• TRANG CHỦ
  • NGƯỜI GIẢNG VÀ VIỆC GIẢNG LUẬN
  • THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH
  • THƯ VIỆN
    • THƯ VIỆN BÀI GIẢNG
  • GIỚI THIỆU
  • LIÊN HỆ
  • BLOG
  • PODCAST
  • Search
  • Menu
  • TRANG CHỦ
  • NGƯỜI GIẢNG VÀ VIỆC GIẢNG LUẬN
  • THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH
  • THƯ VIỆN
    • THƯ VIỆN BÀI GIẢNG
  • GIỚI THIỆU
  • LIÊN HỆ
  • BLOG
  • PODCAST
Giảng Luận Kinh Thánh
admin

9 LÝ DO VÌ SAO HỘI CHÚNG KHÔNG THAM GIA HÁT THỜ PHƯỢNG

Tháng 2 2, 2026/0 Comments/in THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH, Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh /by admin

Có những người hướng dẫn thờ phượng trên khắp thế giới, thật đáng buồn, đang biến (dù thường là không chủ ý) sự thờ phượng của hội thánh thành một sự kiện mang tính biểu diễn, thể hiện rõ qua việc thiếu vắng tiếng hát thờ phượng từ hội chúng. Nhưng trước khi bàn về tình trạng hiện tại, hãy nhìn lại lịch sử.

Trước thời Cải Chánh, sự thờ phượng phần lớn được thực hiện cho hội chúng. Âm nhạc do các nhạc công chuyên nghiệp trình diễn và được hát bằng một ngôn ngữ xa lạ (Latin).

Phong trào Cải Chánh đã trả lại sự thờ phượng cho hội chúng, bao gồm việc hội thánh cùng hát thánh ca. Những bài hát có giai điệu đơn giản, dễ hát, với lời ca vững chắc dựa trên Kinh Thánh và bằng ngôn ngữ của dân chúng.

Việc hát thờ phượng một lần nữa trở thành hoạt động mà mọi người cùng được tham gia. Sự ra đời của sách thánh ca in ấn đã mang đến một sự bùng nổ trong việc hát thánh ca của hội chúng, và tình yêu ca hát của hội thánh ngày càng gia tăng.

Sau đó, công nghệ trình chiếu xuất hiện. Các hội thánh bắt đầu chiếu lời bài hát lên màn hình. Số lượng bài hát mà hội thánh có thể sử dụng tăng lên theo cấp số nhân.

Ban đầu, sự tiến bộ công nghệ này giúp việc hát thờ phượng của hội chúng trở nên mạnh mẽ hơn, nhưng chẳng bao lâu sau, sự thay đổi trong cách dẫn dắt thờ phượng đã khiến hội chúng quay trở lại tình trạng thụ động như trước thời Cải Chánh.

Điều đang diễn ra có thể được tóm gọn là: sự chuyên nghiệp hóa trở lại của âm nhạc nhà thờ và việc đánh mất mục tiêu cốt lõi của sự dẫn dắt thờ phượng — giúp dân sự tham gia hát thờ phượng.

Nói một cách đơn giản, chúng ta đang tạo ra một văn hóa khán giả, nơi người ta né tránh hát thờ phượng trong hội thánh. Chúng ta đang biến môi trường thờ phượng vốn nên mang tính tham gia thành một sự kiện ca nhạc. Sự thờ phượng hiện đang quay về tình trạng lộn xộn trước thời Cải Chánh.

9 Lý Do Hội Chúng Không Tham Gia Hát Thờ Phượng

  1. Họ không biết bài hát. Với việc các bài hát mới được phát hành hàng tuần và nhiều bài hát sáng tác tại địa phương, người hướng dẫn thờ phượng liên tục đưa vào những bài hát mới nhất. Dĩ nhiên, chúng ta nên hát những bài hát mới. Nhưng nếu đưa quá nhiều bài mới vào thì sẽ giết chết sự tham gia và biến hội chúng thành khán giả. Tôi thường thấy điều này. Tôi khuyên chỉ nên dùng tối đa một bài mới trong một buổi thờ phượng, rồi lặp lại trong vài tuần để hội chúng trở nên quen thuộc. Người ta thờ phượng tốt nhất với những bài hát họ biết, nên chúng ta cần dạy và củng cố những bài hát thờ phượng mới.
  2. Chúng ta hát những bài không phù hợp cho hội chúng. Có rất nhiều bài hát thờ phượng mới tuyệt vời, nhưng trong số đó, nhiều bài không phù hợp để hội chúng hát vì tiết tấu quá khó hoặc âm vực quá rộng (hãy nghĩ đến ca sĩ bình thường, không phải ca sĩ chuyên nghiệp trên sân khấu).
  3. Chúng ta hát ở tông quá cao so với người hát trung bình. Hội chúng thường có âm vực hạn chế và không cao. Khi chúng ta chọn tông quá cao, họ sẽ ngừng hát, mệt mỏi và cuối cùng bỏ cuộc, trở thành khán giả. Trách nhiệm của chúng ta là giúp hội chúng hát ngợi khen, chứ không phải phô diễn giọng hát sân khấu. Âm vực cơ bản của người hát trung bình là từ A đến D (một quãng tám cộng một quãng bốn).
  4. Hội chúng không nghe được người xung quanh hát thờ phượng. Nhạc quá lớn khiến người ta không nghe được nhau hát. Ngược lại, nếu nhạc quá nhỏ, hội chúng sẽ không hát mạnh mẽ được. Hãy tìm sự cân bằng — mạnh mẽ nhưng không lấn át.
  5. Chúng ta đã biến hát thờ phượng thành sự kiện biểu diễn. Tôi ủng hộ việc tạo môi trường tốt cho hát thờ phượng, với ánh sáng, hình ảnh, nghệ thuật… Nhưng khi môi trường đó khiến sự chú ý dồn hết vào người trên sân khấu hoặc làm phân tâm khỏi việc thờ phượng Đức Chúa Trời, thì chúng ta đã đi quá xa. Hướng tới sự xuất sắc là điều nên làm, nhưng đừng hướng tới biểu diễn chuyên nghiệp.
  6. Hội chúng cảm thấy họ không được kỳ vọng sẽ hát. Người hướng dẫn thờ phượng thường quá tập trung vào việc sản xuất chuyên nghiệp mà quên đi sự chân thật, không mời gọi hội chúng tham gia, và không tạo điều kiện để họ hát những bài quen thuộc, những bài mới được giới thiệu đúng cách, và tất cả trong âm vực phù hợp.
  7. Chúng ta thiếu một kho thánh ca chung. Với quá nhiều bài hát mới, việc lên kế hoạch thờ phượng trở nên ngẫu hứng, chọn bài từ nhiều nguồn mà không củng cố để hội chúng coi đó là những bài hát thường xuyên trong sự thờ phượng. Ngày xưa, sách thánh ca là kho lưu trữ. Ngày nay, chúng ta cần tạo danh sách bài hát để dùng trong việc lên kế hoạch thờ phượng.
  8. Người hướng dẫn thờ phượng ngẫu hứng (phiêu) quá nhiều. Hãy giữ giai điệu rõ ràng và mạnh mẽ. Hội chúng là những “con chiên” với âm vực và khả năng âm nhạc hạn chế. Khi chúng ta rời khỏi giai điệu để “phiêu”, họ cố gắng theo nhưng rồi thất vọng và bỏ cuộc. Một chút ngẫu hứng có thể làm phong phú sự thờ phượng, nhưng đừng để nó làm lạc hướng hội chúng.
  9. Người hướng dẫn thờ phượng không kết nối với hội chúng. Chúng ta thường bị cuốn vào việc sản xuất âm nhạc tuyệt vời mà quên mất mục tiêu là giúp hội chúng cất tiếng thờ phượng. Hãy cho họ biết bạn mong họ hát. Hãy trích dẫn Kinh Thánh để khích lệ họ bày tỏ sự thờ phượng. Luôn chú ý xem hội chúng có theo kịp không và điều chỉnh khi cần.

Khi người hướng dẫn thờ phượng lấy lại tầm nhìn về việc giúp hội chúng trở thành những người tham gia trong hành trình thờ phượng chung, tôi tin rằng chúng ta có thể một lần nữa trả lại sự thờ phượng cho dân sự.

Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc

Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.

Link bài viết gốc: https://churchleaders.com/worship/worship-articles/322497-nine-reasons-people-arent-singing-worship-kenny-lamm.html

admin

VÌ SAO CHÚNG TA NÊN KIÊN TRÌ CẦU NGUYỆN?

Tháng 1 24, 2026/0 Comments/in THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH, Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh /by admin

Hồi các con tôi còn nhỏ, chúng hay xin tôi mua thứ này thứ kia. Xin một lần chưa được thì xin lần nữa, rồi lần nữa. Lúc đó chúng chưa tự kiếm tiền được, nên muốn gì cũng phải nhờ ba mẹ — khi thì đòi điện thoại, lớn hơn chút thì đòi xe máy. Nói thật, nghe xin hoài cũng mệt. Xin riết, đôi khi thành ra mè nheo, thành ra năn nỉ.

Cầu nguyện đôi khi cũng cho ta cảm giác giống vậy, phải không?

Ta cảm thấy như mình đang cố lay động cánh tay một Đức Chúa Trời miễn cưỡng. Như đang gõ cửa một người Cha đã khép lòng. Như đang xin xỏ từng đồng từ bậc sinh thành nghèo túng. Ta khao khát một điều tốt đẹp, nhưng Chúa mãi im lặng — nên ta ngại ngùng, rồi dần nản lòng.

Nhưng có một điều khác biệt rất lớn giữa cha mẹ trần gian và Cha trên trời.

Chính Chúa Bảo Chúng Ta Phải Kiên Trì Cầu Nguyện.

Ngài không chỉ cho phép — Ngài ra lệnh. Chúa Giê-su từng kể một câu chuyện để “dạy rằng phải cầu nguyện luôn, đừng nản lòng” (Lu-ca 18:1). Chuyện kể về một bà góa nghèo, ngày ngày đến gặp quan tòa, xin ông xử cho bà được công bằng. Bà xin hoài, xin mãi, kiên nhẫn như nước chảy đá mòn, đến nỗi ông quan chịu không thấu, phải thuận theo ý bà.

Ý Chúa Giê-su muốn nói là: Nếu một ông quan bất chính mà còn xiêu lòng, thì Đức Chúa Trời nhân từ của chúng ta chắc chắn sẽ lắng nghe hơn gấp bội phần.

Vậy nên, ta có thể — và nên — kiên trì cầu nguyện. Đó là điều Chúa mong muốn.

Nhưng còn một lý do nữa, và lý do này khiến lòng tôi được an ủi rất nhiều.

Chúa Không Bị Giới Hạn Trong Thời Gian Như Chúng Ta.

Chúng ta sống từng ngày, từng giờ, từng phút. Hôm qua đã xa, ngày mai chưa tới, chỉ có hiện tại là thật. Khi cầu nguyện một điều gì đó lâu ngày mà chưa thấy hồi âm, ta dễ mệt mỏi, dễ nguội lạnh, dễ để lời khẩn cầu chìm dần vào quên lãng.

Nhưng Chúa thì khác hẳn.

Ngài có trước khi thời gian bắt đầu. Ngài đứng ngoài dòng chảy của năm tháng. Ngài không lớn lên, không già đi, không phai nhạt theo mùa. Kinh Thánh chép rằng: “Một ngàn năm trước mắt Chúa chỉ như ngày hôm qua đã qua, như một canh đêm” (Thi thiên 90:4).

Điều này nghĩa là gì?

Với Chúa, lời cầu nguyện bạn thưa lên tuần trước và lời cầu nguyện sáng nay — đều giống nhau. Lời bạn khẩn cầu mười năm trước và lời bạn thì thầm đêm qua — đều tươi mới như nhau trước mặt Ngài. Không có lời nào cũ kỹ. Không có lời nào bị chôn vùi trong quá khứ. Tất cả đều hiện diện, sống động, ngay trước ngai Ngài.

Thời gian có thể bào mòn lòng bạn, nhưng thời gian không tác động được đến Chúa.

Năm tháng có thể khiến bạn quên, nhưng Chúa thì nhớ mãi.

Hãy thử nghĩ điều này:

Những lời cầu nguyện của các môn đồ đầu tiên, cách nay đã hai ngàn năm, Chúa có thể vẫn đang đáp lời. Bởi với Ngài, hai ngàn năm chẳng khác gì một buổi chiều.

Hai mươi năm sau khi bạn nhắm mắt xuôi tay, lời cầu nguyện đầu tiên và lời cầu nguyện cuối cùng của bạn vẫn còn vẹn nguyên trong trí Chúa — tươi mới như thể vừa thốt ra. Bạn rồi sẽ cạn thời gian để cầu xin, nhưng Chúa không bao giờ cạn thời gian để đáp lời. Có những lời bạn dâng lên hôm nay, phải đến trăm năm sau mới thấy được Ngài nhậm lời như thế nào — và lúc ấy, bạn đã ở trong cõi vĩnh hằng rồi.

Tôi thường nghĩ đến hình ảnh này:

Ánh sáng từ mặt trời mất tám phút để chạm đến mặt đất. Ánh sáng từ những vì sao xa xăm phải mất hàng chục năm, hàng trăm năm, có khi cả ngàn năm. Nhưng rồi tất cả đều đến. Khi ta ngước nhìn bầu trời đêm, ta thấy muôn triệu ánh sao lấp lánh cùng một lúc — ánh sáng từ khắp nơi trong vũ trụ hội tụ trong đôi mắt nhỏ bé của ta.

Lời cầu nguyện của chúng ta cũng vậy.

