Một bộ phim tài liệu mới của Lee Strobel mang tên “Bằng Chứng Phép Lạ” nhằm mục đích cung cấp những chứng cớ cho thấy những phép màu tương tự như những gì được ghi chép trong Kinh Thánh thực sự vẫn diễn ra ngày nay. Bộ phim sẽ ra rạp từ ngày 15 đến 18 tháng 12.
Strobel kể lại việc điều tra các bằng chứng lịch sử về sự phục sinh của Chúa Giê-su đã biến đổi ông từ một người vô thần trở thành một Cơ Đốc nhân như thế nào. Ngày nay, ông tin rằng phép màu vẫn xảy ra và vạch ra bốn tiêu chí mà ông sử dụng để xác minh các trường hợp đáng tin cậy: hồ sơ y tế, nhiều nhân chứng, không thể giải thích bằng tự nhiên, và liệu sự kiện đó có xảy ra trong bối cảnh của sự cầu nguyện hay không.
“Nếu tôi thấy cả bốn điều đó hội tụ, tùy thuộc vào hoàn cảnh, tôi có thể bị thuyết phục rằng, vâng, Chúa đã can thiệp một cách siêu nhiên vào tạo vật của Ngài ngày hôm nay,” Strobel chia sẻ với trang ChurchLeaders.
Strobel chia sẻ các nghiên cứu được ghi nhận bằng tài liệu khoa học từ Mozambique và Brazil—được xuất bản trên một tạp chí y khoa thế tục, có bình duyệt (peer-reviewed) – cho thấy những cải thiện đáng kể về thính giác và thị giác ngay sau khi được cầu nguyện. Strobel thừa nhận rằng sự lừa đảo, trùng hợp ngẫu nhiên, hiệu ứng giả dược, và sự tự thuyên giảm bệnh là có thật, nhưng chúng không thể giải thích cho nhiều trường hợp có bằng chứng xác đáng.
Tác giả có sách bán chạy nhất này cũng chia sẻ về việc các “cụm” phép màu trên toàn cầu đang xuất hiện ở những nơi Phúc âm đang lan rộng, chẳng hạn như ở Trung Quốc và Mozambique. Ông thảo luận xem liệu các phép màu đang thực sự gia tăng hay chỉ đơn giản là việc ghi chép tài liệu khoa học đang tăng lên.
“Lần đầu tiên, chúng ta có các nhà khoa học ghi lại những phép màu rõ rệt—và công bố chúng trên các tạp chí được thẩm định,” Strobel nói. “Vì vậy, có vẻ như chúng ta đang có sự gia tăng nhanh chóng các phép màu được xác thực, nhưng có thể không phải do chúng xảy ra nhiều hơn. Có thể chỉ là do ngày nay chúng ta ghi chép lại chúng nhiều hơn mà thôi.”
Strobel hy vọng bộ phim sẽ củng cố đức tin của khán giả trong mùa Giáng Sinh và khơi mào những cuộc trò chuyện giữa những người tìm kiếm chân lý. Ông tin rằng Chúa đang hành động mạnh mẽ ngày nay, trích dẫn các sự kiện gần đây tại nhà thờ nơi hàng trăm người đã tiếp nhận Đấng Christ. Strobel cũng khuyến khích các mục sư và tín hữu hãy “nắm bắt mùa lễ hội” và mời những người khác khám phá bằng chứng về phép màu và sứ điệp của Chúa Giê-su.
“Chúa đang làm một điều gì đó trong nền văn hóa của chúng ta,” Strobel nói. “Hai tuần trước tại một nhà thờ, 105 người đã tin Chúa (đến với đức tin). Cuối tuần sau đó, 160 người đã tin Chúa. Chúa đang hành động—chúng ta hãy nắm bắt mùa lễ hội này.”
Tác giả: Jesse T. Jackson
Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc
Quan điểm của bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.
Khi tôi còn nhỏ, gia đình tôi hiếm khi đi ăn ngoài. Việc đến nhà hàng chỉ là một dịp hiếm hoi, còn bữa ăn hằng ngày đều do mẹ tôi nấu. Nhờ vậy, chúng tôi khỏe mạnh hơn.
Là Cơ Đốc nhân, Lời Đức Chúa Trời chính là thức ăn thuộc linh của chúng ta, và sức khỏe thuộc linh của chúng ta phụ thuộc vào cách chúng ta được nuôi dưỡng. Trong Công Vụ 2, chúng ta thấy Hội Thánh đầu tiên được tăng trưởng khi các tín hữu chuyên tâm vào sự giảng dạy của các sứ đồ, cùng nhau bẻ bánh, cầu nguyện, và hằng ngày nhóm lại nơi đền thờ. Đây chính là cách Hội Thánh được lớn lên trong sự hiểu biết, hiệp một và tăng trưởng số lượng. Ngày nay, các tín hữu cùng Hội Thánh địa phương vẫn có thể phát triển theo cách đó.
Tuy nhiên, tôi nhận thấy một xu hướng đáng lo ngại trong những năm gần đây: nhiều Cơ Đốc nhân vẫn đến Hội Thánh địa phương vào ngày Chúa Nhật, nhưng lại dành phần lớn thời gian và sự chú ý cho các nguồn trực tuyến—podcast, video YouTube, hay các bài giảng từ những Hội Thánh khác—để nuôi dưỡng đời sống thuộc linh của mình.
Không có gì sai khi sử dụng những nguồn tài liệu khác để tăng trưởng trong sự hiểu biết và tình yêu đối với Đức Chúa Trời cùng dân sự Ngài. Nhưng những nguồn trực tuyến chỉ nên được dùng như phần bổ trợ, chứ không phải nguồn nuôi dưỡng chính. Sự môn đồ hóa chủ yếu của chúng ta, qua sự giảng dạy và rao giảng, phải đến từ Mục sư và các Thánh đồ trong Hội Thánh địa phương nơi chúng ta đã lập giao ước—Hội Thánh nhà của chúng ta.
Vì Sao Chúng Ta Cần Ăn Tại Nhà
Tôi xin đưa ra ba lý do vì sao việc “ăn tại nhà” lại tốt cho Hội Thánh và cho mỗi thánh đồ.
1. Sự nhóm lại thúc đẩy tăng trưởng
Nghe một bài giảng hay trực tuyến chỉ đơn giản là nghe một bài giảng hay. Có thể bạn học được vài điều mới hoặc áp dụng cá nhân, nhưng bạn bỏ lỡ phước hạnh chung khi cùng dân sự Đức Chúa Trời tiếp nhận Lời Ngài.
Khi bạn ngồi dưới sự giảng dạy của mục sư mình, cùng nhóm với các thánh đồ tại Hội Thánh địa phương, bạn có cơ hội để thảo luận, áp dụng, và cùng nhau sử dụng Lời được giảng như công cụ môn đồ hóa lẫn nhau.
Như Hê-bơ-rơ 10:24–25 khuyên dạy: “Chúng ta hãy quan tâm khích lệ nhau về lòng yêu thương và các việc lành. Chớ bỏ sự nhóm lại như mấy kẻ quen làm, nhưng phải khuyên bảo nhau; nếu anh em thấy ngày của Chúa càng gần chừng nào thì càng phải làm như vậy chừng nấy.”
