trong cách bạn đối xử với chúng.

Ghi chú thêm về câu “Hãy trông đợi Đức Chúa Trời sẽ cứu con cái mình”:

Tất nhiên, Đức Chúa Trời không có nghĩa vụ phải ban sự cứu rỗi cho con cái bạn. Theo ý muốn tể trị và tốt lành của Ngài, Ngài có thể không cứu chúng, hoặc chỉ dẫn chúng đến sự cứu rỗi khi chúng đã trưởng thành hay ở một giai đoạn rất muộn trong đời. Tuy vậy, điều đó không nên làm bạn mất niềm tin rằng những đứa trẻ được nuôi dưỡng trong môi trường thấm nhuần Phúc Âm ngay từ nhỏ thường có nhiều khả năng tiếp nhận và đáp lại sứ điệp Phúc Âm.

Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc

Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.

Link gốc bài viết: https://www.challies.com/articles/10-lessons-on-parenting-little-ones/

Đọc nhiều

  • ĐÔI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI VÀ THÀNH TỰU CỦA BLAISE PASCAL
  • Mười Lời Cầu Nguyện Cho Năm Mới 2022
  • CHÂN DUNG NGƯỜI NỮ THEO KINH THÁNH
  • “Vết Xe Đổ” Của Các Mục Sư Sa Ngã
  • 14 Sự Thật Đáng Kinh Ngạc Về Các Mục Sư

Mới nhất

  • GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT MÀ KHÔNG LÀM CHIA RẼ HỘI THÁNHTháng 7 10, 2026 - 8:02 sáng
  • 5 DẤU HIỆU CHO THẤY BẠN CHƯA TRƯỞNG THÀNH THUỘC LINHTháng 6 30, 2026 - 9:08 sáng
  • 10 CUỘC THỨC TỈNHĐÃ ĐỊNH HÌNH MỘT QUỐC GIA – LỊCH SỬ PHẤN HƯNG TẠI MỸTháng 6 25, 2026 - 10:32 sáng
  • 10 BÀI HỌC VỀ VIỆC NUÔI DẠY CON NHỎTháng 6 11, 2026 - 2:00 chiều
  • CHUYỂN GIAO CHỨC VỤ: ĐỂ HỘI THÁNH TIẾP TỤC THÀNH CÔNG KHI BẠN ĐÃ RỜI ĐITháng 5 30, 2026 - 2:22 chiều
Tháng 6 2026
H B T N S B C
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
2930  
« Th5   Th7 »
© Copyright - Giảng Luận Kinh Thánh - Enfold Theme by Kriesi
  • Facebook
  • Youtube
Scroll to top