Mọi lời khẩn cầu của dân Chúa, từ muôn nơi muôn thuở, đều vang đến tai Ngài, hiện diện trước ngai Ngài như một bản hợp ca vĩ đại. Và như cách Ngài biết rõ từng ngôi sao, đặt tên cho từng vì tinh tú, Ngài cũng biết rõ từng lời cầu nguyện của bạn. Ngài lắng nghe. Ngài trân trọng. Ngài vui lòng đón nhận.

Tất cả đều ở trước mặt Ngài.

Không một lời nào bị lãng quên — hôm qua, hôm nay, hay mãi mãi về sau.

Tác giả: Tim Challies

Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc

Quan điểm của bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.

Link bài viết gốc: https://www.challies.com/articles/why-we-can-persevere-in-prayer/

admin

Bốn Thực Hành Giảng Luận Đầy Quyền Năng từ Martin Luther King Jr.

Tháng 1 22, 2026/0 Comments/in Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh, THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH /by admin

Martin Luther King Jr. thấu hiểu bối cảnh, phát triển câu dễ nhớ, đưa ra những thách thức đầy thuyết phục và vận dụng các phép ẩn dụ.

Những bài thuyết giảng của Martin Luther King Jr. không đơn thuần chỉ truyền cảm hứng cho một hội chúng – điều vốn dĩ đã là một nhiệm vụ không hề dễ dàng; mà còn khơi dậy cả một phong trào vĩ đại. Sẽ không ngoa khi khẳng định rằng, nghệ thuật thuyết giảng của Martin Luther King chính là tác nhân khởi xướng hàng đầu, nếu không muốn nói là duy nhất, tạo nên cuộc chuyển mình của xã hội Mỹ thông qua Phong trào Dân Quyền trong những năm thập niên 1960.

Mặc dù đỉnh cao nghệ thuật thuyết giảng của Luther King đỉnh cao cách chúng ta hơn nửa thế kỷ, nhưng vẫn còn rất nhiều bài học mà các nhà thuyết giảng đương đại có thể lĩnh hội từ “Vị Vua Thuyết Giảng” này để áp dụng cho ngày nay. Và biết đâu đấy? Có lẽ Đức Thánh Linh sẽ sử dụng lời rao giảng của chúng ta, như Ngài đã từng làm với Luther King, để mang lại sự biến đổi xã hội mà biết bao người trong chúng ta hằng khao khát.

Đã có hàng loạt cuốn sách viết về các thực hành giảng luận đầy quyền năng của Luther King. Hầu hết trong số đó đều đáng để chúng ta bỏ công sức và tiền bạc để tìm đọc. Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài viết ngắn gọn này, tôi sẽ chỉ phác họa bốn thực hành trong số đó. Chúng ta sẽ cùng khám phá cách các thực hành này, hiện diện rõ ràng trong bài diễn văn “Tôi Có Một Giấc Mơ” (I Have a Dream), nhưng đồng thời, chúng cũng hòa quyện một cách không thể nhầm lẫn trong toàn bộ kho tàng những bài thuyết giảng xuất sắc nhất của ông.

Thấu Hiểu Bối Cảnh

Luther King là một con người của thời đại. Ông nắm bắt được nhịp đập của những gì đang diễn ra trong hội chúng, cộng đồng, khu vực, quốc gia và cả thế giới. Khi nghe Luther King thuyết giảng, người ta cảm nhận được rằng ông đã suy tư và cầu nguyện rất nhiều, rất sâu sắc về việc làm thế nào để một đoạn Kinh Thánh hay một chủ đề cụ thể có thể giao thoa với những niềm hy vọng và những nỗi thương đau của con người trong thời đại ấy.

Những bài thuyết giảng, ít nhất là những bài xuất sắc nhất, không chỉ phải trung thành với văn bản Kinh Thánh mà còn phải sát thực với bối cảnh đương đại nơi chúng được công bố. Một trong những cách để nhận biết một bài giảng có tính bối cảnh cao là: bài giảng ấy sẽ không thể đạt được sức mạnh tương tự nếu được rao giảng y nguyên như vậy trong một bối cảnh khác.

Luther King đã thuyết giảng đầy quyền năng nhắm vào hoàn cảnh lịch sử của thời đại ông. Trong bài diễn văn “Tôi Có Một Giấc Mơ”, ông nói: “Sẽ là tai họa cho đất nước nếu bỏ qua tính cấp bách của thời khắc hiện tại.” Chính Luther King đã nhận thức rõ “tính cấp bách của thời khắc” đó trong sự rao giảng gắn liền với bối cảnh của mình. Ông đọc rộng, đối thoại với nhiều tầng lớp người khác nhau, và rồi đặt Phúc Âm vào một chiếc bình bối cảnh mà người dân thời đó có thể đón nhận (“uống”) được.

Sau khi bạn giải nghĩa văn bản trong bài giảng, hãy dành một lượng thời gian xứng đáng để vừa cầu nguyện vừa suy ngẫm xem văn bản đó giao thoa như thế nào với những gì đang diễn ra trong đời sống của hội chúng, cộng đồng, khu vực, quốc gia và thế giới của bạn. Những minh họa và ứng dụng tuyệt vời nhất sẽ nảy sinh chính từ giao điểm giữa văn bản và bối cảnh ấy.

Xây Dựng Một Câu Khẩu Hiệu Dễ Nhớ

Hầu hết các giáo sư đại học và chủng viện thường “lên lớp” với sinh viên rằng sự lặp từ trong văn phong học thuật là biểu hiện của sự lười biếng và thiếu trau chuốt. Họ nài nỉ: “Đừng bao giờ nói cùng một điều theo cùng một cách đến hai lần.” Có lẽ đó là một nguyên tắc khôn ngoan trong văn viết, nhưng lại không áp dụng cho nghệ thuật thuyết giảng, như Luther King đã chứng minh. Ông đã chế tác một cách tỉ mỉ và lặp đi lặp lại những câu khẩu hiệu mang lại tác động to lớn.

Những câu khẩu hiệu nổi tiếng nhất trong bài diễn văn “Tôi Có Một Giấc Mơ” là “Tôi có một giấc mơ” và “hãy để tự do ngân vang.” Những câu từ này vẫn khơi dậy niềm đam mê và sự suy ngẫm cho đến tận ngày nay. Một câu khẩu hiệu khác trong bài diễn văn này, tuy ít được chú ý hơn, là “chúng ta sẽ không bao giờ có thể cảm thấy thỏa mãn” với hiện trạng phân biệt chủng tộc.

Khi bạn hoàn tất việc soạn thảo bài giảng, hãy đọc lại vài lần để tìm ra một cụm từ hoặc một câu văn nắm bắt được tinh thần—hay trọng tâm—của bài giảng đó. Sau đó, hãy xác định những vị trí đắc địa nhất để lặp lại câu khẩu hiệu này. Không có quy tắc bất di bất dịch nào về tần suất lặp lại, nhưng theo kinh nghiệm, việc lặp lại 4-6 lần liên tiếp một cách dồn dập, hoặc 7-10 lần rải rác trong suốt bài giảng là những con số hợp lý.

Đưa Ra Những Thách Thức Đầy Sức Thuyết Phục

Giống như Đấng Christ mà ông rao giảng, Luther King sở hữu năng lực nói ra những sự thật gai góc bằng ân điển tuyệt vời. Chúa Giê-su là “Con Một đến từ nơi Cha, đầy ơn và lẽ thật” (Giăng 1:14), và mọi bài giảng Cơ Đốc chân chính đều phải hội tụ đủ cả hai phẩm chất ấy. Luther King đã can đảm thách thức những bất công của thời đại mình mà không hề giảm nhẹ sức nặng trong lời nói. Ông đã dõng dạc tuyên bố trong bài diễn văn “Tôi Có Một Giấc Mơ”:

Nhưng một trăm năm sau [khi chế độ nô lệ tại Mỹ bị bãi bỏ], người da đen vẫn chưa được tự do. Một trăm năm sau, cuộc sống của người da đen vẫn bị tàn phế một cách bi thảm bởi gông cùm của sự phân biệt và xiềng xích của sự kỳ thị. Một trăm năm sau, người da đen vẫn phải sống trên hòn đảo nghèo đói cô độc giữa đại dương bao la của sự thịnh vượng vật chất. Một trăm năm sau, người da đen vẫn mòn mỏi nơi những góc khuất của xã hội Mỹ và nhận ra mình đang bị lưu đày ngay trên chính quê hương mình. Vì thế, hôm nay chúng tôi đến đây để phơi bày một thực trạng đáng xấu hổ này.

Luther King thách thức, nhưng đồng thời cũng tìm ra cách để kết nối với những người ở phe đối lập. Mặc dù nhiều người da trắng và cả một số người da đen không đồng tình với thông điệp hay chiến thuật của ông, họ vẫn không thể phủ nhận – và thường bị chinh phục bởi – sự duyên dáng đầy sức thuyết phục của Luther King. Dưới đây là một trích đoạn thể hiện ân điển đầy sức thuyết phục đó trong bài diễn văn:

Và khi điều này xảy ra, khi chúng ta để tự do ngân vang, khi chúng ta để tiếng chuông ấy ngân nga từ mọi ngôi làng và thôn xóm, từ mọi tiểu bang và thành phố, chúng ta sẽ có thể đẩy nhanh ngày mà tất cả con cái của Chúa, người da đen và người da trắng, người Do Thái và Dân Ngoại, người Tin Lành và người Công Giáo, sẽ có thể nắm tay nhau và cùng hát vang lời của các bài thánh ca Negro xưa cũ: ‘Tự do rồi! Cuối cùng cũng tự do rồi! Tạ ơn Đức Chúa Trời Toàn Năng, cuối cùng chúng ta đã tự do!’

Sự thật trần trụi và tàn khốc mà King chia sẻ đã được gạn lọc qua tình yêu thương của ông dành cho con người và cho Chúa. Những thông điệp chỉ có sự ngọt ngào dễ nghe có thể trở nên sáo rỗng. Những thông điệp mang tính thách thức lại dễ bị coi là giận dữ.

Hãy cố gắng thể hiện những thách thức đầy sức thuyết phục ấy – hay nói cách khác là ân điển và lẽ thật – trong quá trình soạn thảo và trình bày bài giảng tiếp theo của bạn. Khi đọc lại thông điệp sắp tới, hãy tự hỏi: “Bài này cần thêm ân điển hay lẽ thật, cần thêm sự lôi cuốn hay tính thách thức?” Sau đó, hãy thêm một chút gia vị của yếu tố này hoặc yếu tố kia, hoặc cả hai. Phong thái trình bày của bạn cũng có thể cần bổ sung một trong hai, hoặc cả hai. Việc xem hoặc nghe lại bài giảng của chính mình, dù có thể là một trải nghiệm “đau thương” với một số người, nhưng sẽ giúp chúng ta nhận ra mình đang thiếu sót điều gì.

Vận Dụng Các Phép Ẩn Dụ

Luther King là một bậc thầy về hình ảnh (các phép ẩn dụ). Trong bài diễn văn “Tôi Có Một Giấc Mơ”, ông đã sử dụng các phép ẩn dụ về một giấc mơ, một ngọn núi cao và một tấm séc khống (không có giá trị). Luther King đã tìm ra cách để cụ thể hóa các khái niệm, khiến chúng trở nên khó quên. Những hình ảnh ẩn dụ khắc ghi các ý tưởng vào sâu trong tâm trí và trái tim của con người. King hiểu rõ điều này và đã vận dụng nó để tạo ra những tác động đáng kinh ngạc.

Phần lớn những điều chúng ta thuyết giảng, tốt nhất thì cũng chỉ dừng lại ở mức khái niệm, còn tệ nhất thì hoàn toàn trừu tượng và khó hiểu. Người nghe thường bị lạc lối giữa một biển những ý tưởng mơ hồ. Chúng ta cần “đắp thêm da thịt” cho những ý tưởng này bằng phép ẩn dụ. King lẽ ra có thể nói một cách đơn giản rằng: “Hôm nay chúng tôi đến đây để đòi lại những quyền bất khả xâm phạm của mình với tư cách là công dân Hoa Kỳ.” Nhưng thay vào đó, ông đã sử dụng hình ảnh ẩn dụ:

Nhưng chúng tôi từ chối tin rằng ngân hàng công lý đã bị phá sản. Chúng tôi từ chối tin rằng không còn đủ vốn trong những kho tàng cơ hội vĩ đại của đất nước này. Vì thế, chúng tôi đến đây để đổi tiền từ tấm séc này—một tấm séc sẽ trao cho chúng tôi ngay khi yêu cầu: sự phong phú của tự do và sự bảo đảm của công lý.

Khi bạn soạn thảo bài giảng tiếp theo, hãy nghĩ về những hình ảnh ẩn dụ mà bạn có thể sử dụng để cụ thể hóa các khái niệm và neo đậu đức tin vào những thực tại nơi con người đang “sống, động và hiện hữu”. Liệu có hình ảnh ẩn dụ nào từ thể thao, khoa học, hôn nhân gia đình, chuyện hẹn hò, trường tiểu học, ngành y, lần gần nhất bạn đi nha sĩ, chuyện mua sắm ở trung tâm thương mại, hay từ bất kỳ đấu trường nào của cuộc sống có thể gắn kết chặt chẽ với trọng tâm bài giảng của bạn không? Hãy vận dụng một phép ẩn dụ, và rồi chứng kiến bài giảng của bạn trở nên sống động trước mắt mọi người.

Tác giả: Lenny Luchetti

Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc

Về Tác Giả:

Lenny Luchetti là Mục sư Quản nhiệm của Hội thánh Woodland (tại Battle Creek, tiểu bang Michigan). Ông cũng là tác giả của hai cuốn sách: “Cốt Lõi Của Thuyết Giảng: Cẩm Nang Thực Hành” (Preaching Essentials: A Practical Guide) và “Thuyết Giảng Bằng Sự Thấu Cảm: Soạn Thảo Bài Giảng Giữa Một Nền Văn Hóa Vô Cảm” (Preaching with Empathy: Crafting Sermons in a Callous Culture).