Sự tăng trưởng sâu sắc nhất xảy ra khi các thánh đồ thường xuyên nhóm lại, ngồi dưới sự giảng dạy của người của Đức Chúa Trời được đặt cho bầy địa phương, cùng nhau phục vụ, chiến đấu chống tội lỗi, và cầu nguyện. Nơi nào thiếu điều này, tình trạng suy dinh dưỡng thuộc linh thường xuất hiện.
“Các nguồn tài nguyên trực tuyến chỉ nên được dùng như phần bổ trợ, chứ không phải là nguồn nuôi dưỡng chính yếu.”
2. Sự so sánh dễ sinh bất mãn
Cộng đồng trực tuyến đầy rẫy các Mục sư và Giáo sư Kinh Thánh với đủ loại tính cách và phong cách giảng dạy. Một số thì cuốn hút, nhiệt thành, dễ gần—có lẽ là những điều bạn mong Mục sư mình có. Hoặc có thể Mục sư bạn đã như vậy, nhưng bạn lại thích những người dạy mang tính học thuật, điềm tĩnh và vững vàng.
Tôi không nói rằng chúng ta không bao giờ nên nghe những người dạy khác. Nhưng khi dành quá nhiều thời gian cho một danh sách chọn lọc các Mục sư trực tuyến, chúng ta dễ so sánh Mục sư mình với họ và sinh ra bất mãn với người chăn mà Đức Chúa Trời đã đặt để trên chúng ta (1 Phi-e-rơ 5:1–3), người phải chịu trách nhiệm về linh hồn chúng ta (Hê-bơ-rơ 13:17).
Sự bất mãn trong Hội Thánh có thể khiến việc chăn dắt của mục sư trở thành gánh nặng thay vì niềm vui, và như Hê-bơ-rơ 13:17 nhắc nhở, “điều đó chẳng ích lợi gì cho anh em.”
3. Sự hiệp một dễ dàng mất đi
Ê-phê-sô 4:3 kêu gọi chúng ta: “Cố gắng duy trì sự hiệp nhất của Thánh Linh bằng sợi dây hòa bình.” Vie2010 Câu này ngụ ý rằng sự hiệp một có thể mất đi nếu không có nỗ lực chủ ý.
Hãy tưởng tượng tôi chịu ảnh hưởng nặng từ một Mục sư trên YouTube, người khác lại tìm sự môn đồ hóa từ một nhân vật nổi tiếng trên Instagram, và những người khác nữa thì dựa vào một “chế độ ăn” dày đặc các podcast. Chúng ta có thể bắt đầu đồng hóa mình với một cộng đồng trực tuyến xoay quanh một nhân vật hay một khía cạnh giáo lý, thay vì với cộng đồng hiện hữu trong Hội Thánh địa phương.
Chúng ta có nguy cơ trở nên giống như Hội Thánh Cô-rinh-tô hay tranh cãi, khi có người nói mình thuộc về Phao-lô, kẻ khác thuộc về A-bô-lô, và người khác nữa thuộc về Sê-pha (1 Cô-rinh-tô 1:12–13).
Cuối cùng, chúng ta theo Đấng Christ và hiệp một với các tín hữu khác dưới quyền tể trị của Ngài. Nhưng một cách để giữ sự hiệp một trong thân thể địa phương là dành thời gian và sự chú ý theo Mục sư của mình khi ông theo Đấng Christ, thay vì quá chú tâm theo dõi những người dạy trực tuyến.
Làm Thế Nào Để Ăn Tại Nhà
Chúng ta được tự do tận hưởng ân tứ giảng dạy của những người khác, nhưng sự khôn ngoan kêu gọi sự thận trọng và điều độ. Sau đây là vài cách thực tiễn để biến Hội Thánh địa phương thành nơi phát triển thuộc linh chính yếu của chúng ta:
Lắng nghe chăm chú sự giảng dạy của Mục sư vào ngày Chúa Nhật và trong tuần. Hãy nghe lại bài giảng, cầu xin Đức Thánh Linh giúp bạn hiểu và áp dụng sâu hơn. Thảo luận với các tín hữu khác, thậm chí có thể liên hệ với mục sư để đặt câu hỏi hoặc khích lệ.
Tận dụng những cơ hội khác để ngồi dưới sự giảng dạy tại Hội Thánh địa phương ngoài buổi thờ phượng hằng tuần. Nhiều Hội Thánh có lớp Trường Chúa Nhật, nhóm học Kinh Thánh giữa tuần, buổi cầu nguyện, hoặc nhóm nhỏ.
Nếu bạn nghe các bài giảng hay podcast trực tuyến, hãy chắc chắn rằng người dạy có nền tảng thần học vững chắc, để sự giảng dạy bổ trợ cho sự môn đồ hóa của Hội Thánh bạn chứ không làm suy giảm. Nếu cần giúp đỡ trong việc xác định những Mục sư và Giáo sư đồng quan điểm để nghe, hãy hỏi Mục sư hoặc các Trưởng lão của bạn.
“Chúng ta được tự do tận hưởng ân tứ giảng dạy của những người khác, nhưng sự khôn ngoan kêu gọi sự thận trọng và tiết độ.”
Hỡi các thánh đồ, Hội Thánh địa phương là tổ chức quan trọng nhất trên thế giới. Công nghệ đã đem đến cho chúng ta nguồn tài nguyên phong phú có thể là phước hạnh. Nhưng đừng quên rằng sự cung ứng chính yếu của Đức Chúa Trời cho sự tăng trưởng thuộc linh của chúng ta được tìm thấy trong Hội Thánh địa phương.
Hãy cam kết với một Hội Thánh—thờ phượng tại đó, phục vụ tại đó, dâng hiến tại đó, và lớn lên tại đó. Bởi vì, thật vậy, không nơi nào bằng nhà.
Tác giả: Deborah Jaynene Smith
Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc
Bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của Đội ngũ Ba-rúc.
Một khảo sát các ghi chép Kinh thánh và lịch sử cho thấy có thể đưa ra những kết luận vững chắc về thời điểm trong năm Đấng Cứu Thế ra đời.
Mỗi năm khi Giáng sinh đến gần, chúng ta thường nghe những tuyên bố như thế này:
“Chúa Giê-su không sinh vào ngày 25 tháng 12.”
“Không thể nào như vậy được, vì những người chăn chiên sẽ không để đàn chiên của họ ngoài đồng” (xem Lu-ca 2:8).
“Các tín đồ Cơ Đốc lấy ngày 25 tháng 12 từ một ngày lễ ngoại giáo.”
Mặt khác, người ta đôi khi nghe những lập luận phản bác thế này:
“Chúa Giê-su chắc chắn được sinh ra vào ngày 25 tháng 12.”
“Giáo hội Công giáo nói là Ngài được sinh ra vào ngày đó.”
“Việc phủ nhận điều này là một sự công kích vào Cơ Đốc giáo.”
“Những Cơ Đốc nhân sơ khai chắc hẳn đã cực kỳ quan tâm đến ngày sinh của Chúa Giê-su và chắc hẳn đã ghi chép lại dựa trên ký ức của Đức Mẹ Ma-ri về ngày đó.”
Chúng ta hãy cùng xem xét cả hai nhóm lập luận này.
‘Canh giữ đàn chiên của họ’
Lu-ca nói rằng những người chăn chiên ở ngoài đồng vào ban đêm cùng với đàn chiên của họ, nhưng điều này không loại trừ ngày 25 tháng 12 hay bất kỳ ngày nào khác trong mùa đông.
Người Do Thái cổ đại không có các không gian lớn trong nhà để nuôi nhốt đàn cừu. Các đàn chiên được giữ ngoài trời trong suốt mùa đông ở Giu-đê, cũng như ở những nơi khác trên thế giới ngày nay, kể cả ở những nơi thường có tuyết.
Tìm kiếm trên internet cụm từ “winter sheep care” (chăm sóc cừu vào mùa đông) và bạn sẽ tìm thấy các trang web của những người nuôi cừu hiện đại giải thích rằng việc giữ đàn chiên ngoài trời vào mùa đông là hoàn toàn ổn. Loài cừu đã thích nghi với cuộc sống ngoài trời. Đó là lý do tại sao chúng có lông cừu, thứ giữ nhiệt cơ thể bên trong và chống ẩm bên ngoài.
Cừu được chăn giữ ngoài trời ở Israel trong mùa đông ngay cả ngày nay:
William Hendricksen trích dẫn một bức thư đề ngày 16 tháng 1 năm 1967, nhận được từ học giả Tân Ước Harry Mulder, lúc đó đang giảng dạy ở Beirut, trong đó người sau kể lại việc có mặt tại Cánh đồng Chiên tại Bết-lê-hem vào đêm Giáng sinh vừa qua, và nói: “Ngay gần chúng tôi, một vài đàn chiên đang nép mình nghỉ ngơi. Ngay cả những con cừu non cũng không thiếu. . . . Do đó, chắc chắn không phải là không thể Chúa Giê-su sinh vào tháng Mười Hai.” (Jack Finegan, Handbook of Biblical Chronology, 2nd ed., §569).
Lập luận về ngày lễ ngoại giáo
Liệu các tín đồ Cơ Đốc có quyết định kỷ niệm sinh nhật Chúa Giê-su vào ngày 25 tháng 12 để tạo ra một sự thay thế cho một lễ hội ngoại giáo phổ biến?
Một số tín đồ Cơ Đốc làm điều tương tự ngày nay với các ngày lễ thánh khác. Vì những âm hưởng rùng rợn mà lễ Halloween có trong văn hóa của chúng ta, một số nhà thờ Tin Lành tổ chức lễ “Lễ Mùa Gặt (Lễ Lều Tạm)” (Harvest Festival) hoặc “Ngày Cải cách” (Reformation Day) vào ngày 31 tháng 10 để mang đến cho giới trẻ một sự thay thế lành mạnh, vì vậy không phải là không thể những Cơ Đốc nhân thuở ban đầu đã làm điều tương tự.
Nhưng các lập luận cho rằng các ngày lễ Cơ Đốc có nguồn gốc ngoại giáo là thiếu thuyết phục. Ví dụ, lập luận rằng lễ Phục sinh có nguồn gốc ngoại giáo dựa trên một nguồn gốc từ ngữ mơ hồ cho từ tiếng Anh Easter mà người ta cho rằng dựa trên tên của một nữ thần Giéc-manh mà thậm chí chúng ta không có bất kỳ ghi chép nào khác về bà.
Hơn nữa, lễ Phục sinh không bắt đầu ở Anh. Nó được tổ chức khắp thế giới Cơ Đốc giáo, và trong hầu hết các ngôn ngữ, tên gọi của nó bắt nguồn từ Pesakh—từ tiếng Hê-bơ-rơ dùng cho Lễ Vượt Qua—vì Chúa Giê-su bị đóng đinh vào dịp Lễ Vượt Qua. Do đó, bất kể nó được gọi là gì ở các quốc gia riêng lẻ, nó có nguồn gốc Do Thái.
Để duy trì lập luận rằng Giáng sinh dựa trên một ngày lễ ngoại giáo, người ta sẽ cần phải làm hai việc: (1) xác định ngày lễ ngoại giáo mà nó thay thế, và (2) chứng minh đây là chủ ý của những Cơ Đốc nhân đã giới thiệu Giáng sinh vào ngày 25 tháng 12.
Một số người đã tuyên bố Giáng sinh dựa trên ngày lễ hội nông nghiệp Saturnalia của người La Mã, một lễ hội của thần Saturn. Tuy nhiên, ngày lễ này được tổ chức vào ngày 17 tháng 12, và mặc dù sau đó nó được mở rộng để bao gồm những ngày trước ngày 23 tháng 12, nó đã kết thúc trước ngày 25 tháng 12. Một lễ kỷ niệm Cơ Đốc giáo vào ngày sau đó sẽ không thay thế Saturnalia.
Một ứng cử viên sáng giá hơn là Sol Invictus (tiếng Latin, “Mặt trời Bất bại”), được tổ chức vào ngày 25 tháng 12. Tuy nhiên, ghi chép sớm nhất mà chúng ta có có thể chỉ ra việc nó được tổ chức vào ngày đó thì muộn và mơ hồ.
Biên niên sử Cơ Đốc giáo năm 354 (Chronography of A.D. 354) ghi lại rằng “Sinh nhật của Đấng Bất bại” được tổ chức vào ngày đó trong năm 354, nhưng danh tính của “Đấng Bất bại” là không rõ ràng. Vì đây là một tài liệu Cơ Đốc giáo mà ở những chỗ khác liệt kê ngày sinh của Chúa Giê-su là ngày 25 tháng 12, nên đó có thể là Đấng Christ Bất bại—chứ không phải mặt trời—và sự ra đời của Ngài được kỷ niệm.
Ngay cả khi Giáng sinh và lễ Sol Invictus đều diễn ra vào ngày 25 tháng 12, Giáng sinh là cơ sở cho Sol Invictus, hoặc ngược lại, hoặc đó chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Nếu bạn muốn tuyên bố ngày của Sol Invictus là cơ sở cho Giáng sinh, bạn cần bằng chứng.
Nhưng khó mà kiếm được bằng chứng. Ngay cả khi Biên niên sử năm 354 đề cập đến việc Sol Invictus được tổ chức vào ngày 25 tháng 12, đây là ghi chép đầu tiên về sự kiện đó, và—như chúng ta sẽ thấy bên dưới—một số Cơ Đốc nhân đã tin rằng Chúa Giê-su sinh vào ngày đó trong một thời gian dài trước đó rồi.
Nếu các Cơ Đốc nhân đang ngầm phá hoại Sol Invictus, chúng ta lẽ ra phải tìm thấy các Giáo phụ nói rằng, “Hãy cung cấp một lễ kỷ niệm thay thế.” Nhưng chúng ta không tìm thấy. Các Giáo phụ kỷ niệm ngày 25 tháng 12 và họ thực lòng nghĩ đó là ngày Chúa Giê-su ra đời.