Quan điểm của bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.

Link bài viết gốc: https://www.preachingtoday.com/skills/2020/february/four-powerful-preaching-practices-from-martin-luther-king-j.html

admin

SỰ KHÔN NGOAN PHẢI ĐƯỢC TIÊM NHIỄM, KHÔNG PHẢI TỰ LÂY

Tháng 1 14, 2026/0 Comments/in Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh, THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH /by admin

Mọi thứ đều có thể thay đổi, đó là một hy vọng có cơ sở. Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết là trước hết bạn phải có được sự khôn ngoan.

“Hỡi các con, hãy nghe lời khuyên dạy của một người cha,

 Hãy chú tâm để học biết sự thông sáng;;

 Vì ta ban cho các con một đạo lý tốt lành;

 Chớ lìa bỏ lời dạy dỗ của ta.

 Khi còn thơ ấu, ta là con trai của cha ta,

 Đứa con một của mẹ ta yêu quý.

 Cha ta có dạy rằng: “Lòng con hãy ghi nhớ các lời ta;

 Hãy tuân giữ điều răn của ta, thì con sẽ được sống” (Châm Ngôn 4:1-4)

Chúng ta có thể nhận thấy Sa-lô-môn đang khát khao thu hút sự chú ý của độc giả, bởi ngay câu đầu tiên ông đã viết “hãy chú tâm”, và ông bắt đầu bằng cụm từ “Hỡi các con” (số nhiều) thay vì cách gọi thông thường “Hỡi con ta” (số ít) (Châm Ngôn 1:8) Bạn có đang muốn thoát khỏi những bế tắc trong cuộc sống? Hãy tập trung vào những gì sắp được chia sẻ dưới đây.

Sau khi khuyên nhủ người đọc phải lắng nghe lời chỉ dạy, Sa-lô-môn củng cố lời khuyên đó bằng một vài dòng tự sự về cuộc đời mình. Chúng ta như được du hành thời gian, trở về những ngày cậu bé Shlomo (Sa-lô-môn) ngồi bên bếp lửa và lắng nghe cha mình là Đa-vít hàn huyên về sự đời. Lời khuyên đáng nhớ nhất chính là: Hãy khắc cốt ghi tâm những lời ta nói (Châm Ngôn 4:4) và hãy đạt được sự khôn ngoan (Châm Ngôn 4:5). Câu chuyện nhỏ này đáng để chúng ta lưu tâm vì ít nhất hai lý do sau đây.

1. Điều này cho thấy lý do Sa-lô-môn cầu xin Đức Chúa Trời ban cho sự khôn ngoan (1 Các Vua 3:5-9) chính là vì người cha Đa-vít đã bảo ông làm như vậy.

Thật dễ để lầm tưởng rằng lời thỉnh cầu của Sa-lô-môn nảy ra một cách ngẫu hứng, cứ như thể ông đột nhiên có một phút giây xuất thần, tình cờ trùng hợp với cái đêm mà Đức Chúa Trời trao cho ông một cơ hội để đời. Nhưng không, thay vào đó, như chúng ta vừa khám phá được ở đây, Đa-vít đã rèn luyện Sa-lô-môn để sẵn sàng làm bất cứ điều gì cần thiết nhằm đạt được sự khôn ngoan. Sa-lô-môn đã ở trong tâm thế sẵn sàng để cầu xin Đức Chúa Trời điều đó. Cũng giống như Sa-lô-môn, chúng ta cần phải được dạy cách để yêu thương và tìm kiếm sự khôn ngoan; điều đó không tự nhiên mà có. Sự khôn ngoan là một “thú thưởng thức” cần được rèn luyện, được vun trồng bởi những người có những tấm gương sáng để noi theo.

2. Điều này ngụ ý rằng, nếu muốn truyền cảm hứng để người khác yêu mến sự khôn ngoan, chúng ta phải sống với sự khôn ngoan và truyền thừa nó lại, đúng như cách Đa-vít đã làm cho Sa-lô-môn.

Tôi không khẳng định rằng Đa-vít là một người hoàn hảo. Ông đã tác động đến con trai mình ở cả hai mặt: tốt (lòng yêu chuộng sự khôn ngoan) và xấu (sự mê đắm nữ sắc quá độ). Tuy nhiên, ký ức sâu đậm nhất trong lòng Sa-lô-môn chính là hành trình tìm cầu sự khôn ngoan của cha mình. Chính điều đó đã truyền cảm hứng mạnh mẽ cho ông. Để gây ảnh hưởng đến người khác, chính chúng ta cũng phải dấn thân vào cuộc kiếm tìm trí tuệ. Tình yêu với sự khôn ngoan cần được “tiêm nhiễm” (infectious) chứ không phải tự “lây lan” (contagious). Nói cách khác, nó không dễ dàng lây lan một cách hời hợt; nó đòi hỏi sự tiếp xúc gần gũi và gắn kết cá nhân để có thể truyền thụ.

Chẳng hạn, các bậc cha mẹ cần phải “thân giáo” – nói đi đôi với làm; họ nên vừa sẵn lòng học hỏi, vừa nhanh chóng nói lời xin lỗi khi lầm lỗi với con cái.

Các nhà lãnh đạo nên kể những câu chuyện tinh tế về chính cuộc đời mình để minh họa cho các tư tưởng then chốt; bởi con người thường sẽ không thực sự thấu hiểu vấn đề cho đến khi họ nhìn thấy điều đó đã tác động sâu sắc đến chính người thầy như thế nào.

Để cứu rỗi chúng ta, Đức Chúa Trời không chỉ trao xuống một hệ tư tưởng hay một cuốn luật lệ. Ngài đã giáng thế làm người và đứng vào vị trí của chúng ta, qua đó thị phạm cho chúng ta cách để sống một đời sống khôn ngoan.

Bước đầu tiên để thoát khỏi bế tắc là tìm kiếm những hình mẫu tốt lành – những người thắp lên trong bạn niềm hy vọng và hướng bạn nhìn lên Chúa Jesus như là hiện thân của sự khôn ngoan. Nếu bạn là một nhà lãnh đạo dưới bất kỳ hình thức nào, lời nói suông sẽ không bao giờ là đủ; bạn phải thể hiện một cách sống động và hữu hình sự khôn ngoan mà bạn đang mong muốn truyền đạt.

Bài viết này được đăng tải lần đầu vào năm 2013 và là một phần trong chuỗi bài nghiên cứu về sách Châm ngôn từ chương 1 đến chương 9.

Tác giả: Peter Krol

Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc

Quan điểm của bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.

Link bài viết gốc: https://www.knowableword.com/2025/12/12/wisdom-is-infectious-not-contagious/

admin

NHỮNG ĐIỀU TÔI CHƯA BIẾT VỀ HÔN NHÂN

Tháng 1 11, 2026/0 Comments/in Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh, THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH /by admin

Tính đến hôm qua, tôi đã kết hôn được 35 năm. Cuộc hôn nhân của chúng tôi giờ đã lâu bằng tuổi của phần lớn những người trong hội thánh mà tôi đang quản nhiệm. Chúng tôi sinh ra trong một thời khác: trước khi có mạng xã hội, điện thoại di động, hay thậm chí là Internet. Đôi khi có cảm giác chuyện đã diễn ra từ rất lâu; nhưng cũng có lúc, nó lại như mới hôm qua.

Tôi vẫn còn nhiều điều phải học về hôn nhân, nhưng đây là vài điều tôi đã rút ra trên hành trình ấy.

Hôn Nhân Là Sự Phơi Bày

Không gì bộc lộ bản thân bạn rõ ràng như hôn nhân (Nuôi dạy con cái có lẽ đứng thứ hai.) Trước khi kết hôn, bạn có thể che đậy một phần con người mình trước người khác. Nhưng tất cả thay đổi khi bạn bước vào lễ đường. Dù bạn có cố gắng, con người thật của bạn sẽ hiện ra, và bạn chẳng còn nơi nào để che giấu. Hôn nhân đã phơi bày những tội lỗi mà tôi thậm chí không biết mình có. Nó khiến tôi trần trụi theo những cách không ngờ tới, và hóa ra đó lại là một điều tốt.

Điều tuyệt vời nhất là, sau khi bị phơi bày một cách không khoan nhượng, bạn sẽ khám phá ra ý nghĩa của việc được yêu thương khi hôn nhân vận hành đúng như nó vốn có.

Hôn Nhân Là Gian Khó

Tôi biết điều này, nhưng thực ra tôi chưa thật sự biết. Tôi biết rằng mọi cuộc hôn nhân đều phải trải qua sóng gió, nhưng tôi từng nghĩ chỉ những cuộc hôn nhân tồi tệ mới khó khăn. Giờ tôi hiểu rằng ngay cả những cuộc hôn nhân tốt đẹp nhất cũng đầy thử thách.

Khi cô dâu và chú rể hứa chung thuỷ sắc son “lúc thịnh vượng cũng như khi gian nan”, họ thực ra chỉ mong chờ phần thịnh vượng. Điều đó cũng đúng với “giàu sang hay nghèo khó”, “khi khỏe mạnh hay lúc ốm đau”. Hãy nhớ lời tôi: bạn sẽ gặp đủ cả hai, và nó sẽ khó khăn hơn bạn tưởng. Đừng bao giờ nghĩ rằng bạn sẽ thoát khỏi điều đó. Hôn nhân là gian khó, và nó sẽ đòi hỏi tất cả từ bạn.

Rồi Mọi Thứ Sẽ Tốt Hơn

Khi tôi nói “tốt hơn”, tôi không chỉ nói về một chút tốt hơn. Tôi muốn nói đến sự tốt đẹp đến mức khiến bạn ngạc nhiên, không tin nổi. Với hầu hết chúng ta, cái giá phải trả đến sớm. Chúng ta phải hy sinh sự ích kỷ, những kỳ vọng, và cả giấc mơ về hôn nhân lý tưởng. Trong một thời gian, dường như chẳng có phần thưởng nào. Nhưng chính lúc bạn ngừng tìm kiếm phần thưởng, bạn sẽ nhận ra nó. Khi bạn thôi mong chờ hôn nhân phục vụ mình và tập trung vào việc phục vụ người bạn đời, bạn sẽ thấy hôn nhân mang lại niềm vui và sự thỏa mãn mà trước đó bạn chưa từng có.

Con đường dẫn đến một cuộc hôn nhân tốt đẹp là sự kiên trì, vị tha và hy sinh; và nhìn chung, phần thưởng lớn hơn nhiều so với những gì bạn có thể tưởng tượng.

Tình Yêu Già Tốt Hơn Tình Yêu Trẻ

Tình yêu trẻ trung thật hào hứng. Nó giống như ngọn lửa cháy trên củi khô: nhanh, mạnh, nhưng cũng dễ tàn.

Tình yêu già thì ít hào hứng hơn. Nó giống như khúc gỗ cứng đã cháy suốt nhiều giờ. Bạn sẽ không thấy những tia lửa bùng lên, nhưng nó cháy với sức nóng và sự bền bỉ không gì sánh được. Ngọn lửa từ củi khô sẽ nhanh chóng tắt; nhưng than hồng từ ngọn lửa lâu năm có thể cháy âm ỉ rất lâu.

Hôn nhân cũng giống như vậy. Như ai đó từng nói với tôi khi chúng tôi mới cưới: tôi sẽ chỉ thực sự hiểu tình yêu là gì sau 20 hay 30 năm kết hôn. Khi ấy tôi chỉ biết tình yêu trẻ; còn bây giờ tôi đã học được một điều còn mạnh mẽ hơn.

Không có gì lạ khi hôn nhân lại là hình ảnh của mối tình vĩnh cửu được bày tỏ trong Tin Lành. Chúng ta bị phơi bày nhưng vẫn được yêu bằng một tình yêu mà ta không xứng đáng. Chúng ta được mời gọi bước vào mối quan hệ đã khiến Đấng Christ phải trả giá bằng tất cả, và cũng sẽ đòi hỏi tất cả từ chúng ta. Chúng ta không làm điều đó để nhận lại, nhưng phần thưởng lớn hơn mọi điều ta có thể tưởng tượng. Và tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta trong Chúa Giê-su hóa ra mạnh mẽ hơn bất kỳ loại tình yêu nào khác.

Hôn nhân thật tốn kém nhưng xứng đáng. 35 năm chỉ mới là khởi đầu. Tôi mong chờ sẽ học thêm những bài học mới trong những năm tới, nếu Đức Chúa Trời cho phép.

Tác giả: Darryl Dash

Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc

Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.

Link bài viết gốc: https://www.dashhouse.com/things-i-didnt-know-about-marriage/

admin

TIN MỪNG ĐẦU NĂM CHO NHỮNG NGƯỜI GIẢNG ĐẠO

Tháng 1 6, 2026/0 Comments/in THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH, Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh /by admin

Hãy cùng suy ngẫm về lòng nhân từ và sự thành tín của Đức Chúa Trời khi chúng ta hầu việc Ngài.

Sau khi tin nhận Đấng Christ vào năm mười bốn tuổi, tôi được dẫn dắt đức tin bởi một Hội Thánh Báp-tít vùng nông thôn đầy đức tin tại miền Tây Pennsylvania. Cứ vào ngày 31 tháng 12 hàng năm, Hội Thánh lại tổ chức một buổi lễ “Đêm Canh Thức” (Watchnight).