Và ngay cả khi Giáng sinh được định thời gian để ngầm phá hoại một ngày lễ ngoại giáo, thì sao? Giáng sinh là lễ kỷ niệm sự ra đời của Chúa Giê-su Christ, và kỷ niệm sự ra đời của Đấng Christ là một điều tốt lành. Ngầm phá hoại tà giáo thì cũng vậy thôi. Nếu các Cơ Đốc nhân sơ khai đang làm cả hai, chẳng có gì to tát cả!
Tuy nhiên, xét cho cùng, bằng chứng không ủng hộ lập luận đó. Giáo hoàng Benedict XVI đã nói: Tuyên bố từng được đưa ra rằng ngày 25 tháng 12 phát triển nhằm đối lập với truyền thuyết Mithras, hoặc như một phản ứng của Cơ Đốc giáo đối với sự sùng bái mặt trời bất bại được thúc đẩy bởi các hoàng đế La Mã vào thế kỷ thứ ba trong nỗ lực của họ nhằm thiết lập một tôn giáo đế quốc mới. Tuy nhiên, những lý thuyết cũ này không còn có thể được duy trì nữa. (The Spirit of the Liturgy, 107-108).
Không phải là vấn đề về giáo lý
Còn về khẳng định rằng Giáo hội Công giáo tuyên bố Chúa Giê-su sinh vào ngày 25 tháng 12 thì sao?
Điều này không đúng sự thật. Giáo hội kỷ niệm sự ra đời của Chúa Giê-su vào ngày 25 tháng 12, nhưng điều này không có nghĩa là một tuyên bố rằng Ngài sinh vào ngày đó.
Lễ kỷ niệm phụng vụ của một sự kiện không có nghĩa là Giáo hội cho rằng nó xảy ra vào ngày đó. Ví dụ, ngày một vị thánh được kỷ niệm thường là ngày ngài qua đời, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Lễ tưởng niệm Thánh Ambrose là vào ngày 7 tháng 12, mặc dù ngài qua đời vào ngày 4 tháng 4.
Người ta sẽ tìm thấy các tài liệu của Giáo hội đề cập đến lễ kỷ niệm phụng vụ sự ra đời của Chúa Giê-su vào ngày 25 tháng 12, nhưng người ta sẽ không tìm thấy bất kỳ tài liệu giáo huấn chính thức nào thiết lập nó như một giáo lý của Giáo hội rằng đây là ngày Ngài sinh ra.
Mặc dù sự ra đời của Ngài có ý nghĩa sâu sắc đối với đức tin của chúng ta, nhưng ngày cụ thể nó xảy ra là một vấn đề lịch sử hơn là giáo lý, và các tín đồ Cơ Đốc không cần phải lo lắng về ý tưởng Ngài sinh vào một ngày khác.
Sự công kích vào Cơ Đốc giáo?
Liệu tuyên bố cho rằng Chúa Giê-su sinh vào một ngày khác có phải là một sự công kích vào Cơ Đốc giáo?
Đúng là một số người đưa ra tuyên bố này muốn phỉ báng hoặc làm suy yếu Cơ Đốc giáo, nhưng không phải ai cũng có động cơ này. Có những tín đồ Cơ Đốc chân chính tranh luận rằng Chúa Giê-su sinh vào một ngày khác. Một số thậm chí đã bị mắc lừa bởi lập luận ngày lễ ngoại giáo và đang tìm cách bảo vệ Cơ Đốc giáo khỏi bị vấy bẩn bởi các liên kết ngoại giáo.
Đôi khi những người bảo vệ ngày 25 tháng 12 lập luận rằng các Cơ Đốc nhân sơ khai chắc hẳn đã cực kỳ quan tâm đến ngày sinh của Chúa Giê-su, và do đó—dựa trên ký ức của Đức Mẹ Ma-ri về ngày đó—họ chắc hẳn đã ghi chép lại. Làm sao họ lại có thể không làm như vậy được?
Có những vấn đề lớn với lập luận này. Các tín đồ Cơ Đốc đã tò mò về nhiều điều liên quan đến Chúa Giê-su mà chúng ta không có ghi chép đáng tin cậy.
Các sách Phúc Âm là những ghi chép đáng tin cậy nhất của chúng ta, nhưng chi phí sản xuất sách quá lớn vào thời điểm đó có nghĩa là các Tác giả Phúc Âm chỉ ghi lại những chi tiết họ coi là quan trọng nhất. Do đó, các Phúc Âm không cho chúng ta biết ngày hay thậm chí năm sinh của Ngài. Ngoại trừ sự kiện Tìm thấy Ngài trong Đền thờ (Lu-ca 2:41-51), họ không cho chúng ta biết điều gì đã xảy ra trong thời thơ ấu của Ngài, và họ hoàn toàn không nói gì về vẻ ngoài của Ngài.
Các Cơ Đốc nhân sau này tò mò về tất cả những điều này, nhưng việc các Tác giả Phúc âm không ghi lại chúng cho thấy rằng họ không coi chúng là thiết yếu để chúng ta cần biết.
Một lý do họ có lẽ đã không coi ngày sinh nhật Chúa Giê-su là quan trọng là vì việc tổ chức sinh nhật không phải là một tập quán phổ quát của con người. Nhiều nền văn hóa có thái độ khác nhau đối với thời gian và tuổi tác, và trong thế kỷ XX, các học giả phương Tây làm việc với người Trung Đông nghèo có thể ngạc nhiên về việc họ không có ý niệm rõ ràng về tuổi của mình.
Về mặt lịch sử, văn hóa Do Thái đã không rõ ràng về việc tổ chức sinh nhật, với một số Rabbi (thầy thông giáo) lập luận rằng chúng không nên được tổ chức chút nào, lý luận rằng làm như vậy là một tập quán dân ngoại hoặc thậm chí là thờ hình tượng. Một số chỉ ra thực tế rằng, trong Kinh Thánh Sách Hê-bơ-rơ, sinh nhật duy nhất được tổ chức là của nhân vật độc ác Pha-ra-ôn (Sáng thế ký 40:20).
Các nhà cai trị áp bức khác cũng tổ chức sinh nhật—đôi khi hàng tháng—và mong đợi thần dân của họ cũng làm như vậy. Do đó, trong thời kỳ Ma-ca-bê, “Vào lễ kỷ niệm hàng tháng sinh nhật nhà vua, người Do Thái bị bắt, dưới sự cưỡng ép cay đắng, phải tham gia vào các lễ vật hiến tế” (2 Ma-ca-bê 6:7). Các hoàng đế La Mã cũng có các lễ kỷ niệm công khai sinh nhật của họ, điều này liên quan đến việc thờ hình tượng và thúc đẩy sự ác cảm của người Do Thái đối với tập tục này.
Lễ kỷ niệm sinh nhật duy nhất trong Tân Ước là của vua bù nhìn La Mã Hê-rốt An-ti-pa, và điều đó dẫn đến sự tử vì đạo của Giăng Báp-tít (Ma-thi-ơ 14:1-12).
Do đó, không ngạc nhiên khi thấy các nhà văn Cơ Đốc sơ khai như Origen, khoảng năm 241 SCN, chê bai việc tổ chức sinh nhật:
Không một ai trong tất cả các vị thánh được tìm thấy đã kỷ niệm một ngày lễ hay một bữa tiệc lớn vào ngày sinh của mình.
Không ai được tìm thấy đã vui mừng vào ngày con trai hay con gái mình chào đời.
Chỉ những kẻ tội lỗi mới vui mừng về loại sinh nhật này. Vì quả thật chúng ta thấy trong Cựu Ước có Pha-ra-ôn, vua Ai Cập, tổ chức ngày sinh của mình bằng một lễ hội, và trong Tân Ước, có Hê-rốt. Tuy nhiên, cả hai người họ đều làm ô uế ngày lễ sinh nhật của mình bằng cách đổ máu người.
Vì Pha-ra-ôn đã giết thợ làm bánh, còn Hê-rốt thì giết nhà tiên tri thánh Giăng “trong ngục”.
Nhưng các vị thánh không những không tổ chức lễ hội vào ngày sinh của họ, mà, được đầy dẫy Đức Thánh Linh, họ còn nguyền rủa ngày đó. (Homilies on Leviticus 8:2).
Origen không đơn độc trong Giáo hội sơ khai, và ông minh họa cách các nền văn hóa khác có thể có thái độ rất khác nhau đối với sinh nhật. Do đó, lập luận “làm sao họ có thể không lưu giữ ngày sinh của Chúa Giê-su” là không hiệu quả.
Điều này không có nghĩa là các nguồn Cơ Đốc giáo sơ khai không lưu giữ ngày sinh của Chúa Giê-su, chỉ là không đảm bảo rằng họ đã làm vậy. Do đó chúng ta cần xem xét bằng chứng.
Một lập luận dựa trên Kinh Thánh?
Một số người lập luận rằng, mặc dù Tân Ước không cho chúng ta biết ngày sinh của Chúa Giê-su là ngày nào, nhưng nó chứa đủ thông tin để chúng ta suy luận ra được.
Lập luận diễn ra như sau: Cha của Giăng Báp-tít, Xa-cha-ri là một thầy tế lễ, thuộc ban A-bi-a (Lu-ca 1:5), một trong hai mươi bốn ban tư tế phục vụ theo một lịch luân phiên thường xuyên tại đền thờ. Sau khải tượng loan báo sự thụ thai của Giăng Báp-tít, ông trở về nhà, và vợ ông, Ê-li-sa-bét, mang thai (1:23-25). Sau đó, “trong tháng thứ sáu” của thai kỳ Ê-li-sa-bét, Thiên sứ Gáp-ri-ên hiện ra với Ma-ri và loan báo sự thụ thai của Chúa Giê-su (1:26-31).
Do đó, sự ra đời của Chúa Giê-su sẽ xảy ra mười lăm tháng sau khi việc phục vụ của Xa-cha-ri kết thúc, và nếu chúng ta có thể xác định ngày điều đó xảy ra thì chúng ta có thể xác định ngày sinh của Chúa Giê-su.
Mặc dù nghe có vẻ hấp dẫn, lập luận này không cho phép chúng ta xác định được ngày sinh của Chúa Giê-su.
Thứ nhất, các ban tư tế phục vụ tại đền thờ hai lần một năm, và chúng ta sẽ phải đoán xem Xa-cha-ri đang phục vụ trong đợt nào trong hai đợt đó khi ông nhận được khải tượng. Điều đó tạo ra sự không chắc chắn về sáu tháng.
Thứ hai, các học giả không chắc chắn khi nào mỗi ban tư tế làm nhiệm vụ. Có những đề xuất khác nhau, và vấn đề bị phức tạp bởi thực tế là một số năm Do Thái có một tháng bổ sung (rất giống với năm nhuận của chúng ta) để giữ cho lịch đồng bộ với các mùa.
Thứ ba, lập luận giả định rằng Giăng Báp-tít được thụ thai ngay lập tức sau khi Xa-cha-ri trở về, nhưng Lu-ca không nói điều đó. Ông nói Ê-li-sa-bét mang thai “sau những ngày đó” (1:24).
Thứ tư, lập luận giả định Thiên sứ Gáp-ri-ên hiện ra với Ma-ri đúng sáu tháng sau khi Giăng được thụ thai, nhưng đó cũng không phải là điều Lu-ca nói. Ông nói thiên sứ hiện ra “trong tháng thứ sáu” (1:26, 36)—tức là khi Ê-li-sa-bét mang thai từ năm đến sáu tháng. Điều này tạo ra một sự mơ hồ kéo dài ba mươi ngày.
Thứ năm, lập luận giả định Ma-ri thụ thai ngay lúc Thiên sứ Gáp-ri-ên nói với bà, nhưng Lu-ca không cho biết điều đó. Gáp-ri-ên nói “con sẽ thụ thai” (tiếng Hy Lạp, sullêmpsê)—ở thì tương lai—chỉ ra rằng Chúa Giê-su sẽ được thụ thai trong tương lai nhưng không phải chính xác là khi nào.
Thứ sáu, lập luận giả định Chúa Giê-su ở trong bụng mẹ đúng chín tháng, nhưng thời kỳ mang thai trung bình của con người là khoảng bốn mươi tuần kể từ lần rụng trứng cuối cùng. Cho các tháng có bốn tuần, điều đó sẽ là khoảng mười tháng. Do đó, sách Wisdom có chép: “trong lòng mẹ tôi được nhào nặn thành xương thịt, trong khoảng thời gian mười tháng” (Sách Khôn ngoan 7:1-2). Hơn nữa, thai kỳ trung bình của con người dao động lên tới năm tuần về độ dài, tạo ra sự không chắc chắn kéo dài ba mươi lăm ngày.
Dựa trên những điều không chắc chắn này, lập luận này sẽ không cho phép chúng ta xác định chính xác ngày sự ra đời của Chúa Giê-su.
Tuy nhiên, nó có thể đưa chúng ta đến được một phần của câu trả lời. Dựa trên một phỏng đoán về việc Xa-cha-ri đang thực hiện đợt phục vụ nào trong hai đợt tư tế, Jack Finegan tính toán rằng lập luận sẽ chỉ ra một ngày sinh nằm ở đâu đó giữa tháng Mười Hai và tháng Hai, tạo thêm sự hợp lý—dựa trên bằng chứng Kinh thánh—cho việc Chúa Giê-su sinh vào mùa đông (Handbook of Biblical Chronology, 2nd ed., §473), mặc dù cần phải chỉ ra rằng việc đưa ra phỏng đoán khác về thời gian phục vụ của Xa-cha-ri sẽ chỉ ra một ngày sinh vào mùa hè.
Các Giáo phụ đưa ra ý kiến
Mặc dù Tân Ước không nêu đích danh một ngày cụ thể là ngày sinh của Chúa Giê-su, một số Giáo phụ đã làm như vậy.
Khoảng năm 194 SCN, Clê-men thành Alexandria tuyên bố rằng “từ sự ra đời của Chúa đến cái chết của [hoàng đế] Commodus bao gồm 194 năm một tháng và mười ba ngày” (Miscellanies [Stromateis] 1:21:145:5). Tính toán ngược lại từ vụ ám sát Commodus vào ngày 31 tháng 12 năm 192, điều đó sẽ đặt ngày sinh của Đấng Christ vào ngày 18 tháng 11 năm 3 TCN.