Buổi tối sẽ bắt đầu vào lúc 9 giờ. Trước tiên, chúng tôi tập trung tại thánh đường để thưởng thức những bài hát từ một ban nhạc Phúc âm địa phương trong khoảng một giờ đồng hồ. Sau đó, mọi người cùng di chuyển sang phòng thông công để dùng bữa tối ngon miệng với đủ loại món hầm do các gia đình tự tay chuẩn bị, kèm theo những món tráng miệng tuyệt hảo. Chúng tôi tận hưởng những cuộc trò chuyện quanh bàn tiệc, kể cho nhau nghe về những việc Chúa đã làm trên đời sống mình trong năm qua. Sau đó, tất cả trở lại thánh đường để hòa mình vào âm nhạc, cử hành Tiệc Thánh và cầu nguyện khi thời khắc bước sang năm mới cận kề. Vì đây là một Hội Thánh vùng quê, nên đúng vào nửa đêm, những người đàn ông sẽ nổ súng trường để ăn mừng năm mới.

Đêm ấy vừa rộn ràng không khí lễ hội, nhưng cũng đầy sự tôn nghiêm thờ phượng khi chúng tôi cùng nhìn lại năm cũ và hướng tới năm mới trước mắt.

Với những người giảng đạo như chúng ta, năm mới đã gõ cửa. Mùa này mang đến cơ hội để chúng ta nhìn lại chức vụ mà Chúa đã giao phó và đặt niềm tin nơi Ngài cho những chặng đường sắp tới, giống như cách mà buổi lễ “Canh thức” tại quê nhà đã tạo động lực cho Hội Thánh tôi năm xưa. Dưới đây là một vài lời nhắc nhở đầy hy vọng dành cho chúng ta – những người phục vụ Tin Lành – khi bước vào hành trình phụng sự Chúa trong năm tới. Những lời nhắc này có thể không phải là điều gì quá mới mẻ, nhưng chúng đóng vai trò như những lời thôi thúc khi chúng ta chiêm nghiệm về lòng nhân từ và sự thành tín của Đức Chúa Trời trong những ngày phục vụ Ngài sắp tới.

Tin Lành Bất Biến

Rao giảng Tin Lành hằng sống và bất biến chính là thiên chức mà chúng ta được kêu gọi. Những người thuyết giáo Cơ Đốc được gọi là “Những người phục vụ Tin Lành”. Đó cũng là chức danh được ghi trên giấy chứng nhận phong chức của tôi — rằng tôi là một người phục vụ Tin Lành, và bạn cũng vậy.

Tin Lành này — tức là tin mừng về cuộc đời, sự chết, sự chôn, sự phục sinh, sự thăng thiên và lời hứa tái lâm của Chúa Jesus — nhằm cứu chuộc tội lỗi của thế gian, không phân biệt nam nữ trẻ già, sẽ không bao giờ thay đổi. Tin Lành là nền đá tảng cho mọi chức vụ mà Chúa đã kêu gọi chúng ta dấn thân. Nghệ sĩ Andraé Crouch từng nói rằng dòng huyết mà Chúa Jesus đã đổ ra cho chúng ta “sẽ không bao giờ mất đi quyền năng”. Và sự thật đúng là như vậy.

Sứ đồ Phaolô nhắc nhở chúng ta: “Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin Lành đâu, vì đây là quyền năng của Đức Chúa Trời để cứu mọi người tin, trước là người Do Thái, sau là người Hy Lạp” (Rô-ma 1:16). Sách Khải Huyền nhấn mạnh rằng Tin Lành mà chúng ta rao giảng là một “Tin Lành vĩnh cửu”, được truyền bá cho “mọi dân tộc, mọi chi phái, mọi ngôn ngữ và mọi người” (Khải Huyền 14:6). Là những người thuyết giáo, chúng ta hãy tự nhắc nhở mình bám trụ vững vàng vào chân lý rằng Tin Lành là bất biến, để từ đó tự tin rao giảng thông điệp ấy!

Năm Mới Đầy Rẫy Những Triển Vọng Cho Tin Lành

Nhà truyền giáo của thế kỷ 19, Adoniram Judson, nổi tiếng với câu nói: “Tương lai tươi sáng như chính những lời hứa của Thiên Chúa”. Ông đã có thể khẳng định như vậy bất chấp những thử thách nghiệt ngã mà mình phải đối mặt khi rao giảng Tin Lành cho người dân Miến Điện (Myanmar).

Sứ đồ Phaolô nhắc nhở các tín hữu tại Cô-rinh-tô rằng: “Vì chưng cũng như mọi lời hứa của Đức Chúa Trời đều là phải trong Ngài cả, ấy cũng bởi Ngài mà chúng tôi nói “A-men,” làm sáng danh Đức Chúa Trời.” (2 Cô-rinh-tô 1:20)

Về năm tới, không ai trong chúng ta biết chắc Đấng Tối Cao sẽ dẫn dắt chức vụ mà Ngài giao phó ra sao. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng bởi Tin Lành là bất biến, chắc chắn sẽ luôn có những con người và những vùng đất đang khao khát lời hằng sống có khả năng biến đổi cuộc đời ấy.

Có lẽ bạn đang cảm nhận được Chúa đang dẫn dắt mình đến một môi trường phục vụ khác, một kế hoạch xây dựng mới, hay Ngài đang kêu gọi bạn bước vào một giai đoạn học tập, hoặc thậm chí là nghỉ hưu — tất cả những sự chuyển giao này đều là những cơ hội tuyệt vời cho Tin Lành. Những con người mà bạn rao giảng và những nơi mà bạn được Chúa đưa đến đều mở ra những triển vọng xán lạn cho chính cá nhân bạn và cho cả những người mà bạn phụng sự.

Đức Chúa Trời hứa rằng: “Ta sẽ chẳng lìa con, chẳng bỏ con đâu” (Hê-bơ-rơ 13:5); “Ta ở cùng các ngươi,” Đức Giê-hô-va phán vậy (Ha-gai 1:13); và Chúa Jesus phán: “Và này, Ta ở cùng các con luôn cho đến tận thế” (Ma-thi-ơ 28:20). Đó là những lời bảo chứng sẽ thúc đẩy chúng ta bước vào tương lai, bước vào một năm mới với lòng tin quyết vững vàng.

Lập Kế Hoạch Giảng Đạo: Chìa Khóa Dẫn Dắt Thính Giả Đến Sự Trưởng Thành

Thông tin cho rằng việc lập kế hoạch giảng đạo đem lại lợi ích cho thính giả nghe có vẻ là một “chuyện xưa như diễm”. Đúng là vậy. Thế nhưng, đó là một chân lý cũ kỹ cần được mổ xẻ kỹ lưỡng, cần được nghe thấy và thực sự thấu cảm một lần nữa.

Việc lập kế hoạch giảng đạo có chủ đích có thể nuôi dưỡng nên những thính giả trưởng thành. Hãy lưu ý rằng tôi nhấn mạnh từ “có chủ đích”. Trong cuốn sách Preaching with a Plan (Giảng đạo có kế hoạch) của mình, tôi đã trình bày chi tiết vai trò then chốt mà việc lập kế hoạch thấu đáo mang lại cho cả người thuyết giáo lẫn hội chúng. Sứ đồ Phaolô đã đưa ra một tuyên ngôn sứ mệnh cá nhân, và đó cũng có thể trở thành kim chỉ nam cho chúng ta, khi ông viết cho các tín hữu tại Cô-lô-se rằng: “Ấy là Ngài mà chúng tôi rao-giảng, lấy mọi sự khôn-ngoan răn-bảo mọi người, dạy-dỗ mọi người, hầu cho bày-tỏ mọi người trở nên trọn-vẹn trong Đấng Christ ra trước mặt Đức Chúa Trời.” (Cô-lô-se 1:28). Khao khát của Phaolô và cũng là hy vọng của chúng ta, đó là tất cả mọi người — từ nam phụ đến lão ấu — những người lắng nghe lời giảng của chúng ta sẽ nhờ đó mà ngày càng trưởng thành hơn trong Đấng Christ. Tuy nhiên, kết quả này chỉ có thể đạt được thông qua một kế hoạch có tính toán kỹ lưỡng.

Đã quá nhiều lần, các kế hoạch giảng đạo chỉ xoay quanh mong muốn cá nhân của người thuyết giáo. Chẳng hạn: “Tôi muốn giảng hết toàn bộ các sách trong Kinh Thánh trước khi nghỉ hưu”. Điều đó có thể tốt cho bảng thành tích cá nhân của bạn, nhưng chưa chắc đã là điều mà những người thuộc bầy chiên của bạn cần để tiến tới sự trưởng thành. Chúng ta cần phải tìm hiểu xem thính giả của mình đang đứng ở đâu và họ thực sự cần gì để ngày càng trở nên giống Đấng Christ hơn.

Chúng Ta Có Thể Trở Thành Những Người Giảng Đạo Đổi Mới Trong Năm Mới

Hy vọng rằng năm tới sẽ minh chứng rằng bạn đã trở thành một người thuyết giáo khác biệt so với chính mình của năm cũ. Điều tôi muốn nói ở đây không phải là việc bạn bắt chước phong cách của một ai đó hay đánh mất bản sắc cá nhân trên bục giảng, mà là bạn đang thực sự tăng trưởng trong chức vụ của mình. Tại đây, sự tăng trưởng trong thuyết giáo có thể bắt đầu từ việc thiết lập một danh sách đọc — bao gồm sách chuyên môn về giảng đạo, các tác phẩm văn học, hay thậm chí là những sở thích cá nhân… hãy để chúng góp phần định hình tư duy, làm phong phú trí tưởng tượng và thắt chặt sự kết nối giữa bạn với thính giả. Các chuyên gia y tế, giáo viên hay những nghệ nhân lành nghề đều phải không ngừng trau dồi nghiệp vụ để đạt đến sự tinh thông. Đáng buồn thay, đối với một số người thuyết giáo, cuốn sách cuối cùng họ đọc có khi lại là từ thời còn ở Viện thần học. Đây thực sự là một điều đáng để chúng ta phải tự kiểm điểm và hổ thẹn.

Sứ đồ Phaolô nhắc nhở các tín hữu Cô-rinh-tô rằng sống đời sống Cơ Đốc cần có sự nỗ lực và kỷ luật thép: “Mọi người đi thi đấu đều phải kiêng khem đủ điều… tôi đãi thân thể mình cách nghiêm khắc, bắt nó phải phục mình, e rằng sau khi tôi đã giảng cho người khác, mà chính mình lại bị loại chăng” (1 Cô-rinh-tô 9:25, 27).

Bạn không chỉ có thể đổi mới trong kỹ năng thực hành giảng đạo, mà còn có thể tái đánh giá lại toàn bộ đời sống tâm linh của chính mình. Mối tương quan giữa bạn với Chúa hiện ra sao? Việc đọc Kinh Thánh và cầu nguyện của bạn thế nào? Bạn có đang đối đầu trực diện với những cám dỗ vây quanh? Liệu bạn có một người cố vấn hay một người dìu dắt thuộc linh nào đủ tin cậy để cùng đồng hành không? Có lẽ đã đến lúc bạn cần nghiêm túc đầu tư cho sự phát triển tâm linh với tư cách là một nhà lãnh đạo, một người thuyết giáo; điều này sẽ cho phép bạn trở thành một phiên bản khác biệt — và tốt đẹp hơn — của chính mình.

Bên cạnh những điều trên, người thuyết giáo còn phải biết chăm sóc bản thân về mặt thể chất. Tôi không cần phải nhắc lại tầm quan trọng của sức khỏe qua việc ăn uống và tập luyện. Nhưng xin cho phép tôi nhấn mạnh thêm về tầm quan trọng của sức khỏe tinh thần. Có quá nhiều người giảng đạo đang rơi vào tình trạng thừa cân và kiệt quệ về mặt cảm xúc. Trong năm tới, hãy thiết lập những “hàng rào bảo vệ” cho sức khỏe thể chất và tinh thần của chúng ta — bởi đó chính là những yếu tố then chốt để chúng ta thăng tiến trong chức vụ thuyết giáo. Hãy cùng nỗ lực trong những phương diện này để chúng ta thực sự trở thành những người thuyết giáo đổi mới trong năm tới.

Lời Kết

Năm mới đang cận kề, và chúng ta có thể chuẩn bị đón nhận nó một cách thấu đáo, có chủ đích và trong tinh thần cầu nguyện. Như một bài thực hành tâm linh của “Lễ Canh thức”, hãy dành thời gian để đón nhận và tôn vinh những tin mừng đầy khích lệ: từ một Tin Lành bất biến, đến những viễn cảnh tiềm năng mà Chúa có thể thực hiện trên đời sống và chức vụ của bạn trong năm tới; từ niềm hy vọng về một kế hoạch giảng đạo có khả năng biến đổi cuộc đời thính giả, cho đến tin mừng ấm áp rằng chính chúng ta có thể trở thành những người thuyết giáo đổi mới trong năm nay.

Tác giả: Scott M. Gibson

Scott M. Gibson là Giáo sư Thuyết giáo và là người giữ tước hiệu Giáo sư danh dự David E. Garland về Thuyết giáo tại Đại học Baylor/Chủng viện Truett ở Waco, Texas. Ông cũng từng là Giáo sư Thuyết giáo và Mục vụ Haddon W. Robinson tại Chủng viện Thần học Gordon-Conwell ở South Hamilton, Massachusetts, nơi ông đã tham gia giảng dạy trong suốt 27 năm.

Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc

Quan điểm của bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.

Link bài viết gốc: https://www.preachingtoday.com/skills/2023/new-years-news-for-preachers.html

admin

CHĂM SÓC KHÁCH MỜI “HẬU” GIÁNG SINH

Tháng 1 1, 2026/0 Comments/in Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh, THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH /by admin

Hội thánh của bạn đã đầy chỗ, những ngọn nến lung linh, và âm nhạc nâng cao tâm hồn. Nhưng giờ đã đến phần thường bị bỏ qua: chăm sóc chu đáo cho những vị khách Giáng Sinh đã bước qua ngưỡng cửa hội thánh. Nhiều người đến vì được người thân mời, có người đến vì Giáng Sinh khơi dậy điều gì đó sâu xa, và cũng có người đơn giản chỉ vì họ cần chút hy vọng. Dù lý do là gì, cách hội thánh bạn tiếp nối có thể tạo nên sự khác biệt giữa một lần ghé qua và một bước đi ý nghĩa hướng về đức tin.