Clê-men cũng báo cáo có một số người cho rằng sự kiện đó xảy ra vào ngày hai mươi lăm của tháng Pachon theo lịch Ai Cập, ngày tương ứng với 20 tháng 5 năm đó (1:21:145:6).
Ông cũng báo cáo thêm rằng một số tín đồ của nhà Ngộ đạo Basilides nói rằng đó là vào ngày hai mươi tư hoặc hai mươi lăm của tháng Pharmouthi theo lịch Ai Cập, ngày tương ứng với 19 hoặc 20 tháng 4 (1:21:146:4).
Như vậy chúng ta thấy rằng, vào cuối thế kỷ thứ hai, một số ngày khác nhau cho ngày sinh của Chúa Giê-su đã được đề xuất.
Khoảng năm 204, Thánh Hippolytus thành Rome viết rằng “sự xuất hiện lần đầu của Chúa chúng ta trong xác thịt, khi ngài được sinh ra tại Bết-lê-hem, là tám ngày trước Kalends của tháng Một, ngày thứ tư [tức là thứ Tư], khi Augustus đang ở năm thứ bốn mươi hai của mình” (tức là năm 3 hoặc 2 TCN) (Commentary on Daniel 4:23:3). Kalends là ngày đầu tiên của tháng, và tám ngày trước ngày 1 tháng Một là 25 tháng 12.
Đây là ghi chép sớm nhất chúng ta có được về việc ngày sinh của Chúa Giê-su là ngày 25 tháng 12. Nó đi trước bảy mươi năm so với thời điểm Hoàng đế Aurelian biến Sol Invictus thành một sự sùng bái La Mã, và nó đi trước 150 năm so với ghi chép sớm nhất được tuyên bố về việc Sol Invictus được tổ chức vào ngày 25 tháng 12—tuyên bố đó dựa trên Biên niên sử năm 354 sau Công nguyên.
Phần 6 của Biên niên sử liệt kê những điều sau đây cho ngày thứ tám trước Kalends của tháng Giêng: “Sinh nhật của Đấng Bất bại, các trò chơi được ra lệnh, ba mươi [cuộc đua ngựa].” Điều này rất có thể là một sự ám chỉ đến một ngày lễ ngoại giáo, nhưng vì lịch này được biên soạn sau sự cải đạo của Constantine, nên điều này không hoàn toàn chắc chắn.
Phần 12 của Biên niên sử, là một lịch kỷ niệm các vị tử đạo, liệt kê như sau: “Tám ngày trước Kalends của tháng Giêng: Sự ra đời của Đấng Christ tại Bết-lê-hem xứ Giu-đê.”
Năm 386, Thánh Gioan Kim Khẩu (Chrysostom) đã giảng một bài thuyết giáo vào ngày 20 tháng 12—tưởng niệm Thánh Philogonius—trong đó ông lưu ý rằng “ngày Đấng Christ sinh ra trong xác thịt” sắp đến trong “khoảng thời gian năm ngày,” tức là ngày 25 tháng 12 (On the Incomprehensible Nature of God 6:23, 30).
Cuối cùng, khoảng năm 408, Thánh Augustine viết rằng “theo truyền thống Ngài [Chúa Giê-su] sinh vào ngày 25 tháng 12” (The Trinity 4:5).
Mặc dù truyền thống ngày 25 tháng 12 đang trở nên vững chắc, nó không phải là ngày duy nhất được lưu hành.
Khoảng năm 375, Thánh Epiphanius thành Salamis đã đưa ra một sự tính toán cực kỳ chính xác về sự ra đời của Đấng Christ, tuyên bố: “Đấng Christ sinh vào tháng Giêng, tức là, vào ngày thứ tám trước Ides của tháng Giêng—theo lịch La Mã thì đây là tối ngày 5 tháng Giêng, vào đầu ngày 6 tháng Giêng” (Panarion 51:24:1).
Ông cũng lưu ý rằng một giáo phái được gọi là Alogoi cũng tổ chức ngày đó (51:29:2-5).
Cuối cùng, cả ngày 25 tháng 12 và 6 tháng 1 đều tìm được chỗ đứng trong lịch của Giáo hội, với ngày sau được dùng để kỷ niệm chuyến viếng thăm của Ba nhà thông thái (Magi) và lễ báp-têm của Chúa Giê-su.
Kết luận Tất cả những điều này đưa chúng ta đến đâu? Một mặt, các lập luận phản đối Chúa Giê-su sinh vào ngày 25 tháng 12 không có hiệu lực, và tuyên bố ngày này được chọn để thay thế một lễ hội ngoại giáo là quan điểm ông thể đồng tình được.
Chúng ta không chỉ thấy các tín đồ Cơ Đốc ủng hộ ngày 25 tháng 12 rất lâu trước ngày lễ ngoại giáo được đề cập, mà chúng ta cũng không thấy họ nói bất cứ điều gì kiểu như, “Hãy cung cấp một lễ kỷ niệm thay thế.” Những người ủng hộ ngày 25 tháng 12 thực lòng tin rằng đó là lúc Chúa Giê-su ra đời.
Mặt khác, Kinh thánh không cung cấp đủ thông tin để chúng ta xác định ngày sinh của Chúa Giê-su, và truyền thống trong các Giáo phụ thì lẫn lộn, với các ngày khác nhau được đề xuất.
Người ta đã lưu ý rằng, trong thế giới cổ đại, hai ngày—25 tháng 12 và 6 tháng 1—đôi khi được tính là ngày đông chí, thời điểm các ngày bắt đầu dài ra.
Hơn nữa, các Giáo phụ đã thảo luận về sự ra đời của Đấng Christ dưới góc độ ánh sáng đến với thế gian, dựa trên lời tiên tri của Ma-la-chi: “Nhưng các con, những người tôn kính danh Ta, mặt trời công chính sẽ mọc lên với sức chữa lành trong tia sáng nó” (4:2).
Do đó, có thể rằng niềm tin Đấng Christ sinh vào ngày đông chí dựa trên lời tiên tri này. Hoặc, có lẽ đã có một ký ức rằng Đấng Christ sinh vào mùa đông, và ngày cụ thể được xác định dựa trên lời tiên tri. Hoặc có thể là Đấng Christ đơn giản đã sinh vào một trong những ngày này, và sự trùng hợp của nó với những tính toán cổ xưa về đông chí là một vấn đề thuộc về sự sắp đặt của Thiên Chúa.
Dù trường hợp là gì đi nữa, Đấng Christ đã giáng sinh. Mặt trời công chính đã mọc lên, và “dân ngồi trong bóng tối đã thấy ánh sáng lớn, và đối với những người ngồi trong vùng và bóng của sự chết, ánh sáng đã rạng” (Ma-thi-ơ 4:16; Ê-sai 9:2).
Thông tin bổ sung
Mặc dù khó xác định ngày Chúa Giê-su ra đời, nhưng có thể xác định được năm.
Một quan điểm phổ biến—mặc dù không chính xác—là Ngài sinh khoảng năm 6-7 TCN. Điều này dựa trên ý tưởng Vua Hê-rốt I qua đời vào năm 4 TCN, và Chúa Giê-su chắc hẳn đã sinh khoảng hai năm trước đó, vì Hê-rốt “giết hết thảy con trai ở Bết-lê-hem và vùng lân cận, từ hai tuổi trở xuống” (Matt. 2:16).
Tuy nhiên, các nghiên cứu đáng tin cậy hơn chỉ ra Hê-rốt qua đời vào năm 1 TCN. Điều này phù hợp với dữ liệu từ các Sách Phúc Âm, vốn chỉ ra Giăng Báp-tít bắt đầu chức vụ của mình “trong năm thứ mười lăm của Sê-sa Ti-be-rơ” (Lu-ca 3:1)—tức là năm 29 SCN—rằng Chúa Giê-su chịu phép báp-têm ngay sau đó, và Ngài bắt đầu chức vụ khi “khoảng ba mươi tuổi” (3:23).
Nếu bạn trừ ba mươi năm từ năm 29 SCN thì—vì không có “năm số không”—bạn sẽ rơi vào năm 2 TCN.
Điều này phù hợp với ngày được đưa ra bởi các Giáo phụ, những người áp đảo đồng thuận rằng ngày sinh của Chúa Giê-su vào năm thứ bốn mươi hai của Sê-sa Au-gút-tơ năm 3 hoặc 2 TCN. (tức là những năm cuối của năm 3 TCN và đầu những năm 2 TCN).
Để biết thêm thông tin về sự ra đời của Chúa Giê-su, hãy xem Jack Finegan, Sổ tay Niên đại Kinh thánh, tái bản lần 2 (Handbook of Biblical Chronology, 2nd ed.), và Andrew Steinmann, Từ Áp-ra-ham đến Phao-lô (From Abraham to Paul).
Tác giả: Jimmy Akin
Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc
Quan điểm của bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.
Cuộc đời có những khoảnh khắc lớn lao, quan trọng, nhưng cũng có vô số khoảnh khắc nhỏ bé tưởng chừng ít quan trọng hơn. Những khoảnh khắc lớn có thể là quyết định kết hôn, nhận một công việc mới, hay chuyển đến một đất nước khác. Chúng ta đều mong muốn đưa ra những quyết định đúng đắn ở những thời điểm then chốt ấy. Quả thật, những điều lớn lao có ý nghĩa rất nhiều. Chọn sai người để kết hôn, hoặc đưa ra quyết định vội vàng, sẽ là một thảm họa.
Thế nhưng, phần lớn cuộc sống không phải xoay quanh những quyết định lớn lao mà là vô số những quyết định nhỏ bé hằng ngày. Tôi sẽ phản ứng thế nào khi bị ai đó chỉ trích? Tôi sẽ đối xử với con cái ra sao khi mệt mỏi và cáu gắt sau một ngày dài làm việc? Tôi sẽ dùng thời gian rảnh để lướt điện thoại hay làm điều gì khác?
Tôi cho rằng, bạn có thể nhận ra rõ ràng tính cách của một người qua những điều nhỏ bé hơn là qua những việc lớn lao. Cách một người đối xử với những người xung quanh khi mệt mỏi hoặc chịu áp lực nói lên rất nhiều về con người ấy.
Bạn có muốn phục vụ Chúa Giê-su cách tốt đẹp không? Điều đó không chỉ là quyết định bước vào chức vụ hay đảm nhận một vai trò quan trọng trong Hội Thánh. Đó là sự trung tín, kiên định trong những việc nhỏ bé hằng ngày, để bày tỏ rằng bạn đang phục vụ Ngài. Những điều ấy bao gồm:
Trở thành người đáng tin cậy. Bạn có phải là người thường xuyên đi trễ? Hay thường xuyên lên kế hoạch rồi lại hủy bỏ? Đây không phải là những thói quen để bào chữa rằng “tôi vốn dĩ là người hay trễ”. Không, đó là dấu hiệu của người không đáng tin. Cơ Đốc nhân phải là người làm đúng những gì mình đã nói. Việc đến đúng giờ như đã hẹn với bạn bè thôi cũng phản ánh sự trung tín.
Giữ lời hứa. Người theo Chúa Giê-su phải để “có thì nói có, không thì nói không”. Dù là lời hứa nhỏ bé cũng quan trọng. Nếu bạn hứa với con rằng sẽ chơi với chúng sau giờ làm thì bạn phải giữ lời. Sẽ là vấn đề nếu bạn hứa sẽ phản hồi một lời mời rồi lại không làm. Cơ Đốc nhân cần gây dựng danh tiếng là người luôn giữ lời.
Sống nhất quán. Tất cả chúng ta đều có thể tỏ ra thân thiện và lịch sự vài giờ vào ngày Chúa nhật. Nhưng thước đo thật sự của tính cách là cách bạn đối xử với những người cùng sống trong nhà. Bạn là người như thế nào khi đang thư giãn?
Tiêu chuẩn để trở thành người lãnh đạo trong Hội Thánh địa phương là trước hết phải là người lãnh đạo trung tín trong gia đình. Nếu bạn trung tín trong những điều nhỏ bé, bạn mới có thể được tin cậy trong những việc lớn lao.
Những điều nhỏ bé thật sự quan trọng. Vậy trong tuần này bạn sẽ phục vụ Chúa Giê-su trong những điều nhỏ bé như thế nào?
Tác giả: Simon van Bruchem
Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc
Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.
Những gì chúng ta hát mỗi Chúa Nhật thực sự rất quan trọng. Dưới đây là cách chúng tôi lựa chọn các bài hát để hát tại Hội Thánh.
Khi Hội Thánh nhóm lại, chúng ta thờ phượng Đức Chúa Trời, và một trong những cách chính yếu để thực hiện điều đó là thông qua bài hát. Chúng ta hát cùng nhau để ghi nhớ Lời Chúa, để đáp lại ân điển của Ngài, và để phản chiếu vinh quang của Ngài. Chúng ta hát để bày tỏ những cảm xúc phù hợp trước các chân lý về Đức Chúa Trời trong Đấng Christ (Thi Thiên 33). Ê-phê-sô 5:19 nói về việc khích lễ lẫn nhau thông qua bài hát, và trong Cô-lô-se 3:16, sự ca hát được gắn liền với lời của Đấng Christ khi chúng ta dạy dỗ và khuyên răn lẫn nhau. Do đó, sự thờ phượng chung không phải là một trải nghiệm cá nhân, mà là điều được chia sẻ bởi tất cả những người cùng nhóm lại.
Để hiện thực hóa những điều này (một cách nhất quán nhất có thể) đòi hỏi sự kết hợp tốt nhất của các bài hát được hội chúng cất lên. Lời bài hát thực sự quan trọng. Với số lượng bài hát giới hạn mỗi tuần, điều quan trọng là những bài hát được chọn lựa phải mang lại tác động mạnh mẽ nhất có thể.