Việc chăm sóc hậu Giáng sinh không phải là gây áp lực. Đó là sự hiếu khách, sự rõ ràng, và sự chăm sóc mục vụ chân thành.

Vì sao khách Giáng Sinh xứng đáng được chăm sóc chu đáo?

Một khoảnh khắc hiếm hoi của sự mở lòng

Những tuần lễ quanh Giáng Sinh thường khiến lòng người mềm mại hơn, ngay cả những người vốn xa cách hội thánh. Họ nghe câu chuyện quen thuộc về sự giáng sinh của Chúa Giê-su, và điều gì đó trong đó vang vọng nơi tâm hồn họ. Một sự tiếp nối đơn giản, đầy ân cần sẽ kéo dài khoảnh khắc ấy thay vì để nó tan biến trong âm thanh ồn ào của tháng Giêng.

Nhiều khách mong đợi sẽ nhận được lời hồi đáp từ hội thánh sau khi tham dự. Một lời cảm ơn ngắn gọn bày tỏ sự trân trọng sự hiện diện của họ và cho thấy rằng họ có giá trị.

Chăm sóc kế tiếp phản ánh văn hóa hội thánh của bạn

Quy trình chăm sóc không chỉ là hành chính. Nó bày tỏ điều hội thánh bạn coi trọng. Nếu hội thánh quý trọng sự hiện diện, lòng hiếu khách, và sự môn đồ hóa, thì cách bạn truyền đạt cũng cần phản ánh những giá trị đó.

Quy trình chăm sóc hậu Giáng sinh không nên làm khách choáng ngợp bởi quá nhiều thông tin. Nó bao gồm những bước nhỏ, ý nghĩa, tự nhiên thay vì nặng nề.

Những cách đơn giản và hiệu quả để gắn kết khách Giáng Sinh

1. Gửi lời cảm ơn ngắn gọn, ấm áp trong vòng 48 giờ.
Tốc độ quan trọng hơn sự hoàn hảo.Một email hoặc tin nhắn ngắn gọn cảm ơn khách Giáng Sinh vì đã tham dự cho thấy sự quan tâm và chân thành.

Hãy giữ giọng điệu nhẹ nhàng và cá nhân:

  • Cảm ơn họ vì đã dành một phần kỳ nghỉ để đến với hội thánh.
  • Thừa nhận rằng việc đến hội thánh là một bước quan trọng đối với nhiều người.
  • Đưa ra một bước tiếp theo đơn giản, chẳng hạn như đường dẫn đến sự kiện sắp tới hoặc buổi cà phê chào mừng.

Nếu hội thánh bạn sử dụng thẻ kết nối, hãy gửi tin nhắn cá nhân bất cứ khi nào có thể. Một lời nhắn riêng nổi bật hơn nhiều so với email gửi hàng loạt.

2. Lời mời “không áp lực” để khách Giáng Sinh quay lại.

Việc chăm sóc không bao giờ nên giống như một lời chào hàng. Thay vào đó, hãy trình bày lời mời như sự tiếp nối tự nhiên của trải nghiệm họ đã có.

Một vài lựa chọn:

  • Giới thiệu loạt bài giảng bắt đầu vào tháng Giêng.
  • Mời họ tham dự buổi ăn trưa dành cho người mới hoặc buổi Hỏi & Đáp với mục sư.
  • Chia sẻ một tài liệu liên hệ với sứ điệp Giáng Sinh vừa qua.

Hãy giữ giọng điệu ấm áp thay vì áp đặt. Mục tiêu là đưa tay ra chào đón, không phải ép buộc.

3. Sử dụng website và mạng xã hội như những điểm chạm nhẹ nhàng

Sau khi tham dự một lần, nhiều khách Giáng Sinh thường tìm hiểu thêm về hội thánh qua mạng.Hãy đảm bảo các kênh trực tuyến của bạn được cập nhật và thân thiện. Đăng một bản tóm tắt ngắn về cuối tuần Giáng Sinh, vài hình ảnh thờ phượng (sử dụng cách tôn trọng và phù hợp), hoặc một lời khích lệ ngắn từ mục sư.

Những cử chỉ nhỏ trên mạng này củng cố rằng hội thánh bạn năng động, quan tâm, và giàu tính tương giao.

4. Chăm sóc thuộc linh bước đầu khi thích hợp

Một số khách để lại lời cầu nguyện hoặc bày tỏ mối quan tâm thuộc linh trên thẻ kết nối. Khi thích hợp, hãy đáp lại cách cá nhân. Một lời nhắn ngắn như: “Hôm nay tôi đã cầu nguyện cho gia đình bạn” truyền tải nhiều hơn hàng chục thông báo.

Sự chăm sóc mục vụ không cần phải phức tạp:

  • Một cuộc gọi ngắn để cảm ơn họ vì đã chia sẻ nhu cầu.
  • Một tấm thiệp viết tay gửi đến người đang chịu tang trong mùa lễ.
  • Một lời nhắn bày tỏ sự hỗ trợ hoặc cầu nguyện cho một gia đình đang đối diện khó khăn.

Những cử chỉ này phản ánh tấm lòng của Phúc Âm.

5. Cung cấp một hành trình rõ ràng, dễ tiếp cận

Nếu ai đó muốn gắn bó thêm, họ không nên phải vượt qua một mê cung. Hãy giữ cho các bước tiếp theo đơn giản và dễ thấy. Đưa ra những hướng dẫn dễ dàng như:

  • Một buổi gặp gỡ dành cho người mới.
  • Một khoá học ngắn giới thiệu “về hội thánh chúng tôi”.
  • Cơ hội tham gia một nhóm nhỏ luôn chào đón người mới bất cứ lúc nào.

Hãy đảm bảo thông tin này xuất hiện rõ ràng trên website và trong các ghi chú theo dõi.

Xây dựng hệ thống bền vững cho những mùa sau

Sự tiếp nối chu đáo không tự nhiên xảy ra. Nó cần một cấu trúc đơn giản để đội ngũ có thể lặp lại năm này qua năm khác.

Những thực hành hữu ích bao gồm:

  • Phân công một nhân sự hoặc tình nguyện viên giám sát tiến trình.
  • Tạo sẵn mẫu email, tin nhắn, và thiệp cảm ơn có thể tùy chỉnh.
  • Huấn luyện ban tiếp tân và tình nguyện viên hiếu khách để khuyến khích khách điền thẻ kết nối.
  • Rà soát hệ thống mỗi tháng Giêng để cải thiện sự rõ ràng và chăm sóc.

Một cách tiếp cận bền vững bảo đảm hội thánh có thể tiếp tục yêu thương cách tốt đẹp, ngay cả trong những mùa mục vụ bận rộn.

Chăm sóc khách Giáng Sinh với ân điển và có chủ đích

Khách Giáng Sinh hiếm khi nhớ mọi chi tiết của buổi nhóm, nhưng họ nhớ cảm giác của mình. Một sự tiếp nối chu đáo cho họ biết rằng sự hiện diện của họ có ý nghĩa, câu hỏi của họ được chào đón, và hội thánh bạn là nơi an toàn để trưởng thành.

Khi bạn tiếp cận với sự chân thành, rõ ràng, và hướng dẫn mục vụ nhẹ nhàng, bạn phản chiếu tấm lòng của Đấng Christ — Đấng đến với con người không bằng áp lực mà bằng lời mời gọi.

Khi bước vào năm mới, hãy dành thời gian để liên hệ với từng khách Giáng Sinh bằng sự ấm áp và chủ ý. Một lời nhắn đơn giản có thể chính là sự khích lệ họ cần để bước tiếp theo hướng về Đấng Christ và cộng đồng.

Nguồn: Churchleaders.com

Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc

Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.

Link bài viết gốc: https://churchleaders.com/outreach-missions/2210333-christmas-visitors.html

admin

“Chúa Đang Hành Động”—Lee Strobel Điều Tra Xem Liệu Phép Lạ Có Xảy Ra Hay Không Trong Bộ Phim Tài Liệu Mới “Bằng Chứng Phép Lạ” (The Case For Miracles)

Tháng 12 23, 2025/0 Comments/in Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh, THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH /by admin

Một bộ phim tài liệu mới của Lee Strobel mang tên “Bằng Chứng Phép Lạ” nhằm mục đích cung cấp những chứng cớ cho thấy những phép màu tương tự như những gì được ghi chép trong Kinh Thánh thực sự vẫn diễn ra ngày nay. Bộ phim sẽ ra rạp từ ngày 15 đến 18 tháng 12.

Strobel kể lại việc điều tra các bằng chứng lịch sử về sự phục sinh của Chúa Giê-su đã biến đổi ông từ một người vô thần trở thành một Cơ Đốc nhân như thế nào. Ngày nay, ông tin rằng phép màu vẫn xảy ra và vạch ra bốn tiêu chí mà ông sử dụng để xác minh các trường hợp đáng tin cậy: hồ sơ y tế, nhiều nhân chứng, không thể giải thích bằng tự nhiên, và liệu sự kiện đó có xảy ra trong bối cảnh của sự cầu nguyện hay không.

“Nếu tôi thấy cả bốn điều đó hội tụ, tùy thuộc vào hoàn cảnh, tôi có thể bị thuyết phục rằng, vâng, Chúa đã can thiệp một cách siêu nhiên vào tạo vật của Ngài ngày hôm nay,” Strobel chia sẻ với trang ChurchLeaders.

Strobel chia sẻ các nghiên cứu được ghi nhận bằng tài liệu khoa học từ Mozambique và Brazil—được xuất bản trên một tạp chí y khoa thế tục, có bình duyệt (peer-reviewed) – cho thấy những cải thiện đáng kể về thính giác và thị giác ngay sau khi được cầu nguyện. Strobel thừa nhận rằng sự lừa đảo, trùng hợp ngẫu nhiên, hiệu ứng giả dược, và sự tự thuyên giảm bệnh là có thật, nhưng chúng không thể giải thích cho nhiều trường hợp có bằng chứng xác đáng.

Tác giả có sách bán chạy nhất này cũng chia sẻ về việc các “cụm” phép màu trên toàn cầu đang xuất hiện ở những nơi Phúc âm đang lan rộng, chẳng hạn như ở Trung Quốc và Mozambique. Ông thảo luận xem liệu các phép màu đang thực sự gia tăng hay chỉ đơn giản là việc ghi chép tài liệu khoa học đang tăng lên.

“Lần đầu tiên, chúng ta có các nhà khoa học ghi lại những phép màu rõ rệt—và công bố chúng trên các tạp chí được thẩm định,” Strobel nói. “Vì vậy, có vẻ như chúng ta đang có sự gia tăng nhanh chóng các phép màu được xác thực, nhưng có thể không phải do chúng xảy ra nhiều hơn. Có thể chỉ là do ngày nay chúng ta ghi chép lại chúng nhiều hơn mà thôi.”

Strobel hy vọng bộ phim sẽ củng cố đức tin của khán giả trong mùa Giáng Sinh và khơi mào những cuộc trò chuyện giữa những người tìm kiếm chân lý. Ông tin rằng Chúa đang hành động mạnh mẽ ngày nay, trích dẫn các sự kiện gần đây tại nhà thờ nơi hàng trăm người đã tiếp nhận Đấng Christ. Strobel cũng khuyến khích các mục sư và tín hữu hãy “nắm bắt mùa lễ hội” và mời những người khác khám phá bằng chứng về phép màu và sứ điệp của Chúa Giê-su.

“Chúa đang làm một điều gì đó trong nền văn hóa của chúng ta,” Strobel nói. “Hai tuần trước tại một nhà thờ, 105 người đã tin Chúa (đến với đức tin). Cuối tuần sau đó, 160 người đã tin Chúa. Chúa đang hành động—chúng ta hãy nắm bắt mùa lễ hội này.”

Tác giả: Jesse T. Jackson


Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc

Quan điểm của bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.

Link bài viết gốc: https://churchleaders.com/news/2210013-lee-strobel-the-case-for-miracles.html

admin

NGUY CƠ TIỀM ẨN CỦA NHỮNG BÀI GIẢNG TRỰC TUYẾN

Tháng 12 16, 2025/0 Comments/in THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH, Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh /by admin

Khi tôi còn nhỏ, gia đình tôi hiếm khi đi ăn ngoài. Việc đến nhà hàng chỉ là một dịp hiếm hoi, còn bữa ăn hằng ngày đều do mẹ tôi nấu. Nhờ vậy, chúng tôi khỏe mạnh hơn.

Là Cơ Đốc nhân, Lời Đức Chúa Trời chính là thức ăn thuộc linh của chúng ta, và sức khỏe thuộc linh của chúng ta phụ thuộc vào cách chúng ta được nuôi dưỡng. Trong Công Vụ 2, chúng ta thấy Hội Thánh đầu tiên được tăng trưởng khi các tín hữu chuyên tâm vào sự giảng dạy của các sứ đồ, cùng nhau bẻ bánh, cầu nguyện, và hằng ngày nhóm lại nơi đền thờ. Đây chính là cách Hội Thánh được lớn lên trong sự hiểu biết, hiệp một và tăng trưởng số lượng. Ngày nay, các tín hữu cùng Hội Thánh địa phương vẫn có thể phát triển theo cách đó.