Kết quả là, chúng tôi sử dụng các tiêu chí sau để tuyển chọn và duy trì danh sách các bài hát mà hội thánh của chúng tôi (hội thánh Báp-tít Emmanuel) sẽ hát. Những người dẫn hát sẽ có quyền tự do chọn lựa từ nhóm bài hát này cho bất kỳ tuần nào, phối hợp với người giảng luận, để các bài hát phù hợp với chân lý của phân đoạn Kinh Thánh được giảng dạy.
Tiêu Chí Chung
o Việc lựa chọn bài hát cần thể hiện sự tinh tế, phù hợp với nhiều độ tuổi khác nhau trong hội thánh.
o Dù một số bài hát có thể thu hút một nhóm tuổi nhất định hơn, nhưng sự lựa chọn tổng thể nên phù hợp với đa số các lứa tuổi.
o Mặc dù tôn trọng điểm đầu tiên về việc thu hút với các độ tuổi khác nhau, nhưng chúng ta không nên chọn bài hát dựa trên thể loại, mà phải dựa trên nội dung. Các bài hát không được “đặc cách” lựa chọn hay loại bỏ chỉ vì chúng cũ hay mới. Một bài thánh ca cổ cần được đánh giá kỹ lưỡng như một bài điệp khúc mới.
o Chúng tôi trân trọng cả sự đơn giản lẫn phức tạp trong chân lý thần học hoặc giáo lý. Một bài như Jesus, Strong and Kind (Chúa Giê-su, Đấng Mạnh Mẽ và Nhân Từ) sẽ truyền tải theo cách đơn giản hơn, trong khi O Sacred Head Now Wounded (Ôi, Đầu Chúa Thánh Nay Bị Mão Gai) rõ ràng là phức tạp hơn. Cả hai đều có vị trí riêng.
o Lời bài hát cần phải rõ ràng nhất có thể. Lời bài hát mơ hồ hoặc các cụm từ có thể bị mỗi người diễn giải một cách quá khác biệt sẽ thường không giúp ích cho sự thờ phượng chung của hội chúng. Ngoài ra, chúng tôi sẽ thận trọng khi chọn các bài hát diễn tả những cảm xúc hoặc trải nghiệm cụ thể mà một số thành viên trong Hội Thánh có thể chưa bao giờ cảm nhận hoặc trải qua. Chúng tôi sẽ lưu tâm đến những hoàn cảnh khác nhau của hội chúng và cách mà một số từ ngữ hoặc cụm từ nhất định có thể được hiểu.
o Ngay cả khi một bài hát chỉ có một hoặc hai dòng có vẻ có vấn đề, thì có lẽ tốt hơn là nên tìm một bài hát khác phù hợp hơn để sử dụng. Với cơ hội ca hát hạn chế trong mỗi tuần và suốt cả năm, chúng tôi muốn có được những bài hát chất lượng nhất để cùng nhau thờ phượng.
o Nội dung cần được coi trọng hơn sở thích âm nhạc cá nhân nhiều nhất có thể. Một bài hát mà cá nhân ai đó thực sự thích thì vẫn cứ là bài hát họ thích, nhưng nó có thể không phù hợp nhất cho sự thờ phượng chung tại Emmanuel.
Những Câu Hỏi Cụ Thể
Chân lý
o Bài hát này đang nói hoặc dạy điều gì? Kinh Thánh có nêu rõ điều tương tự không?
o Bài hát đang nói điều gì về Đức Chúa Trời? Điều đó có đúng không? Nó có đang diễn đạt điều đó theo đúng chuẩn mực Kinh Thánh không?
o Bài hát đang nói điều gì về chúng ta? Điều đó có đúng không? Nó có đang diễn đạt điều đó theo đúng chuẩn mực Kinh Thánh không?
o Bài hát có diễn giải sai Kinh Thánh hay giúp chúng ta hiểu Kinh Thánh không? Nó có áp dụng sai điều gì từ Cựu Ước sang Tân Ước hay đời sống ngày nay không?
Con người
o Bài hát này có nói những điều dễ khiến mọi người diễn giải sai hoặc hiểu lầm không? Có ngôn ngữ thơ ca/ẩn dụ nào khó nắm bắt hoặc khó giải nghĩa không?
o Bài hát này sẽ được đón nhận thế nào bởi nam giới? Phụ nữ? Trẻ em? Người cao tuổi? Liệu tất cả các nhóm tuổi có thể hát trọn bài này với tấm lòng trọn vẹn không?
Trải nghiệm
o Bài hát này tác động đến cảm xúc của chúng ta như thế nào? Nó có làm điều đó một cách phù hợp không?
o Bài hát có mô tả những trải nghiệm mà hầu hết chúng ta có thể/nên có sự đồng cảm/ sự liên hệ không?
o Nó có nói lên những điều mà hầu hết mọi người trong hội thánh có thể/nên hát một cách trung thực/hết lòng không?
o Đây có phải là bài hát (chỉ) nói về trải nghiệm của sự thờ phượng, hay nó là bài hát thực sự thờ phượng Chúa/dạy dỗ/khuyên răn?
Âm nhạc & Nghệ thuật
o Bài này có dễ hát không? Nó có bị nhảy quãng cách đột ngột không? Âm nhạc có tôn lên lời hát không, và chúng ta có cần điều chỉnh gì so với các bản thu âm hiện có không? Có đoạn nhạc dạo nào quá dài mà chúng ta muốn cắt bớt không?
o Bài hát có được viết một cách xuất sắc và chỉn chu không?
o Lời bài hát có “mạch lạc” dễ hiểu không, hay chúng chỉ ghép nối những cụm từ hoa mỹ lại theo cách khiến người ta hoang mang không hiểu mình vừa hát cái gì?
Mục đích
o Tại sao chúng ta muốn hát bài này? Có phải vì nó phổ biến và bắt tai, hay nó thực sự phục vụ cho hội chúng?
o Bài hát này đạt được các mục đích theo Ê-phê-sô 5:18-20 và Cô-lô-se 3:16 như thế nào? Về lâu dài, việc hát bài hát này sẽ định hình chúng ta thành một hội thánh ra sao?
o Bài hát này phù hợp thế nào trong danh mục bài hát của chúng ta? Nó có cân bằng/bổ trợ cho các bài hát khác mà chúng ta hát không?
Trong khi nỗ lực hết mình để trung tín với Chúa và Lời Ngài, chúng tôi nhận ra rằng sự thờ phượng chân thật rốt cuộc là một sự kiện siêu nhiên: chúng ta được Đức Chúa Cha kéo đến gần Ngài hơn thông qua Cứu Chúa Giê-xu để dâng lên Ngài bông trái của môi miệng (Giăng 4:23, Hê-bơ-rơ 8:1-2, 10:19-22, 13:15). Cầu xin Chúa ban phước cho những nỗ lực của chúng ta, làm vinh hiển danh Ngài giữa chúng ta khi chúng ta thờ phượng Ngài bằng tâm thần và lẽ thật.
Tác giả: Chris Hutchison
Nội dung bài viết được biên soạn lại đôi chút vào ngày 12/11/2025 từ một tài liệu đã được ban thờ phượng của chúng tôi thông qua vào năm 2023.
Chuyển ngữ: Đội ngũ Ba-rúc.
Quan điểm bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của đội ngũ Ba-rúc.