Tuy nhiên, tôi nhận thấy một xu hướng đáng lo ngại trong những năm gần đây: nhiều Cơ Đốc nhân vẫn đến Hội Thánh địa phương vào ngày Chúa Nhật, nhưng lại dành phần lớn thời gian và sự chú ý cho các nguồn trực tuyến—podcast, video YouTube, hay các bài giảng từ những Hội Thánh khác—để nuôi dưỡng đời sống thuộc linh của mình.

Không có gì sai khi sử dụng những nguồn tài liệu khác để tăng trưởng trong sự hiểu biết và tình yêu đối với Đức Chúa Trời cùng dân sự Ngài. Nhưng những nguồn trực tuyến chỉ nên được dùng như phần bổ trợ, chứ không phải nguồn nuôi dưỡng chính. Sự môn đồ hóa chủ yếu của chúng ta, qua sự giảng dạy và rao giảng, phải đến từ Mục sư và các Thánh đồ trong Hội Thánh địa phương nơi chúng ta đã lập giao ước—Hội Thánh nhà của chúng ta.

Vì Sao Chúng Ta Cần Ăn Tại Nhà

Tôi xin đưa ra ba lý do vì sao việc “ăn tại nhà” lại tốt cho Hội Thánh và cho mỗi thánh đồ.

1. Sự nhóm lại thúc đẩy tăng trưởng

Nghe một bài giảng hay trực tuyến chỉ đơn giản là nghe một bài giảng hay. Có thể bạn học được vài điều mới hoặc áp dụng cá nhân, nhưng bạn bỏ lỡ phước hạnh chung khi cùng dân sự Đức Chúa Trời tiếp nhận Lời Ngài.

Khi bạn ngồi dưới sự giảng dạy của mục sư mình, cùng nhóm với các thánh đồ tại Hội Thánh địa phương, bạn có cơ hội để thảo luận, áp dụng, và cùng nhau sử dụng Lời được giảng như công cụ môn đồ hóa lẫn nhau.

Như Hê-bơ-rơ 10:24–25 khuyên dạy: “Chúng ta hãy quan tâm khích lệ nhau về lòng yêu thương và các việc lành. Chớ bỏ sự nhóm lại như mấy kẻ quen làm, nhưng phải khuyên bảo nhau; nếu anh em thấy ngày của Chúa càng gần chừng nào thì càng phải làm như vậy chừng nấy.”

Sự tăng trưởng sâu sắc nhất xảy ra khi các thánh đồ thường xuyên nhóm lại, ngồi dưới sự giảng dạy của người của Đức Chúa Trời được đặt cho bầy địa phương, cùng nhau phục vụ, chiến đấu chống tội lỗi, và cầu nguyện. Nơi nào thiếu điều này, tình trạng suy dinh dưỡng thuộc linh thường xuất hiện.

“Các nguồn tài nguyên trực tuyến chỉ nên được dùng như phần bổ trợ, chứ không phải là nguồn nuôi dưỡng chính yếu.”

2. Sự so sánh dễ sinh bất mãn

Cộng đồng trực tuyến đầy rẫy các Mục sư và Giáo sư Kinh Thánh với đủ loại tính cách và phong cách giảng dạy. Một số thì cuốn hút, nhiệt thành, dễ gần—có lẽ là những điều bạn mong Mục sư mình có. Hoặc có thể Mục sư bạn đã như vậy, nhưng bạn lại thích những người dạy mang tính học thuật, điềm tĩnh và vững vàng.

Tôi không nói rằng chúng ta không bao giờ nên nghe những người dạy khác. Nhưng khi dành quá nhiều thời gian cho một danh sách chọn lọc các Mục sư trực tuyến, chúng ta dễ so sánh Mục sư mình với họ và sinh ra bất mãn với người chăn mà Đức Chúa Trời đã đặt để trên chúng ta (1 Phi-e-rơ 5:1–3), người phải chịu trách nhiệm về linh hồn chúng ta (Hê-bơ-rơ 13:17).

Sự bất mãn trong Hội Thánh có thể khiến việc chăn dắt của mục sư trở thành gánh nặng thay vì niềm vui, và như Hê-bơ-rơ 13:17 nhắc nhở, “điều đó chẳng ích lợi gì cho anh em.”

3. Sự hiệp một dễ dàng mất đi

Ê-phê-sô 4:3 kêu gọi chúng ta: “Cố gắng duy trì sự hiệp nhất của Thánh Linh bằng sợi dây hòa bình.” Vie2010 Câu này ngụ ý rằng sự hiệp một có thể mất đi nếu không có nỗ lực chủ ý.

Hãy tưởng tượng tôi chịu ảnh hưởng nặng từ một Mục sư trên YouTube, người khác lại tìm sự môn đồ hóa từ một nhân vật nổi tiếng trên Instagram, và những người khác nữa thì dựa vào một “chế độ ăn” dày đặc các podcast. Chúng ta có thể bắt đầu đồng hóa mình với một cộng đồng trực tuyến xoay quanh một nhân vật hay một khía cạnh giáo lý, thay vì với cộng đồng hiện hữu trong Hội Thánh địa phương.

Chúng ta có nguy cơ trở nên giống như Hội Thánh Cô-rinh-tô hay tranh cãi, khi có người nói mình thuộc về Phao-lô, kẻ khác thuộc về A-bô-lô, và người khác nữa thuộc về Sê-pha (1 Cô-rinh-tô 1:12–13).

Cuối cùng, chúng ta theo Đấng Christ và hiệp một với các tín hữu khác dưới quyền tể trị của Ngài. Nhưng một cách để giữ sự hiệp một trong thân thể địa phương là dành thời gian và sự chú ý theo Mục sư của mình khi ông theo Đấng Christ, thay vì quá chú tâm theo dõi những người dạy trực tuyến.

Làm Thế Nào Để Ăn Tại Nhà

Chúng ta được tự do tận hưởng ân tứ giảng dạy của những người khác, nhưng sự khôn ngoan kêu gọi sự thận trọng và điều độ. Sau đây là vài cách thực tiễn để biến Hội Thánh địa phương thành nơi phát triển thuộc linh chính yếu của chúng ta:

  1. Lắng nghe chăm chú sự giảng dạy của Mục sư vào ngày Chúa Nhật và trong tuần. Hãy nghe lại bài giảng, cầu xin Đức Thánh Linh giúp bạn hiểu và áp dụng sâu hơn. Thảo luận với các tín hữu khác, thậm chí có thể liên hệ với mục sư để đặt câu hỏi hoặc khích lệ.
  2. Tận dụng những cơ hội khác để ngồi dưới sự giảng dạy tại Hội Thánh địa phương ngoài buổi thờ phượng hằng tuần. Nhiều Hội Thánh có lớp Trường Chúa Nhật, nhóm học Kinh Thánh giữa tuần, buổi cầu nguyện, hoặc nhóm nhỏ.
  3. Nếu bạn nghe các bài giảng hay podcast trực tuyến, hãy chắc chắn rằng người dạy có nền tảng thần học vững chắc, để sự giảng dạy bổ trợ cho sự môn đồ hóa của Hội Thánh bạn chứ không làm suy giảm. Nếu cần giúp đỡ trong việc xác định những Mục sư và Giáo sư đồng quan điểm để nghe, hãy hỏi Mục sư hoặc các Trưởng lão của bạn.

“Chúng ta được tự do tận hưởng ân tứ giảng dạy của những người khác, nhưng sự khôn ngoan kêu gọi sự thận trọng và tiết độ.”

Hỡi các thánh đồ, Hội Thánh địa phương là tổ chức quan trọng nhất trên thế giới. Công nghệ đã đem đến cho chúng ta nguồn tài nguyên phong phú có thể là phước hạnh. Nhưng đừng quên rằng sự cung ứng chính yếu của Đức Chúa Trời cho sự tăng trưởng thuộc linh của chúng ta được tìm thấy trong Hội Thánh địa phương.

Hãy cam kết với một Hội Thánh—thờ phượng tại đó, phục vụ tại đó, dâng hiến tại đó, và lớn lên tại đó. Bởi vì, thật vậy, không nơi nào bằng nhà.

Tác giả: Deborah Jaynene Smith

Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc

Bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của Đội ngũ Ba-rúc.

Link bài viết gốc: https://www.thegospelcoalition.org/article/danger-online-sermons/

admin

CÓ PHẢI CHÚA GIÊ-SU SINH VÀO NGÀY 25 THÁNG 12 KHÔNG?

Tháng 12 13, 2025/0 Comments/in THẦN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH, Thần Học Và Đời Sống Hội Thánh /by admin

Một khảo sát các ghi chép Kinh thánh và lịch sử cho thấy có thể đưa ra những kết luận vững chắc về thời điểm trong năm Đấng Cứu Thế ra đời.

Mỗi năm khi Giáng sinh đến gần, chúng ta thường nghe những tuyên bố như thế này:

“Chúa Giê-su không sinh vào ngày 25 tháng 12.”

“Không thể nào như vậy được, vì những người chăn chiên sẽ không để đàn chiên của họ ngoài đồng” (xem Lu-ca 2:8).

“Các tín đồ Cơ Đốc lấy ngày 25 tháng 12 từ một ngày lễ ngoại giáo.”

Mặt khác, người ta đôi khi nghe những lập luận phản bác thế này:

“Chúa Giê-su chắc chắn được sinh ra vào ngày 25 tháng 12.”

“Giáo hội Công giáo nói là Ngài được sinh ra vào ngày đó.”

“Việc phủ nhận điều này là một sự công kích vào Cơ Đốc giáo.”

“Những Cơ Đốc nhân sơ khai chắc hẳn đã cực kỳ quan tâm đến ngày sinh của Chúa Giê-su và chắc hẳn đã ghi chép lại dựa trên ký ức của Đức Mẹ Ma-ri về ngày đó.”

Chúng ta hãy cùng xem xét cả hai nhóm lập luận này.

‘Canh giữ đàn chiên của họ’

Lu-ca nói rằng những người chăn chiên ở ngoài đồng vào ban đêm cùng với đàn chiên của họ, nhưng điều này không loại trừ ngày 25 tháng 12 hay bất kỳ ngày nào khác trong mùa đông.

Người Do Thái cổ đại không có các không gian lớn trong nhà để nuôi nhốt đàn cừu. Các đàn chiên được giữ ngoài trời trong suốt mùa đông ở Giu-đê, cũng như ở những nơi khác trên thế giới ngày nay, kể cả ở những nơi thường có tuyết.

Tìm kiếm trên internet cụm từ “winter sheep care” (chăm sóc cừu vào mùa đông) và bạn sẽ tìm thấy các trang web của những người nuôi cừu hiện đại giải thích rằng việc giữ đàn chiên ngoài trời vào mùa đông là hoàn toàn ổn. Loài cừu đã thích nghi với cuộc sống ngoài trời. Đó là lý do tại sao chúng có lông cừu, thứ giữ nhiệt cơ thể bên trong và chống ẩm bên ngoài.

Cừu được chăn giữ ngoài trời ở Israel trong mùa đông ngay cả ngày nay:

William Hendricksen trích dẫn một bức thư đề ngày 16 tháng 1 năm 1967, nhận được từ học giả Tân Ước Harry Mulder, lúc đó đang giảng dạy ở Beirut, trong đó người sau kể lại việc có mặt tại Cánh đồng Chiên tại Bết-lê-hem vào đêm Giáng sinh vừa qua, và nói: “Ngay gần chúng tôi, một vài đàn chiên đang nép mình nghỉ ngơi. Ngay cả những con cừu non cũng không thiếu. . . . Do đó, chắc chắn không phải là không thể Chúa Giê-su sinh vào tháng Mười Hai.” (Jack Finegan, Handbook of Biblical Chronology, 2nd ed., §569).

Lập luận về ngày lễ ngoại giáo

Liệu các tín đồ Cơ Đốc có quyết định kỷ niệm sinh nhật Chúa Giê-su vào ngày 25 tháng 12 để tạo ra một sự thay thế cho một lễ hội ngoại giáo phổ biến?

Một số tín đồ Cơ Đốc làm điều tương tự ngày nay với các ngày lễ thánh khác. Vì những âm hưởng rùng rợn mà lễ Halloween có trong văn hóa của chúng ta, một số nhà thờ Tin Lành tổ chức lễ “Lễ Mùa Gặt (Lễ Lều Tạm)” (Harvest Festival) hoặc “Ngày Cải cách” (Reformation Day) vào ngày 31 tháng 10 để mang đến cho giới trẻ một sự thay thế lành mạnh, vì vậy không phải là không thể những Cơ Đốc nhân thuở ban đầu đã làm điều tương tự.

Nhưng các lập luận cho rằng các ngày lễ Cơ Đốc có nguồn gốc ngoại giáo là thiếu thuyết phục. Ví dụ, lập luận rằng lễ Phục sinh có nguồn gốc ngoại giáo dựa trên một nguồn gốc từ ngữ mơ hồ cho từ tiếng Anh Easter mà người ta cho rằng dựa trên tên của một nữ thần Giéc-manh mà thậm chí chúng ta không có bất kỳ ghi chép nào khác về bà.

Hơn nữa, lễ Phục sinh không bắt đầu ở Anh. Nó được tổ chức khắp thế giới Cơ Đốc giáo, và trong hầu hết các ngôn ngữ, tên gọi của nó bắt nguồn từ Pesakh—từ tiếng Hê-bơ-rơ dùng cho Lễ Vượt Qua—vì Chúa Giê-su bị đóng đinh vào dịp Lễ Vượt Qua. Do đó, bất kể nó được gọi là gì ở các quốc gia riêng lẻ, nó có nguồn gốc Do Thái.

Để duy trì lập luận rằng Giáng sinh dựa trên một ngày lễ ngoại giáo, người ta sẽ cần phải làm hai việc: (1) xác định ngày lễ ngoại giáo mà nó thay thế, và (2) chứng minh đây là chủ ý của những Cơ Đốc nhân đã giới thiệu Giáng sinh vào ngày 25 tháng 12.

Một số người đã tuyên bố Giáng sinh dựa trên ngày lễ hội nông nghiệp Saturnalia của người La Mã, một lễ hội của thần Saturn. Tuy nhiên, ngày lễ này được tổ chức vào ngày 17 tháng 12, và mặc dù sau đó nó được mở rộng để bao gồm những ngày trước ngày 23 tháng 12, nó đã kết thúc trước ngày 25 tháng 12. Một lễ kỷ niệm Cơ Đốc giáo vào ngày sau đó sẽ không thay thế Saturnalia.

Một ứng cử viên sáng giá hơn là Sol Invictus (tiếng Latin, “Mặt trời Bất bại”), được tổ chức vào ngày 25 tháng 12. Tuy nhiên, ghi chép sớm nhất mà chúng ta có có thể chỉ ra việc nó được tổ chức vào ngày đó thì muộn và mơ hồ.

Biên niên sử Cơ Đốc giáo năm 354 (Chronography of A.D. 354) ghi lại rằng “Sinh nhật của Đấng Bất bại” được tổ chức vào ngày đó trong năm 354, nhưng danh tính của “Đấng Bất bại” là không rõ ràng. Vì đây là một tài liệu Cơ Đốc giáo mà ở những chỗ khác liệt kê ngày sinh của Chúa Giê-su là ngày 25 tháng 12, nên đó có thể là Đấng Christ Bất bại—chứ không phải mặt trời—và sự ra đời của Ngài được kỷ niệm.

Ngay cả khi Giáng sinh và lễ Sol Invictus đều diễn ra vào ngày 25 tháng 12, Giáng sinh là cơ sở cho Sol Invictus, hoặc ngược lại, hoặc đó chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Nếu bạn muốn tuyên bố ngày của Sol Invictus là cơ sở cho Giáng sinh, bạn cần bằng chứng.

Nhưng khó mà kiếm được bằng chứng. Ngay cả khi Biên niên sử năm 354 đề cập đến việc Sol Invictus được tổ chức vào ngày 25 tháng 12, đây là ghi chép đầu tiên về sự kiện đó, và—như chúng ta sẽ thấy bên dưới—một số Cơ Đốc nhân đã tin rằng Chúa Giê-su sinh vào ngày đó trong một thời gian dài trước đó rồi.

Nếu các Cơ Đốc nhân đang ngầm phá hoại Sol Invictus, chúng ta lẽ ra phải tìm thấy các Giáo phụ nói rằng, “Hãy cung cấp một lễ kỷ niệm thay thế.” Nhưng chúng ta không tìm thấy. Các Giáo phụ kỷ niệm ngày 25 tháng 12 và họ thực lòng nghĩ đó là ngày Chúa Giê-su ra đời.

Và ngay cả khi Giáng sinh được định thời gian để ngầm phá hoại một ngày lễ ngoại giáo, thì sao? Giáng sinh là lễ kỷ niệm sự ra đời của Chúa Giê-su Christ, và kỷ niệm sự ra đời của Đấng Christ là một điều tốt lành. Ngầm phá hoại tà giáo thì cũng vậy thôi. Nếu các Cơ Đốc nhân sơ khai đang làm cả hai, chẳng có gì to tát cả!

Tuy nhiên, xét cho cùng, bằng chứng không ủng hộ lập luận đó. Giáo hoàng Benedict XVI đã nói: Tuyên bố từng được đưa ra rằng ngày 25 tháng 12 phát triển nhằm đối lập với truyền thuyết Mithras, hoặc như một phản ứng của Cơ Đốc giáo đối với sự sùng bái mặt trời bất bại được thúc đẩy bởi các hoàng đế La Mã vào thế kỷ thứ ba trong nỗ lực của họ nhằm thiết lập một tôn giáo đế quốc mới. Tuy nhiên, những lý thuyết cũ này không còn có thể được duy trì nữa. (The Spirit of the Liturgy, 107-108).

Không phải là vấn đề về giáo lý

Còn về khẳng định rằng Giáo hội Công giáo tuyên bố Chúa Giê-su sinh vào ngày 25 tháng 12 thì sao?

Điều này không đúng sự thật. Giáo hội kỷ niệm sự ra đời của Chúa Giê-su vào ngày 25 tháng 12, nhưng điều này không có nghĩa là một tuyên bố rằng Ngài sinh vào ngày đó.

Lễ kỷ niệm phụng vụ của một sự kiện không có nghĩa là Giáo hội cho rằng nó xảy ra vào ngày đó. Ví dụ, ngày một vị thánh được kỷ niệm thường là ngày ngài qua đời, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Lễ tưởng niệm Thánh Ambrose là vào ngày 7 tháng 12, mặc dù ngài qua đời vào ngày 4 tháng 4.

Người ta sẽ tìm thấy các tài liệu của Giáo hội đề cập đến lễ kỷ niệm phụng vụ sự ra đời của Chúa Giê-su vào ngày 25 tháng 12, nhưng người ta sẽ không tìm thấy bất kỳ tài liệu giáo huấn chính thức nào thiết lập nó như một giáo lý của Giáo hội rằng đây là ngày Ngài sinh ra.

Mặc dù sự ra đời của Ngài có ý nghĩa sâu sắc đối với đức tin của chúng ta, nhưng ngày cụ thể nó xảy ra là một vấn đề lịch sử hơn là giáo lý, và các tín đồ Cơ Đốc không cần phải lo lắng về ý tưởng Ngài sinh vào một ngày khác.

Sự công kích vào Cơ Đốc giáo?

Liệu tuyên bố cho rằng Chúa Giê-su sinh vào một ngày khác có phải là một sự công kích vào Cơ Đốc giáo?

Đúng là một số người đưa ra tuyên bố này muốn phỉ báng hoặc làm suy yếu Cơ Đốc giáo, nhưng không phải ai cũng có động cơ này. Có những tín đồ Cơ Đốc chân chính tranh luận rằng Chúa Giê-su sinh vào một ngày khác. Một số thậm chí đã bị mắc lừa bởi lập luận ngày lễ ngoại giáo và đang tìm cách bảo vệ Cơ Đốc giáo khỏi bị vấy bẩn bởi các liên kết ngoại giáo.

Đôi khi những người bảo vệ ngày 25 tháng 12 lập luận rằng các Cơ Đốc nhân sơ khai chắc hẳn đã cực kỳ quan tâm đến ngày sinh của Chúa Giê-su, và do đó—dựa trên ký ức của Đức Mẹ Ma-ri về ngày đó—họ chắc hẳn đã ghi chép lại. Làm sao họ lại có thể không làm như vậy được?

Có những vấn đề lớn với lập luận này. Các tín đồ Cơ Đốc đã tò mò về nhiều điều liên quan đến Chúa Giê-su mà chúng ta không có ghi chép đáng tin cậy.

Các sách Phúc Âm là những ghi chép đáng tin cậy nhất của chúng ta, nhưng chi phí sản xuất sách quá lớn vào thời điểm đó có nghĩa là các Tác giả Phúc Âm chỉ ghi lại những chi tiết họ coi là quan trọng nhất. Do đó, các Phúc Âm không cho chúng ta biết ngày hay thậm chí năm sinh của Ngài. Ngoại trừ sự kiện Tìm thấy Ngài trong Đền thờ (Lu-ca 2:41-51), họ không cho chúng ta biết điều gì đã xảy ra trong thời thơ ấu của Ngài, và họ hoàn toàn không nói gì về vẻ ngoài của Ngài.

Các Cơ Đốc nhân sau này tò mò về tất cả những điều này, nhưng việc các Tác giả Phúc âm không ghi lại chúng cho thấy rằng họ không coi chúng là thiết yếu để chúng ta cần biết.

Một lý do họ có lẽ đã không coi ngày sinh nhật Chúa Giê-su là quan trọng là vì việc tổ chức sinh nhật không phải là một tập quán phổ quát của con người. Nhiều nền văn hóa có thái độ khác nhau đối với thời gian và tuổi tác, và trong thế kỷ XX, các học giả phương Tây làm việc với người Trung Đông nghèo có thể ngạc nhiên về việc họ không có ý niệm rõ ràng về tuổi của mình.

Về mặt lịch sử, văn hóa Do Thái đã không rõ ràng về việc tổ chức sinh nhật, với một số Rabbi (thầy thông giáo) lập luận rằng chúng không nên được tổ chức chút nào, lý luận rằng làm như vậy là một tập quán dân ngoại hoặc thậm chí là thờ hình tượng. Một số chỉ ra thực tế rằng, trong Kinh Thánh Sách Hê-bơ-rơ, sinh nhật duy nhất được tổ chức là của nhân vật độc ác Pha-ra-ôn (Sáng thế ký 40:20).

Các nhà cai trị áp bức khác cũng tổ chức sinh nhật—đôi khi hàng tháng—và mong đợi thần dân của họ cũng làm như vậy. Do đó, trong thời kỳ Ma-ca-bê, “Vào lễ kỷ niệm hàng tháng sinh nhật nhà vua, người Do Thái bị bắt, dưới sự cưỡng ép cay đắng, phải tham gia vào các lễ vật hiến tế” (2 Ma-ca-bê 6:7). Các hoàng đế La Mã cũng có các lễ kỷ niệm công khai sinh nhật của họ, điều này liên quan đến việc thờ hình tượng và thúc đẩy sự ác cảm của người Do Thái đối với tập tục này.

Lễ kỷ niệm sinh nhật duy nhất trong Tân Ước là của vua bù nhìn La Mã Hê-rốt An-ti-pa, và điều đó dẫn đến sự tử vì đạo của Giăng Báp-tít (Ma-thi-ơ 14:1-12).

Do đó, không ngạc nhiên khi thấy các nhà văn Cơ Đốc sơ khai như Origen, khoảng năm 241 SCN, chê bai việc tổ chức sinh nhật:

Không một ai trong tất cả các vị thánh được tìm thấy đã kỷ niệm một ngày lễ hay một bữa tiệc lớn vào ngày sinh của mình.

Không ai được tìm thấy đã vui mừng vào ngày con trai hay con gái mình chào đời.

Chỉ những kẻ tội lỗi mới vui mừng về loại sinh nhật này. Vì quả thật chúng ta thấy trong Cựu Ước có Pha-ra-ôn, vua Ai Cập, tổ chức ngày sinh của mình bằng một lễ hội, và trong Tân Ước, có Hê-rốt. Tuy nhiên, cả hai người họ đều làm ô uế ngày lễ sinh nhật của mình bằng cách đổ máu người.

Vì Pha-ra-ôn đã giết thợ làm bánh, còn Hê-rốt thì giết nhà tiên tri thánh Giăng “trong ngục”.

Nhưng các vị thánh không những không tổ chức lễ hội vào ngày sinh của họ, mà, được đầy dẫy Đức Thánh Linh, họ còn nguyền rủa ngày đó. (Homilies on Leviticus 8:2).

Origen không đơn độc trong Giáo hội sơ khai, và ông minh họa cách các nền văn hóa khác có thể có thái độ rất khác nhau đối với sinh nhật. Do đó, lập luận “làm sao họ có thể không lưu giữ ngày sinh của Chúa Giê-su” là không hiệu quả.

Điều này không có nghĩa là các nguồn Cơ Đốc giáo sơ khai không lưu giữ ngày sinh của Chúa Giê-su, chỉ là không đảm bảo rằng họ đã làm vậy. Do đó chúng ta cần xem xét bằng chứng.

Một lập luận dựa trên Kinh Thánh?

Một số người lập luận rằng, mặc dù Tân Ước không cho chúng ta biết ngày sinh của Chúa Giê-su là ngày nào, nhưng nó chứa đủ thông tin để chúng ta suy luận ra được.

Lập luận diễn ra như sau: Cha của Giăng Báp-tít, Xa-cha-ri là một thầy tế lễ, thuộc ban A-bi-a (Lu-ca 1:5), một trong hai mươi bốn ban tư tế phục vụ theo một lịch luân phiên thường xuyên tại đền thờ. Sau khải tượng loan báo sự thụ thai của Giăng Báp-tít, ông trở về nhà, và vợ ông, Ê-li-sa-bét, mang thai (1:23-25). Sau đó, “trong tháng thứ sáu” của thai kỳ Ê-li-sa-bét, Thiên sứ Gáp-ri-ên hiện ra với Ma-ri và loan báo sự thụ thai của Chúa Giê-su (1:26-31).

Do đó, sự ra đời của Chúa Giê-su sẽ xảy ra mười lăm tháng sau khi việc phục vụ của Xa-cha-ri kết thúc, và nếu chúng ta có thể xác định ngày điều đó xảy ra thì chúng ta có thể xác định ngày sinh của Chúa Giê-su.

Mặc dù nghe có vẻ hấp dẫn, lập luận này không cho phép chúng ta xác định được ngày sinh của Chúa Giê-su.

Thứ nhất, các ban tư tế phục vụ tại đền thờ hai lần một năm, và chúng ta sẽ phải đoán xem Xa-cha-ri đang phục vụ trong đợt nào trong hai đợt đó khi ông nhận được khải tượng. Điều đó tạo ra sự không chắc chắn về sáu tháng.

Thứ hai, các học giả không chắc chắn khi nào mỗi ban tư tế làm nhiệm vụ. Có những đề xuất khác nhau, và vấn đề bị phức tạp bởi thực tế là một số năm Do Thái có một tháng bổ sung (rất giống với năm nhuận của chúng ta) để giữ cho lịch đồng bộ với các mùa.

Thứ ba, lập luận giả định rằng Giăng Báp-tít được thụ thai ngay lập tức sau khi Xa-cha-ri trở về, nhưng Lu-ca không nói điều đó. Ông nói Ê-li-sa-bét mang thai “sau những ngày đó” (1:24).

Thứ tư, lập luận giả định Thiên sứ Gáp-ri-ên hiện ra với Ma-ri đúng sáu tháng sau khi Giăng được thụ thai, nhưng đó cũng không phải là điều Lu-ca nói. Ông nói thiên sứ hiện ra “trong tháng thứ sáu” (1:26, 36)—tức là khi Ê-li-sa-bét mang thai từ năm đến sáu tháng. Điều này tạo ra một sự mơ hồ kéo dài ba mươi ngày.

Thứ năm, lập luận giả định Ma-ri thụ thai ngay lúc Thiên sứ Gáp-ri-ên nói với bà, nhưng Lu-ca không cho biết điều đó. Gáp-ri-ên nói “con sẽ thụ thai” (tiếng Hy Lạp, sullêmpsê)—ở thì tương lai—chỉ ra rằng Chúa Giê-su sẽ được thụ thai trong tương lai nhưng không phải chính xác là khi nào.

Thứ sáu, lập luận giả định Chúa Giê-su ở trong bụng mẹ đúng chín tháng, nhưng thời kỳ mang thai trung bình của con người là khoảng bốn mươi tuần kể từ lần rụng trứng cuối cùng. Cho các tháng có bốn tuần, điều đó sẽ là khoảng mười tháng. Do đó, sách Wisdom có chép: “trong lòng mẹ tôi được nhào nặn thành xương thịt, trong khoảng thời gian mười tháng” (Sách Khôn ngoan 7:1-2). Hơn nữa, thai kỳ trung bình của con người dao động lên tới năm tuần về độ dài, tạo ra sự không chắc chắn kéo dài ba mươi lăm ngày.

Dựa trên những điều không chắc chắn này, lập luận này sẽ không cho phép chúng ta xác định chính xác ngày sự ra đời của Chúa Giê-su.

Tuy nhiên, nó có thể đưa chúng ta đến được một phần của câu trả lời. Dựa trên một phỏng đoán về việc Xa-cha-ri đang thực hiện đợt phục vụ nào trong hai đợt tư tế, Jack Finegan tính toán rằng lập luận sẽ chỉ ra một ngày sinh nằm ở đâu đó giữa tháng Mười Hai và tháng Hai, tạo thêm sự hợp lý—dựa trên bằng chứng Kinh thánh—cho việc Chúa Giê-su sinh vào mùa đông (Handbook of Biblical Chronology, 2nd ed., §473), mặc dù cần phải chỉ ra rằng việc đưa ra phỏng đoán khác về thời gian phục vụ của Xa-cha-ri sẽ chỉ ra một ngày sinh vào mùa hè.

Các Giáo phụ đưa ra ý kiến

Mặc dù Tân Ước không nêu đích danh một ngày cụ thể là ngày sinh của Chúa Giê-su, một số Giáo phụ đã làm như vậy.

Khoảng năm 194 SCN, Clê-men thành Alexandria tuyên bố rằng “từ sự ra đời của Chúa đến cái chết của [hoàng đế] Commodus bao gồm 194 năm một tháng và mười ba ngày” (Miscellanies [Stromateis] 1:21:145:5). Tính toán ngược lại từ vụ ám sát Commodus vào ngày 31 tháng 12 năm 192, điều đó sẽ đặt ngày sinh của Đấng Christ vào ngày 18 tháng 11 năm 3 TCN.

Clê-men cũng báo cáo có một số người cho rằng sự kiện đó xảy ra vào ngày hai mươi lăm của tháng Pachon theo lịch Ai Cập, ngày tương ứng với 20 tháng 5 năm đó (1:21:145:6).

Ông cũng báo cáo thêm rằng một số tín đồ của nhà Ngộ đạo Basilides nói rằng đó là vào ngày hai mươi tư hoặc hai mươi lăm của tháng Pharmouthi theo lịch Ai Cập, ngày tương ứng với 19 hoặc 20 tháng 4 (1:21:146:4).

Như vậy chúng ta thấy rằng, vào cuối thế kỷ thứ hai, một số ngày khác nhau cho ngày sinh của Chúa Giê-su đã được đề xuất.

Khoảng năm 204, Thánh Hippolytus thành Rome viết rằng “sự xuất hiện lần đầu của Chúa chúng ta trong xác thịt, khi ngài được sinh ra tại Bết-lê-hem, là tám ngày trước Kalends của tháng Một, ngày thứ tư [tức là thứ Tư], khi Augustus đang ở năm thứ bốn mươi hai của mình” (tức là năm 3 hoặc 2 TCN) (Commentary on Daniel 4:23:3). Kalends là ngày đầu tiên của tháng, và tám ngày trước ngày 1 tháng Một là 25 tháng 12.

Đây là ghi chép sớm nhất chúng ta có được về việc ngày sinh của Chúa Giê-su là ngày 25 tháng 12. Nó đi trước bảy mươi năm so với thời điểm Hoàng đế Aurelian biến Sol Invictus thành một sự sùng bái La Mã, và nó đi trước 150 năm so với ghi chép sớm nhất được tuyên bố về việc Sol Invictus được tổ chức vào ngày 25 tháng 12—tuyên bố đó dựa trên Biên niên sử năm 354 sau Công nguyên.

Phần 6 của Biên niên sử liệt kê những điều sau đây cho ngày thứ tám trước Kalends của tháng Giêng: “Sinh nhật của Đấng Bất bại, các trò chơi được ra lệnh, ba mươi [cuộc đua ngựa].” Điều này rất có thể là một sự ám chỉ đến một ngày lễ ngoại giáo, nhưng vì lịch này được biên soạn sau sự cải đạo của Constantine, nên điều này không hoàn toàn chắc chắn.

Phần 12 của Biên niên sử, là một lịch kỷ niệm các vị tử đạo, liệt kê như sau: “Tám ngày trước Kalends của tháng Giêng: Sự ra đời của Đấng Christ tại Bết-lê-hem xứ Giu-đê.”

Năm 386, Thánh Gioan Kim Khẩu (Chrysostom) đã giảng một bài thuyết giáo vào ngày 20 tháng 12—tưởng niệm Thánh Philogonius—trong đó ông lưu ý rằng “ngày Đấng Christ sinh ra trong xác thịt” sắp đến trong “khoảng thời gian năm ngày,” tức là ngày 25 tháng 12 (On the Incomprehensible Nature of God 6:23, 30).

Cuối cùng, khoảng năm 408, Thánh Augustine viết rằng “theo truyền thống Ngài [Chúa Giê-su] sinh vào ngày 25 tháng 12” (The Trinity 4:5).

Mặc dù truyền thống ngày 25 tháng 12 đang trở nên vững chắc, nó không phải là ngày duy nhất được lưu hành.

Khoảng năm 375, Thánh Epiphanius thành Salamis đã đưa ra một sự tính toán cực kỳ chính xác về sự ra đời của Đấng Christ, tuyên bố: “Đấng Christ sinh vào tháng Giêng, tức là, vào ngày thứ tám trước Ides của tháng Giêng—theo lịch La Mã thì đây là tối ngày 5 tháng Giêng, vào đầu ngày 6 tháng Giêng” (Panarion 51:24:1).

Ông cũng lưu ý rằng một giáo phái được gọi là Alogoi cũng tổ chức ngày đó (51:29:2-5).

Cuối cùng, cả ngày 25 tháng 12 và 6 tháng 1 đều tìm được chỗ đứng trong lịch của Giáo hội, với ngày sau được dùng để kỷ niệm chuyến viếng thăm của Ba nhà thông thái (Magi) và lễ báp-têm của Chúa Giê-su.

Kết luận
Tất cả những điều này đưa chúng ta đến đâu? Một mặt, các lập luận phản đối Chúa Giê-su sinh vào ngày 25 tháng 12 không có hiệu lực, và tuyên bố ngày này được chọn để thay thế một lễ hội ngoại giáo là quan điểm ông thể đồng tình được.

Chúng ta không chỉ thấy các tín đồ Cơ Đốc ủng hộ ngày 25 tháng 12 rất lâu trước ngày lễ ngoại giáo được đề cập, mà chúng ta cũng không thấy họ nói bất cứ điều gì kiểu như, “Hãy cung cấp một lễ kỷ niệm thay thế.” Những người ủng hộ ngày 25 tháng 12 thực lòng tin rằng đó là lúc Chúa Giê-su ra đời.

Mặt khác, Kinh thánh không cung cấp đủ thông tin để chúng ta xác định ngày sinh của Chúa Giê-su, và truyền thống trong các Giáo phụ thì lẫn lộn, với các ngày khác nhau được đề xuất.

Người ta đã lưu ý rằng, trong thế giới cổ đại, hai ngày—25 tháng 12 và 6 tháng 1—đôi khi được tính là ngày đông chí, thời điểm các ngày bắt đầu dài ra.

Hơn nữa, các Giáo phụ đã thảo luận về sự ra đời của Đấng Christ dưới góc độ ánh sáng đến với thế gian, dựa trên lời tiên tri của Ma-la-chi: “Nhưng các con, những người tôn kính danh Ta, mặt trời công chính sẽ mọc lên với sức chữa lành trong tia sáng nó” (4:2).

Do đó, có thể rằng niềm tin Đấng Christ sinh vào ngày đông chí dựa trên lời tiên tri này. Hoặc, có lẽ đã có một ký ức rằng Đấng Christ sinh vào mùa đông, và ngày cụ thể được xác định dựa trên lời tiên tri. Hoặc có thể là Đấng Christ đơn giản đã sinh vào một trong những ngày này, và sự trùng hợp của nó với những tính toán cổ xưa về đông chí là một vấn đề thuộc về sự sắp đặt của Thiên Chúa.

Dù trường hợp là gì đi nữa, Đấng Christ đã giáng sinh. Mặt trời công chính đã mọc lên, và “dân ngồi trong bóng tối đã thấy ánh sáng lớn, và đối với những người ngồi trong vùng và bóng của sự chết, ánh sáng đã rạng” (Ma-thi-ơ 4:16; Ê-sai 9:2).

Thông tin bổ sung

Mặc dù khó xác định ngày Chúa Giê-su ra đời, nhưng có thể xác định được năm.

Một quan điểm phổ biến—mặc dù không chính xác—là Ngài sinh khoảng năm 6-7 TCN. Điều này dựa trên ý tưởng Vua Hê-rốt I qua đời vào năm 4 TCN, và Chúa Giê-su chắc hẳn đã sinh khoảng hai năm trước đó, vì Hê-rốt “giết hết thảy con trai ở Bết-lê-hem và vùng lân cận, từ hai tuổi trở xuống” (Matt. 2:16).

Tuy nhiên, các nghiên cứu đáng tin cậy hơn chỉ ra Hê-rốt qua đời vào năm 1 TCN. Điều này phù hợp với dữ liệu từ các Sách Phúc Âm, vốn chỉ ra Giăng Báp-tít bắt đầu chức vụ của mình “trong năm thứ mười lăm của Sê-sa Ti-be-rơ” (Lu-ca 3:1)—tức là năm 29 SCN—rằng Chúa Giê-su chịu phép báp-têm ngay sau đó, và Ngài bắt đầu chức vụ khi “khoảng ba mươi tuổi” (3:23).

Nếu bạn trừ ba mươi năm từ năm 29 SCN thì—vì không có “năm số không”—bạn sẽ rơi vào năm 2 TCN.

Điều này phù hợp với ngày được đưa ra bởi các Giáo phụ, những người áp đảo đồng thuận rằng ngày sinh của Chúa Giê-su vào năm thứ bốn mươi hai của Sê-sa Au-gút-tơ năm 3 hoặc 2 TCN. (tức là những năm cuối của năm 3 TCN và đầu những năm 2 TCN).

Để biết thêm thông tin về sự ra đời của Chúa Giê-su, hãy xem Jack Finegan, Sổ tay Niên đại Kinh thánh, tái bản lần 2 (Handbook of Biblical Chronology, 2nd ed.), và Andrew Steinmann, Từ Áp-ra-ham đến Phao-lô (From Abraham to Paul).

Tác giả: Jimmy Akin


Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc

Quan điểm của bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.

Link bài viết gốc: https://www.catholic.com/magazine/print-edition/was-jesus-born-december-25th

Page 1 of 19123›»

Đọc nhiều

  • Mười Lời Cầu Nguyện Cho Năm Mới 2022
  • ĐÔI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI VÀ THÀNH TỰU CỦA BLAISE PASCAL
  • CHÂN DUNG NGƯỜI NỮ THEO KINH THÁNH
  • “Vết Xe Đổ” Của Các Mục Sư Sa Ngã
  • 14 Sự Thật Đáng Kinh Ngạc Về Các Mục Sư

Mới nhất

  • 9 LÝ DO VÌ SAO HỘI CHÚNG KHÔNG THAM GIA HÁT THỜ PHƯỢNGTháng 2 2, 2026 - 10:43 sáng
  • Không Nhớ Nội Dung Bài Giảng Cũng Không Sao!Tháng 1 27, 2026 - 2:15 chiều
  • VÌ SAO CHÚNG TA NÊN KIÊN TRÌ CẦU NGUYỆN?Tháng 1 24, 2026 - 2:35 chiều
  • Bốn Thực Hành Giảng Luận Đầy Quyền Năng từ Martin Luther King Jr.Tháng 1 22, 2026 - 3:55 sáng
  • SỰ KHÔN NGOAN PHẢI ĐƯỢC TIÊM NHIỄM, KHÔNG PHẢI TỰ LÂYTháng 1 14, 2026 - 4:13 sáng
Tháng 2 2026
H B T N S B C
 1
2345678
9101112131415
16171819202122
232425262728  
« Th1    
© Copyright - Giảng Luận Kinh Thánh - Enfold Theme by Kriesi
  • Facebook
  • Youtube
Scroll to top